Bước tới nội dung

Lực lượng Vũ trang Singapore

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Lực lượng Vũ trang Singapore
Tập tin:Crest of Singapore Army.svg
Quân hiệu Lực lượng Vũ trang Singapore
Tập tin:Singapore Armed Forces flag.svg
Quân kỳ Lực lượng Vũ trang Singapore
Khẩu hiệu
  • Yang Pertama dan Utama
    The First and Foremost (tiếng Anh)
Thành lập9 tháng 8 năm 1965; 60 năm trước (1965-08-09)[1]
Tổ chức hiện tại15 tháng 6 năm 1972; 54 năm trước (1972-06-15)[2]
Các quân chủng
Sở chỉ huy Singapore
Lãnh đạo
Tổng thống Singapore Tharman Shanmugaratnam
Thủ tướng Hoàng Tuần Tài
Bộ trưởng Quốc phòng Trần Chấn Thanh
Tổng trưởng Tam quân Phó đô đốc Mạnh Diệu Thành
Sĩ quan trưởng Lực lượng Vũ trang Singapore Chánh chuẩn úy Chua Hock Guan
Nhân lực
Tuổi nhập ngũ17 với sự đồng ý của cha mẹ, 18 không cần sự đồng ý của cho mẹ và phục vụ chiến đấu
Cưỡng bách tòng quân22–24 tháng[3]
Số quân tại ngũ51.000[3]
Số quân dự bị252.500[3]
Phí tổn
Ngân sách23,4 tỷ đô la Singapore (FY2025)[4] USD17.46 billion
Công nghiệp
Nhà cung cấp nội địa
Nhà cung cấp nước ngoài
Bài viết liên quan
Lịch sửLịch sử quân sự của Singapore
Quân hàmQuân hàm Lực lượng Vũ trang Singapore

Lực lượng vũ trang Singapore là lực lượng quân sự chính quy của Singapore, gồm bốm quân chủng Lục quân, Không quân, Hải quân và Lực lượng Kỹ thuật số và Tình báo. Đa số các lính trong Lực lượng vũ trang Singapore là những người phục vụ theo nghĩa vụ bắt buộc. Thời gian phục vụ trong quân ngũ theo luật định là 24 tháng. Lực lượng vũ trang Singapore có khoảng 72.500 người đang phục vụ trực tiếp và có thể huy động trên 300.000 người thuộc dự bị cho quốc phòng của Singapore. Tổng thống Singapore là tổng tư lệnh Lực lượng Vũ trang Singapore. Trên thực tế, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng chịu trách nhiệm điều hành và quản lý quân đội. Ngoài ra còn có Tư lệnh Quốc phòng (tương đương Tổng Tham mưu trưởng) phụ trách chuyên môn quân sự.

Chính sách quốc phòng

[sửa | sửa mã nguồn]

Ngăn chặn và ngoại giao là nguyên tắc cơ bản trong chính sách quân sự của Singapore. Theo năm tháng, quân đội đã được phát triển và mở rộng mối liên kết với các lực lượng vũ trang của nhiều nước. Trong những năm gần đây, quân đội Singapore đã có sự tăng lên đáng kể các hoạt động gìn giữ hòa bình và làm nhiệm vụ quốc tế, đáng chú ý là các hoạt động gìn giữ hòa bình ở Đông Timor và Persian Gulf, hay các hoạt động cứu trợ thảm họa do dư trấn của trận động đất gây nên sóng thầnẤn Độ Dương năm 2004, Trận động đất Sumatra năm 2005 và trận động đất Yogyakarta năm 2006 ở Indonesia.

Nhân lực

[sửa | sửa mã nguồn]

Quân đội Singapore có 72.500 quân thường trực, 90 xe tăng chiến đấu chủ lực, 500 xe tăng hạng nhẹ, 1.200 xe thiết giáp, 200 pháo, 130 máy bay chiến đấu (bao gồm các máy bay F-16, F-15, F-5, A-4...), 6 tàu chiến tàng hình Lafayette, một số tàu tuần tra, 6 tàu ngầm.

Quan hệ quốc phòng với các nước

[sửa | sửa mã nguồn]

Singapore là thành viên của nhóm gồm 5 nước Vương quốc Anh, Australia, New Zealand, và Malaysia. Singapore luôn ủng hộ mạnh mẽ sự hiện diện của lực lượng quân sự Hoa Kỳ ở vùng Châu Á - Thái Bình Dương. Năm 1990, Hoa Kỳ và Singapore đã ký một bản ghi nhớ sơ bộ cho phép Hoa Kỳ quyền sử dụng các cơ sở tại Paya Lebar Airbase và tại cảng Sembawang của Singapore. Theo thỏa thuận này, một đơn vị quân đội trong lực lượng Hải quân Hoa Kỳ đã được thiết lập ở Singapore vào năm 1992; các máy bay chiến đấu Hoa Kỳ được triển khai theo định kỳ đến Singapore cho việc diễn tập và một tàu quân sự của Hoa Kỳ cũng thường xuyên đến Singapore. Thỏa thuận trên đã được sửa đổi vào năm 1999 cho phép các tàu Hải quân Hoa Kỳ đậu ở Cơ sở Hải quân Changi, việc này được hoàn thành vào đầu năm 2001.

Các nguồn lực quốc phòng của Singapore cũng được sử dụng cho các nhiệm vụ cứu trợ nhân đạo quốc tế. Các nhiệm vụ này bao gồm nhiệm vụ gìn giữ hòa bình của Liên Hợp Quốc ở nước ngoài như Kosovo, KuwaitĐông Timor,[5],tham gia lực lượng đa quốc gia ở Iraq,[6] giữ các trang thiết bị quân sự và con người đến hỗ trợ cho công việc hỗ trợ nhân đao khắc phục hâu quả thiên tai ở Hoa Kỳ sau cơn Bão Katrina, thiết lập các cơ sở y khoa hỗ trợ người Afghan.[7]

Tham khảo

[sửa | sửa mã nguồn]
  1. "History". MINDEF Singapore. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 10 năm 2021. Truy cập ngày 9 tháng 10 năm 2021.
  2. "Singapore Armed Forces Act". Singapore Statutes Online. Truy cập ngày 9 tháng 10 năm 2021.
  3. 1 2 3 International Institute for Strategic Studies (ngày 15 tháng 2 năm 2023). The Military Balance 2023. London: Routledge. tr. 286–287. ISBN 9781032508955.
  4. Anne-Lim, Ry (ngày 18 tháng 2 năm 2025). "Budget 2025: Singapore expects S$6.8 billion surplus in FY2025". Business Times. Truy cập ngày 18 tháng 2 năm 2025.
  5. "Peacekeepers: In the Service of Peace". Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 12 năm 2005. Truy cập ngày 1 tháng 5 năm 2006.
  6. "Singapore to send 192 military personnel to Iraq". Agence France Presse. October 27, 2003. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 9 năm 2008. Truy cập ngày 22 tháng 8 năm 2007. {{Chú thích báo}}: Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |date= (trợ giúp)
  7. Ashraf Safdar (ngày 16 tháng 5 năm 2007). "SAF to provide medical aid, set up dental clinic in Afghanistan". Channel NewsAsia. Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 12 năm 2008. Truy cập ngày 22 tháng 8 năm 2007.

Liên kết ngoài

[sửa | sửa mã nguồn]