Liên Xô tấn công Ba Lan

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Liên Xô tấn công Ba Lan
Một phần của Cuộc tấn công Ba Lan trong
Chiến tranh thế giới thứ hai
Soviet invasion on Poland 1939.jpg
Quân đội Liên Xô tiến vào Ba Lan năm 1939.
.
Thời gian 17 tháng 9 năm 19396 tháng 10 năm 1939
Địa điểm Ba Lan
Kết quả Thắng lợi quyết định của Liên Xô
Lãnh thổ tây Ucraina và tây Belarus được thu hồi từ Ba Lan
Tham chiến
Flag of Poland (1928–1980).svg Ba Lan Flag of the Soviet Union (1924–1955).svg Liên Xô
Du kích Ukraina chống Ba Lan
Chỉ huy
Flag of Poland (1928–1980).svg Edward Rydz-Śmigły Flag of the Soviet Union (1924–1955).svg Mikhail Kovalov (Mặt trận Belarusia),
Flag of the Soviet Union (1924–1955).svg Semyon Timoshenko (Mặt trận Ukraina)
Lực lượng
Hơn 20.000[a]
20 tiểu đoàn không đủ lực lượng của Quân biên phòng[1] Hàng trăm ngàn binh sĩ thuộc các đội quân dự bị (improvised) của Quân đội Ba Lan.[2]
Các con số ước tính thay đổi từ 466.516[3] đến hơn 800.000[4]
33+ sư đoàn,
11+ lữ đoàn
Tổn thất
Con số ước tính từ 3.000 người tử trận và 20.000 người bị thương[5] đến khoảng 7.000 người chết hoặc mất tích,[1]
không tính khoảng 2.500 tù binh bị hành quyết bởi các đội quân du kích Ukraina chống Ba Lan.[5]
250.000 bị bắt[1]
Số liệu của Liên Xô:
1.862 tổng thương vong (trong đó 737 chết)[5][6]
Ước tính của Ba Lan: 3.000 người chết và dưới 10.000 bị thương[5]
.

Liên Xô tấn công Ba Lan năm 1939, hoặc Chiến dịch giải phóng Tây Belarus và Tây Ukraina[7] là một chiến dịch quân sự bắt đầu diễn ra từ ngày 17 tháng 9 năm 1939, trong thời kỳ đầu của Thế chiến II, 16 ngày sau cuộc tấn công Ba Lan của Đức Quốc xã. Nó kết thúc bằng một chiến thắng quyết định của Hồng quân Liên Xô.

Đầu năm 1939, Liên Xô đã kêu gọi thành lập một liên minh với Anh quốc, Pháp, Ba Lan, và România để chống lại Đức Quốc xã. Nhưng đã có nhiều khó khăn nảy sinh, bao gồm việc Ba Lan và Romania từ chối cho quân Liên Xô quyền di chuyển qua lãnh thổ của họ[8] Anh, Pháp cũng từ chối thành lập liên minh với Liên Xô và đã ký Hiệp ước Munich với Đức Quốc xã. Với sự thất bại của các cuộc thương thảo, để tránh bị Anh-Pháp-Ba Lan cô lập, Liên Xô đã thay đổi lập trường chống Đức và vào ngày 23 tháng 8 năm 1939 đã ký Hiệp ước với Đức Quốc xã. Ngày 1 tháng 9 năm 1939, Đức xâm lược Ba Lan từ phía tây; và vào ngày 17 tháng 9 năm 1939, Hồng Quân tấn công Ba Lan từ phía đông. Chính quyền Liên Xô đã thông báo rằng chiến dịch của họ là nhằm bảo vệ người UkrainaBelarus (những dân tộc này vốn là người Đông Slav, cùng dân tộc với người Nga và xem chính phủ Ba Lan như kẻ chiếm đóng) sống ở vùng Kresy, bởi vì nhà nước Ba Lan đã sụp đổ trước cuộc tấn công của người Đức và không còn có khả năng đảm bảo an ninh cho công dân của mình nữa.[9][10] Một lý do thực dụng hơn là những vùng đất phía Đông này vốn do Ba Lan chiếm của Nga trong Chiến tranh Nga-Ba Lan (1919-1921), Liên Xô muốn nhân cơ hội Ba Lan sắp bị Đức đánh bại để thu hồi lại những vùng đất này mà không cần phải đổ nhiều máu.

