Liên Xô chiếm Đông Ba Lan (1939)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm
Liên Xô đánh chiếm Đông Ba Lan
Một phần của Chiến tranh thế giới thứ hai
Lviv 1939 Sov Cavalry.jpg
Hồng quân Liên Xô diễu hành tại Lviv (Lemberg) 1939
Thời gian17 tháng 9 1939
Địa điểm
Kết quả Liên Xô thu hồi lãnh thổ Tây Ucraina và Tây Belarus (bị Ba Lan chiếm vào năm 1921).
Thành phố Vilnius (Ba Lan chiếm của Litva năm 1919) được trao trả cho Litva.
Tham chiến
Ba Lan Ba Lan
  • 20.000 binh lính quân đội biên phòng
  • 300 - 400 ngàn quân đóng trong nội địa
  • Liên Xô Liên Xô
  • 620.000–800.000 binh lính
  • 4.700 xe tăng
  • 3.300 máy bay
  • Chỉ huy và lãnh đạo
    Ba Lan Edward Rydz-Śmigły Liên Xô Michail Kowaliow (Mặt trận Belarus),
    Liên Xô Semjon Timoschenko (Mặt trận Ukraina)
    Thương vong và tổn thất
    3.000 – 7.000 chết và mất tích
    20.000 bị thương
    230.000 – 452.500 tù binh chiến tranh[1]
    737 người chết và 1.862 bị thương (số liệu của Liên Xô)[2][3]
    3.000 chết và 10.000 bị thương (ước tính của Ba Lan)[4]

    Liên Xô chiếm Đông Ba Lan (theo quan điểm của Phương Tây, Ba Lan, Đức[5]) hoặc Chiến dịch giải phóng miền Tây Ucraina và Belarus, Chiến dịch thu hồi lãnh thổ Ucraina và Belarus (theo cách gọi tại Nga, UcrainaBelarus, vì miền Đông Ba Lan khi đó vốn là lãnh thổ của Ucraina và Belarus nhưng bị Ba Lan chiếm vào năm 1921) bắt đầu ngày 17 tháng 9 năm 1939, vào lúc 3:00 giờ sáng với sự đổ quân Liên Xô vào Đông Ba Lan. Việc này xảy ra sau khi Liên Xô và Đức Quốc xã ký Nghị định thư Phụ lục Bí mật thuộc Hiệp ước Xô-Đức vào ngày 23 tháng 8 năm 1939 và sau cuộc tấn công của quân đội Đức Quốc xã vào ngày 1 tháng 9 năm 1939, theo Phụ lục này thì Đức chấp nhận việc Liên Xô giành lại các lãnh thổ mà Ba Lan đã chiếm của Nga vào năm 1921.

    Trong năm 1939, tổng số lãnh thổ mà Liên Xô giành được (kể cả khu vực được giao cho Litva và sáp nhập vào 1940 thành Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô viết Latvia, là 201.015 km vuông, với một dân số là 13,299 triệu, trong đó có 5,274 triệu người Ba Lan và 1,109 triệu người Do Thái.[6]

    Josef Stalin tuyên bố việc tấn công của quân đội Liên Xô vào nước Đệ Nhị Cộng hòa Ba Lan là để bảo vệ người Ukrainangười Belarus sống trên lãnh thổ Ba Lan. Hồng quân ít gặp khánh cự vì những đội quân Ba Lan phần lớn đã đầu hàng hoặc rã ngũ, trong khi người dân Ucraina và Belarus tại đây đã hoan nghênh việc Hồng quân đánh đuổi ách chiếm đóng của Ba Lan suốt 18 năm qua.

    Các cường quốc phương Tây Vương quốc AnhĐệ Tam Cộng hòa Pháp đã tuyên bố sẽ hỗ trợ Ba Lan trong trường hợp nước này bị một cường quốc Âu Châu khác xâm chiếm. Tuy nhiên trong một phụ lục bí mật của bản tuyên bố này, cường quốc đó được định nghĩa là Đức Quốc xã, cho nên bản tuyên bố này không có hiệu lực với trường hợp Liên Xô tấn công Ba Lan. Các nước này cũng không ra tuyên bố ngoại giao phản đối chiến dịch của Liên Xô.