Hồng quân đã nhanh chóng giành được các mục tiêu của mình, họ có quân số đông hơn hẳn lực lượng Ba Lan và ít gặp phải kháng cự. Dù chính phủ Ba Lan đã ra lệnh giảm thiểu giao tranh quân sự với Hồng quân,[6] một vài cuộc chiến đã nổ ra với thương vong lên đến từ 6.000 đến 7.000 cho phía Ba Lan và khoảng 737 tử trận và khoảng 2.000 bị thương cho phía Liên Xô.[1] Khoảng 230.000 lính Ba Lan hoặc nhiều hơn đã bị bắt làm tù binh.[11]

Các tài liệu lịch sử của Nga, Ucraina và Belarus coi chiến dịch này là công cuộc giải phóng hàng triệu người Nga khỏi ách chiếm đóng của Ba Lan, giành lại những lãnh thổ bị Ba Lan chiếm đóng năm 1921, với tên gọi là "Chiến dịch giải phóng Tây Ucraina và Belarus"[12] Sau chiến dịch, hàng triệu người tại tây Ukraina và tây Belarusia đã tái hợp nhất với dân tộc của mình, trở thành các nước cộng hòa UkrainaByelorussia.[7] Cho tới nay, sự kiện này vẫn được người dân Belarus kỷ niệm hàng năm và được coi là ngày quốc lễ với tên gọi "Ngày Tổ quốc thống nhất".

Nguyên nhân[sửa | sửa mã nguồn]

Các lãnh thổ mà Ba Lan chiếm của Nga năm 1921 được tô màu hồng. Màu xanh lá là đường Curzon, đường biên giới truyền thống giữa Đế chế Nga và Ba Lan

Quan hệ giữa Ba Lan và Nga vô cùng xấu kể từ Chiến tranh Nga-Ba Lan (1919-1921), khi đó Ba Lan đã chiếm nhiều vùng đất rộng lớn thuộc Nga. Trong cuộc chiến, Ba Lan đã chiếm được một vùng đất rộng lớn ở phía đông của Đường Curzon (biên giới giữa 2 nước trước chiến tranh), bao gồm thành phố Vilnius, Đông Galicia (1919) bao gồm thành phố Lwów, cũng như hầu hết khu vực Volhynia. Tổng cộng, Ba Lan đã chiếm được gần 135.000 km2 lãnh thổ, lấn sâu khoảng 250 km về phía đông của đường Curzon[13][14].

Do sống trong vùng lãnh thổ bị Ba Lan đánh chiếm, đã có khoảng 6 triệu người dân Belarusia và Ukraina (thuộc dân tộc Nga) phải chịu sự chiếm đóng của Ba Lan. Việc chính phủ Ba Lan thi hành chính sách cai trị đồng hóa người Belarusia và Ukraina đã thúc đẩy sự phát triển của các tổ chức dân tộc chủ nghĩa Ucraina chuyên đấu tranh chống lại sự chiếm đóng của Ba Lan[15][16]

Trong giai đoạn 1934-1938, Hitler lại có chính sách thân thiện với Ba Lan để cùng chống lại Liên Xô. Phía Ba Lan cũng có chủ trương hợp tác với Đức để cùng chống lại Liên Xô, thậm chí nước này phản đối các nỗ lực của Pháp và Tiệp Khắc để đưa Liên Xô vào một mặt trận chung chống lại nước Đức phát xít. Ngày 26 tháng 1 năm 1934, Ba Lan và Đức đã ký Hiệp ước không xâm phạm lẫn nhau. Ba Lan đã trở thành quốc gia đầu tiên thành lập liên minh với Đức Quốc xã[17] Bản Hiệp ước Đức-Ba Lan năm 1934 được coi là một ví dụ về sự yếu kém chính trị, thiếu nhạy bén của Thủ tướng Ba Lan Józef Piłsudski khi ông xác định Liên Xô là kẻ thù chính chứ không phải Đức Quốc xã[18]

Sau cái chết của Thủ tướng Jozef Pilsudski, chính sách của Ba Lan vẫn tiếp tục với lập trường đối đầu với Liên Xô, thậm chí Ba Lan còn nuôi ý định sẽ tiếp tục tấn công Liên Xô, chiếm trọn cả Belarus và Ucraina để vươn lên thành cường quốc châu Âu. Phía Liên Xô thì luôn nung nấu ý định thu hồi lại những đất đai mà Ba Lan đã chiếm của họ. Người dân vùng Tây Ukraina và Tây Belarus (mà chính phủ Ba Lan gọi là "vùng Đông Ba Lan") luôn mong chờ cuộc tấn công của Hồng quân để giúp họ thoát khỏi sự chiếm đóng của Ba Lan và trở về với "Đất mẹ Nga".[19]