    Bối cảnh[sửa | sửa mã nguồn]

    Các lãnh thổ mà Ba Lan chiếm của Nga năm 1921 được tô màu hồng. Màu xanh lá là đường Curzon, đường biên giới truyền thống giữa Đế chế Nga và Ba Lan

    Trong Thế chiến I, Đế chế Nga sụp đổ, Ba Lan giành độc lập sau đó. Tại hội nghị tại Paris, đại diện của chính phủ Anh là George Curzon đề nghị một biên giới giữa Nga và Ba Lan, gọi là đường Curzon, được lập ra dựa trên tỷ lệ sắc tộc tại mỗi vùng đất. Tuy nhiên đề nghị này đã không được chấp nhận bởi Ba Lan.

    Cho nên nó dẫn tới cuộc chiến tranh Ba Lan-Ukraina (1918–1920), rồi Chiến tranh Nga-Ba Lan (1919-1921), trong đó Ba Lan đã cố gắng mở rộng lãnh thổ bằng cách đánh chiếm miền Tây Ukraina và Tây Belarus. Trong Hiệp ước Riga 1921, Ba Lan đã giành được khoảng 200.000 km2 lãnh thổ thuộc Tây Ukraine và Tây Belarus, mặc dù một phần lớn dân số tại đó không phải là người Ba Lan. Ngoài ra, Ba Lan còn chiếm đóng các khu vực xung quanh thủ đô Vilnius của Litva, mà họ gọi Wilna, cai quản nó cho tới 1939.

    Sau năm 1921, khoảng 6 triệu dân Belarusia và Ukraina (là người gốc Nga) đã nằm dưới sự chiếm đóng của Ba Lan[7]. Người Ukraine ở Galicia đã sớm tổ chức kháng chiến chống lại Ba Lan, tiến hành đốt phá các trang ấp Ba Lan và tấn công các chính trị gia Ba Lan. Năm 1929, tại Vienna đã thành lập Tổ chức Quốc Dân Ukraine (OUN), gồm nhiều thanh niên Galicia. Đại tá Yevhen Konovalev (1891-1938) đã biến nó một phong trào quân sự ngầm có kỷ luật, và năm 1930 đã tiến hành các cuộc tấn công vào các tổ chức Ba Lan, các quan chức và các chủ đất, và những người Ukraina cộng tác với Ba Lan. Chính phủ Ba Lan phản ứng bằng cách đẩy mạnh các vụ bắt giữ và các chính sách dân tộc cực đoan hơn. Các chính sách của Ba Lan đối với phía Ukraine và dân tộc thiểu số khác bị coi là "hoàn toàn mang tính đàn áp", nhưng nó đã củng cố sự thống trị của Ba Lan cho đến đầu Thế chiến II và tạo ra sự khuất phục của phần lớn người Ukraine tại vùng này[8]

    Sau cái chết của Jozef Pilsudski, chính sách của Ba Lan tiếp tục với lập trường đối đầu với Liên Xô. Ba Lan khi đó được lãnh đạo bởi một số sĩ quan từ Quân đoàn Ba Lan đã chiến đấu chống lại Nga trong Thế chiến thứ nhất, do vậy chính sách của Ba Lan dần chuyển sang thân thiện với Đức Quốc xã và đối đầu với Liên Xô. thậm chí Ba Lan còn nuôi ý định sẽ tiếp tục tấn công Liên Xô, chiếm trọn cả hai nước BelarusUcraina để tái lập lại lãnh thổ của Đế chế Ba Lan vào thời hoàng kim ở thế kỷ 16, từ đó vươn lên thành cường quốc châu Âu. Phía Liên Xô thì luôn nung nấu ý định thu hồi lại những đất đai mà Ba Lan đã chiếm của họ.[7]

    Giáo sư Michael Jabara Carley của Đại học Montreal (Canada) cho rằng: “Trong thập niên 1930, Ba Lan đóng vai trò của kẻ phá bĩnh. Đó là một chính thể cực hữu rất giống kiểu độc tài, bài Do Thái và có cảm tình với chủ nghĩa phát xít. Năm 1934, khi Liên Xô cảnh báo về Hitler, Ba Lan đã ký ngay một hiệp ước không xâm lược lẫn nhau với Đức ở Berlin. Vậy ai đâm sau lưng ai? Trong khi kết tội phía Liên Xô đưa quân vào "lãnh thổ của Ba Lan", một số sử gia phương Tây bắt đầu mắc chứng “mất trí nhớ”, và quên rằng chính các lãnh thổ này - Tây UkraineTây Belarus - đã bị Ba Lan chiếm của Nga trong cuộc Chiến tranh Nga-Ba Lan từ năm 1919-1921. Cuộc chiến này do Ba Lan đơn phương phát động để chống lại nước Nga Xô viết - lúc đó đã tan hoang vì nội chiến”. Ông nhấn mạnh: "Cho đến năm 1939, Ba Lan đã làm tất cả những gì có thể để phá hoại các nỗ lực của Liên Xô trong việc xây dựng một liên minh chống chủ nghĩa Quốc xã, dựa trên liên minh chống Đức từ thời Thế chiến thứ 1, bao gồm Pháp, Anh, Italy vào năm 1917 cả Mỹ... Trong các năm 1934-1935, khi Liên Xô tìm kiếm một hiệp ước tương trợ với Pháp thì Ba Lan lại cố công cản trở điều này"[9].

    Sáp nhập lãnh thổ[sửa | sửa mã nguồn]

    Theo thỏa thuận ngầm của Đức Quốc xã và Liên Xô vào ngày 23 tháng 8, mà được cho biết vào ngày 22 tháng 9 năm 1939, lãnh thổ Ba Lan bị chia làm đôi. Lãnh thổ được trả về Liên Xô có ranh giới tương ứng với đường Curzon, chính là đường biên giới mà đại diện nước Anh (George Curzon) đề nghị làm ranh giới phía Đông cho Ba Lan vào năm 1919 nhưng bị Ba Lan từ chối.

    Xử bắn tù binh[sửa | sửa mã nguồn]

    Thời gian chiếm đóng kéo dài cho tới ngày 22 tháng 6 năm 1941, khi cuộc Chiến tranh Xô-Đức bắt đầu, Liên Xô thực hiện những vụ xử bắn tù binh, mà một phần nhiều năm sau khi thế chiên thứ hai chấm dứt công chúng thế giới mới biết tới[10][11][12] [13]

    Trong lúc tiến vào vùng Đông Ba Lan, Hồng quân hoặc những nhóm du kích Ucraina chống Ba Lan đã tiến hành xử bắn những tù binh được cho là cứng đầu. Sử gia Andrzej Friszke cho rằng 2.500 tù binh chiến tranh bị xử bắn (Binh lính Ba Lan, Cảnh sát) và hàng trăm viên chức dân sự. Khi Liên Xô kêu gọi người dân Ukraina và Belarus vùng dậy, các nhóm du kích Ucraina đã gây bạo động và xử bắn quân Ba Lan.[14] Những tội phạm được biết tới nhiều nhất xảy ra ở Katyn, Rohatyn, Grodno,[15] Nowogródek, Sarny, Tarnopol, Wołkowysk, Oszmiana, Świsłocz, MołodecznoKosów Poleski.[16][17][18] Các vụ xử bắn khởi đầu từ đề xuất của L. P. Beriya rằng phải xử bắn tất cả các sĩ quan Ba Lan cứng đầu, ngày 5 tháng 3 năm 1940. Tài liệu chính thức này đã được Bộ Chính trị, gồm cả lãnh đạo I. V. Stalin, ký và đóng dấu. Số lượng tù binh bị xử bắn được ước tính khoảng 22.000 người, với con số thấp là 21.768 người.[10] Tù binh bị xử bắn tại Rừng Katyn Nga, các trại tù KalininKharkiv và những nơi khác. Khoảng 8.000 trong số đó là các sĩ quan Ba Lan bị bắt làm tù binh trong cuộc tấn công năm 1939, 6.000 người khác là các sĩ quan cảnh sát, số còn lại là những người Ba Lan bị bắt giữ vì bị coi là các "nhân viên tình báo, sen đầm, địa chủ, những kẻ phá hoại, chủ nhà máy, luật sư, viên chức và thầy tu." [10]