Năm 1938, sau Hiệp ước Munich ký với Anh-Pháp, Đức đem quân tiêu diệt Tiệp Khắc. Căn cứ theo Hiệp ước năm 1934, Ba Lan yêu cầu rằng "nếu Hitler chuẩn bị chiếm vùng lãnh thổ Sudetenland thì Ba Lan cũng phải có phần là khu Teschen của Tiệp Khắc. Nói cách khác, nếu Hitler được gắp khúc thịt, thì người Ba Lan chí ít cũng phải được xơi bìa đậu”. Đức đồng ý với đề nghị của Ba Lan. Vậy là hùa vào cùng Đức, Ba Lan xông vào để xâu xé lãnh thổ của Tiệp Khắc. Ba Lan đã chiếm của Tiệp Khắc gần 1.700 kilômét vuông chung quanh Teschen với 228.000 dân, trong số này có 133.000 người Séc. Nhiều người Tiệp Khắc về sau đã căn cứ vào sự việc này để cáo buộc chính phủ Ba Lan đã đồng lõa với quân xâm lược Phát xít Đức, bất chấp việc chính phủ Ba Lan đã liên tục tìm cách phủ nhận[20].

Cuối thập niên 1930, Liên Xô đã cố tạo một liên minh chống Đức với Anh quốc, PhápBa Lan.[h] Tuy nhiên các cuộc thương thảo lại tỏ ra khó khăn. Những người Liên Xô đòi một phạm vi ảnh hưởng trải dài từ Phần Lan đến România và đã đòi hỏi hỗ trợ quân sự để chống lại không chỉ bất cứ ai tấn công họ một cách trực tiếp mà còn cả các quốc gia nằm trong phạm vi ảnh hưởng theo đề xuất của họ.[21] Liên Xô cũng yêu cầu quyền đi vào Ba Lan, România và các Quốc gia Baltic khi nào họ cảm thấy an ninh của mình bị đe dọa bởi Đức. Chính phủ các nước trên đã phản đối các đề nghị này của Liên Xô bởi vì, như Bộ trưởng Ngoại giao Ba Lan Józef Beck đã nói, họ sợ rằng một khi Hồng quân đã vào lãnh thổ của họ thì đoàn quân này sẽ có thể không chịu rời đi.[8] Những người Xô Viết thì không tin người Anh và người Pháp tôn trọng lời hứa an ninh chung, do họ đã bị thất bại trong việc giúp đỡ Tây Ban Nha chống lại những người ủng hộ chủ nghĩa phát xít hay bảo vệ Czechoslovakia khỏi Đức Quốc xã. Họ cũng hoài nghi rằng liệu các Đồng minh phương Tây sẽ thích Liên Xô tự mình đánh Đức hơn không, trong khi họ đứng nhìn từ bên ngoài cuộc chiến tranh.[22] Phía Ba Lan cũng ngăn cản những nỗ lực của Pháp và Tiệp Khắc để đưa Liên Xô vào một mặt trận chung chống lại nước Đức phát xít.

Giáo sư Michael Jabara Carley của Đại học Montreal (Canada) nhận xét: “Trong thập niên 1930, Ba Lan đóng vai trò của kẻ phá bĩnh. Đó là một chính thể cực hữu rất giống kiểu độc tài, bài Do Thái và có cảm tình với chủ nghĩa phát xít. Năm 1934, khi Liên Xô cảnh báo về Hitler, Ba Lan đã ký ngay một hiệp ước không xâm lược lẫn nhau với Đức ở Berlin. Vậy ai đâm sau lưng ai?". Ông nhấn mạnh: "Cho đến năm 1939, Ba Lan đã làm tất cả những gì có thể để phá hoại các nỗ lực của Liên Xô trong việc xây dựng một liên minh chống chủ nghĩa Quốc xã, dựa trên liên minh chống Đức từ thời Thế chiến thứ 1, bao gồm Pháp, Anh, Italy và vào năm 1917 có cả Mỹ... Trong các năm 1934-1935, khi Liên Xô tìm kiếm một hiệp ước tương trợ với Pháp thì Ba Lan lại cố công cản trở điều này"[23]