    Tình trạng người Ukraina[sửa | sửa mã nguồn]

    Vào ngày 28 tháng 9 năm 1939, Đức Quốc xã và Liên Xô đã thỏa thuận một Hiệp ước biên giới và thân hữu và các thỏa hiệp khác. Trong khu vực mà Liên Xô giành lại năm 1939, khoảng 13 triệu người sống ở đó. Gần 40% là người Ba Lan và khoảng 8,3% người gốc Do Thái. Số còn lại (52%) đa số là người Ukraina và Belarus, ngoài ra còn có người Lemken, Bojken, Huzulen, Poleschuken, Nga, Litva, Séc, Đức và các dân tộc thiểu số khác.[19] Tại đa số các thành phố như Białystok, Wilna, Lemberg, người Ba Lan, một phần lớn gốc Do Thái, chiến đa số.

    Sau khi các cuộc chiến đấu chấm dứt, về mặc ngoại giao, Liên Xô ủng hộ những nỗ lực chấm dứt chiến tranh của Hitler sau khi đã chiếm đóng Ba Lan. Stalin nhấn mạnh, chính Pháp và Vương quốc Anh mới là những kẻ khơi mào cuộc chiến.[20] Molotov tuyên bố rằng những nỗ lực hòa bình của Đức, đã không được "bọn đế quốc Anh-Pháp" chấp thuận.[21]

    Bắt giữ tập thể là một trong những chính sách đầu tiên mà Liên Xô áp dụng để chống lại kẻ thù. Từ 1939 cho tới 1941 ở Đông Ba Lan khoảng 110.000 người đã bị bắt giam. Khoảng 40.000 người bị giam trong trại lao động ở Vorkuta, một nhóm khác, khoảng 7300 tù binh dân sự, sau khi bị giam vài tháng ở các nhà tù tại Belarus và Ukraina, vào mùa xuân 1940 tại Bykiwnja (gần Kiev) và ở Kurapaty (gần Minsk), một số bị xử bắn.

    Ostgalizien và Wolhynien được nhập vào hệ thống Liên Xô, những ngành kinh tế quan trọng nhất bị quốc hữu hóa. Vì những biện pháp này đa số chỉ áp dụng với người Ba Lan, nông dân người Ukraina được hưởng lợi từ việc Liên Xô lấy ruộng đất của địa chủ và phân chia cho họ, cho nên ban đầu người Ukraina có cảm tình với Liên Xô. Đến 1940 vì việc hợp tác xã nông nghiệp và việc đàn áp mạnh những nhóm ly khai Ucraina, cho nên một bộ phận dân chúng trở nên bất mãn.[22]

    Sau cuộc bầu cử năm 1939, đại đa số người dân ở Đông Ba Lan ủng hộ việc sáp nhập lãnh thổ của họ vào Liên Xô để hoàn thành việc thống nhất đất nước. Đông GaliciaVolhynia với đa số dân cư là người Ukraina được tái thống nhất với phần còn lại của Ukraina. Sự thống nhất Ukraina lần đầu tiên trong lịch sử được hoàn thành và là sự kiện mang tính quyết định trong lịch sử đất nước này.[23][24] Tại Belarus, sự kiện này được coi là một ngày lễ với tên gọi "Ngày Thống nhất quốc gia", được tổ chức thường niên từ năm 1940 cho tới nay.

    Đánh giá[sửa | sửa mã nguồn]

    "Giải phóng những người anh em ở Tây Ukraine và Tây Belorussia, ngày 17/9/1939" Tem thư Liên Xô năm 1940
    Tem thư năm 1999 do Belarus phát hành, dòng chữ ghi "Kỷ niệm 60 năm thống nhất đất nước Belarus"

    Cuộc tấn công của Liên Xô có những đánh giá trái chiều, tùy theo quan điểm của người dân mỗi nước. Người Nga, Ucraina và Belarus gọi đây là chiến dịch giải phóng và thống nhất đất nước, thu hồi lại chủ quyền lãnh thổ đã bị Ba Lan xâm chiếm vào năm 1921. Trong khi đó người Ba Lan xem đây là sự xâm chiếm của người Nga.

    Trong thỏa thuận với Liên Xô năm 1945, Chính phủ Ba Lan thời hậu chiến đã khẳng định phê chuẩn những đường biên giới quốc gia được phân định sau khi kết thúc chiến tranh.[25]. Ngoài ra, Ba Lan còn được hưởng những vùng lãnh thổ tại Đông Phổ mà nước Đức phải cắt cho họ. Lãnh thổ giữa các nước Ba Lan, Belarus và Ucraina ổn định từ đó tới nay.

    Theo quan điểm của Nga, sau khi giải phóng Bessarabia, miền Tây Ukraine và miền Tây Belarus, Liên Xô đã đẩy biên giới của mình về phía tây được hàng trăm km. Hitler đã bị tước đi các bàn đạp chiến lược rất thuận lợi mà từ đó, khi xảy ra chiến tranh, chỉ trong 1 tháng các binh đoàn Đức đã có thể tiến thẳng tới sông Volga. Thực tế, khi tiến hành kế hoạch Barbarossa, các đơn vị quân Đức đã phải tiến đánh Moscow từ biên giới phía tây Liên Xô qua Kisinhov, Lvov, Minsk, Smolensk, Kiev, Oriol... với những tổn thất lớn về sinh lực và trang bị[26]

    Trong và sau chiến tranh thế giới thứ 2, phương Tây ít nói về cuộc tấn công của Liên Xô vào Ba Lan, phần vì họ coi việc Liên Xô thu hồi lại lãnh thổ là việc chính đáng, phần vì họ không muốn nhắc lại việc Anh-Pháp đã bỏ mặc không giúp đỡ đồng minh Ba Lan. Ngày 01 tháng 10 năm 1939, Winston Churchill, qua các đài phát thanh Anh đã phát biểu[27]:

    "... Việc quân đội Nga đứng chân tại vùng này (chỉ cuộc tấn công) là cần thiết cho sự an toàn của Nga chống lại các mối đe dọa của Đức Quốc xã. Ở mức nào, một mặt trận phía Đông đã được tạo ra và phát xít Đức không dám tấn công. Khi Herr von Ribbentrop được cử đến Moscow vào tuần trước đó để tìm hiểu thực tế, ông ta đã chấp nhận sự thật, rằng ý đồ của Đức Quốc xã nhằm vào các nước vùng Baltic và Ukraine đã phải đi đến điểm dừng."

    Đến thời kỳ Chiến tranh Lạnh, cuộc tấn công bắt đầu được nhắc tới nhiều như một phương cách tuyên truyền làm chia rẽ khối Đông Âu. Ngày nay, phần lớn sách báo phương Tây và Ba Lan coi cuộc tấn công của Liên Xô là sự xâm chiếm.

    Trong khi đó, sách báo Nga, Ucraina và Belarus thì mô tả chiến dịch là sự giải phóng hàng triệu người Nga, người Belarus và Ucraina khỏi ách chiếm đóng của Ba Lan. Ví dụ như sách "Lịch sử của cuộc chiến tranh thế giới thứ hai, 1939-1945" của Nga đã mô tả cuộc tấn công là "Chiến dịch giải phóng của quân đội Liên Xô" nhằm giành lại lãnh thổ bị mất của Nước Mẹ, đồng thời chặn đà tiến của quân Đức tiến và ngăn chặn Đức khả năng sử dụng lãnh thổ của Tây Ukraine và Belarus Tây như một bàn đạp cho sự xâm lăng về phía Đông[28]

    Năm 2009, Tổng thống Nga Vladimir Putin phát biểu chỉ trích hiệp ước không xâm phạm Xô-Đức, nhưng ông cũng nhấn mạnh rằng chính Ba Lan cũng đã ký một hiệp ước không xâm phạm với Đức vào năm 1934, và Ba Lan cũng đã cùng Đức xâu xé lãnh thổ Tiệp Khắc sau Hiệp định Munich. Đáp lại tổng thống Ba Lan Lech Kaczyński cho là Hiệp ước không xâm phạm của Ba Lan với Đức Quốc xã vào năm 1934 không thể coi là tương đương với Hiệp ước Xô-Đức, vì Ba Lan đã thẳng thắn từ chối đề nghị của Đức, cùng với họ chống lại Liên Xô.[29]. Tổng thống V.Putin cũng tuyên bố rằng vào tháng 9 năm 1939, Liên Xô đã có khả năng "đẩy đường biên giới phía tây của mình thậm chí còn xa hơn nữa về phía tây, thậm chí đến tận Warsaw". Nhưng lãnh đạo Liên Xô đã quyết định không làm điều đó mà chỉ dừng lại ở việc thu hồi các lãnh thổ mà Ba Lan đã chiếm của Nga năm 1921[30]

    Trong sách sử Nga cũng dẫn chứng rằng năm 1939, quân đội Liên Xô được chào đón ở khắp mọi nơi (ở Đông Ba Lan) như đội quân giải phóng, và Mikhail Meltjuchow đã có cùng quan điểm với Michail Semirjaga, người đã viết "các kết quả của cuộc bầu cử (ở Đông Ba Lan) đã cho thấy phần lớn dân số của các khu vực này ủng hộ sự hợp nhất lãnh thổ với Liên Xô"[31]

    Thư mục[sửa | sửa mã nguồn]

    Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

    Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

    Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

    1. ^ M. I. Mel’tyuhov: Stalin’s lost chance. The Soviet Union and the struggle for Europe 1939–1941. S. 132. (М. И. Мельтюхов: Упущенный шанс Сталина. Советский Союз и борьба за Европу: 1939–1941 (Документы, факты, суждения). — М.: Вече, 2000.)
    2. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên Sanford
    3. ^ Gross, p. 17.
    4. ^ The Sovietisation of East Poland. In: George Sanford: Katyn and the Soviet massacre of 1940: truth, justice and memory. Routledge, London 2005, ISBN 0-415-33873-5 (online).
    5. ^ Stalinismus in der Ukraine: Die Rekonstruktion des sowjetischen Systems nach dem zweiten Weltkrieg (Veroffentlichungen Des Osteuropa-Instituts Munchen) Katrin Boeckh, Harrassowitz, trang 66, 18.6.2007
    6. ^ Concise statistical year-book of Poland, Polish Ministry of Information. London June 1941 P.9 & 10
    7. ^ a ă William Shirer. Sự hưng thịnh và suy tàn của đế chế thứ ba.
    8. ^ Kappeler (2000), S. 211f.
    9. ^ http://vov.vn/the-gioi/ho-so/ho-so-mat-phuong-tay-nhiet-tinh-ho-tro-hitler-tieu-diet-lien-xo-442646.vov
    10. ^ a ă â Kużniar-Plota, Małgorzata (ngày 30 tháng 11 năm 2004). “Decision to commence investigation into Katyn Massacre”. Departmental Commission for the Prosecution of Crimes against the Polish Nation. Truy cập ngày 4 tháng 8 năm 2011.
    11. ^ “Russia to release massacre files”. BBC News. ngày 1 tháng 11 năm 1989. Truy cập ngày 16 tháng 12 năm 2004.
    12. ^ Roberts, Geoffrey (2006). Stalin's wars: from World War to Cold War, 1939-1953. Yale University Press. tr. 171. ISBN 978-0-300-11204-7. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2011.
    13. ^ Cụ thể vụ xử bắn hàng loạt ở Katyn, Liên Xô tuyên bố các tù binh đã bị Phát xít Đức giết hại, và tiếp tục phủ nhận trách nhiệm với các vụ xử bắn cho tới năm 1990, khi họ chính thức thừa nhận và lên án vụ xử bắn được tổ chức bởi NKVD
    14. ^ „Mit Waffen, Sensen, Mistgabeln und Äxten schlägt eure Erzfeinde – polnische Herren." (Originaltext eines der Mordaufrufe an die ukrainische Zivilbevölkerung) In: Andrzej Friszke: Polska. Losy państwa i narodu 1939–1989. ISBN 83-207-1711-6, S. 25.
    15. ^ „[…] Dem Terror und Morden in eroberten Grodno fielen 130 Schüler und Kadetten. Verletzte Verteidiger wurden erschlagen, der 12-jährige Tadzik Jasiński wurde an einen Panzer festgebunden und über die Straßenpflaster gezogen. Es fanden auch zahlreiche Exekutionen statt […]" In: Julian Siedlecki: Losy Polaków w ZSRR w latach 1939–1986, London 1988, S. 32–34.
    16. ^ Wojciech Roszkowski: Najnowsza historia Polski 1914–1945. Warschau 2003, ISBN 83-7311-991-4, S. 410.
    17. ^ Władysław Pobóg-Malinowski: Najnowsza historia polityczna Polski. 1939–1945, Bd. 3. Krakau 2004, ISBN 83-89711-10-9, S. 107.
    18. ^ Witold Pronobis: Świat i Polska w XX wieku. Warschau 1996, ISBN 83-86802-11-1, S. 196.
    19. ^ Polnisches Informationsministerium: Kurzes statistisches Jahrbuch Polens. London, Juni 1941, S. 9–10.
    20. ^ Zu einer Lügenmeldung der Nachrichtenagentur Havas. Prawda, 30. November 1939. Deutsche Übersetzung in: Der Eisbrecher. Klett-Cotta, Stuttgart 1989.
    21. ^ „Es ist allgemein bewusst, hingegen, dass die britische und französische Regierung die deutschen Friedensbemühungen abgelehnt haben, veröffentlicht von Deutschland bereits am Ende des letzten Jahres, welche seinerseits auf den Vorbereitungen den Krieg zu eskalieren basierte." Molotows Bericht, 29. März 1940.
    22. ^ Kappeler (2000), S. 215f.
    23. ^ Wilson, p. 17
    24. ^ Subtelny, p. 487
    25. ^ “Ukraine hình thành từ Nga và lụi tàn bởi...”. Báo Đất Việt. Truy cập 4 tháng 10 năm 2015.
    26. ^ “Bí mật hòa ước Liên Xô - Đức: Stalin bắt thóp Hitler Báo Giao thông”. Truy cập 4 tháng 10 năm 2015.
    27. ^ “Blood, Sweat, and Tears”. Google Books. Truy cập 4 tháng 10 năm 2015.
    28. ^ [http://militera.lib.ru/h/6/index.html “������� ����������”]. replacement character trong |tiêu đề= tại ký tự số 1 (trợ giúp)
    29. ^ „Unendliches Leid über die Welt gebracht", FAZ, 2. September 2009
    30. ^ https://baodatviet.vn/the-gioi/su-kien/vputin-viet-bao-ve-tham-hoa-lon-nhat-the-ky-xx-3409131/
    31. ^ Zit. n. M.I. Mel’tjuchov: Sovetsko-pol’skie vojny: Voenno-politicheskoe protivostojanie 1918–1939 gg. Veche, Moskau 2001, S. 383.