Sau những nỗ lực đàm phán không có kết quả, Liên Xô đã từ bỏ các cuộc đàm phán với các quốc gia phương Tây và quay sang thương lượng với Đức. Theo giáo sư Robert C. Grogin (tác giả cuốn Kẻ thù tự nhiên), kể từ năm 1936, tuy cả Đức và Liên Xô đều công kích gay gắt lẫn nhau về mặt ngoại giao, Stalin đã tìm cách đàm phán để có một thỏa thuận hòa bình với Đức thông qua các sứ giả của cá nhân ông[24]. Ngày 23 tháng 8 năm 1939, Liên Xô đã ký Hiệp ước Molotov-Ribbentrop với Đức Quốc xã, làm cho Anh và Pháp ngạc nhiên. Cả hai chính phủ đều tuyên bố hiệp định này chỉ là một hiệp định không xâm lược nhau. Một phụ lục cho thấy hai bên đã thực sự thỏa thuận về lãnh thổ Ba Lan với nhau và chia Đông Âu làm hai phạm vi ảnh hưởng của Liên Xô và Đức.[d] Hiệp ước Molotov-Ribbentrop, được mô tả như một giấy phép chiến tranh, là một nhân tố chính trong quyết định của Hitler xâm lược Ba Lan.[8][25]

Đường biên giới mới theo kế hoạch và trên thực tế của châu Âu vào đầu năm 1940, theo Hiệp định Molotov-Ribbentrop, với các điều chỉnh sau này.

Hiệp định cung cấp cho Liên Xô thêm không gian phòng thủ ở phía tây.[26] Nó cũng cho Liên Xô một cơ hội lấy lại các lãnh thổ đã bị Ba Lan chiếm mất vào 20 năm trước và thống nhất các dân tộc tây Ukraina và Belarusia dưới một chính quyền Xô Viết, lần đầu tiên trong một nhà nước.[27] Mục tiêu chính của Liên Xô là tìm cách tái khôi phục tầm ảnh hưởng tại Đông Âu, lấy đó làm vùng đệm an ninh cho cuộc chiến sắp xảy ra với Đức. Lãnh đạo Liên Xô Joseph Stalin nhìn thấy các lợi thế trong một cuộc chiến với Tây Âu, mà có thể làm yếu đi các kẻ thù ý thức hệ của ông và mở ra các khu vực mới cho sự tiến ra của chủ nghĩa cộng sản.[28][f]

Ngay sau khi Đức xâm lược Ba Lan ngày 1 tháng 9 năm 1939, các lãnh đạo Đức Quốc xã bắt đầu thúc giục Liên Xô thực hiện phần cam kết của mình trong Hiệp định và tấn công Ba Lan từ phía đông. Đại sứ Đức tại Moskva, Friedrich Werner von der Schulenburg, và bộ trưởng ngoại giao Liên Xô, Vyacheslav Molotov, đã trao đổi một loạt tuyên bố chung ngoại giao về vấn đề này.[9] Liên Xô đã trì hoãn sự can thiệp của họ vì nhiều lý do. Họ đã bị làm rối trí bởi các sự kiện trong các xung đột biên giới với Nhật Bản khiến họ phải đem quân hỗ trợ Mông Cổ chống Nhật; họ cần thời gian để huy động Hồng quân; và họ đã nhìn thấy lợi thế ngoại giao trong việc đợi chờ cho đến khi Ba Lan đã bị làm tan rã trước khi Liên Xô tiến quân vào.[29][30]

Ngày 17 tháng 9 năm 1939, sau khi chính phủ Ba Lan đã bỏ chạy ra nước ngoài, Molotov đã tuyên bố trên đài phát thanh rằng tất cả các hiệp ước ký giữa Liên Xô và Ba Lan bây giờ đã vô hiệu,[g] do chính phủ Ba Lan đã từ bỏ nhân dân của mình và trên thực tế đã không tồn tại.[31] Cùng ngày, Hồng quân đã vượt biên giới vào Ba Lan.[5][32]

Chiến dịch quân sự[sửa | sửa mã nguồn]

Bố trí các sư đoàn Ba Lan vào ngày 1 tháng 9 năm 1939. Đa số các lực lượng Ba Lan được tập trung ở biên giới Đức; biên giới với Liên Xô có lực lượng phòng thủ ít hơn nhiều.
Tình hình sau ngày 14 tháng 9 năm 1939

Các lãnh đạo quân sự và chính trị Ba Lan đã biết rằng họ đang thua trong cuộc chiến với quân Đức thậm chí ngay cả khi cuộc tấn công của Liên Xô chưa diễn ra.[5] Tuy nhiên, họ đã từ chối đầu hàng hay đàm phán hòa bình với Đức. Thay vào đó, chính phủ Ba Lan đã ra lệnh tất cả các đơn vị quân đội di tản khỏi Ba Lan và tập hợp lại ở Pháp.[5] Ngay chính phủ Ba Lan đã chạy qua România khoảng nửa đêm 17 tháng 9 năm 1939. Các đơn vị quân Ba Lan đã tiến về khu vực đầu cầu Romania, chống đỡ các cuộc tấn công của Đức bên sườn và thỉnh thoảng đụng độ với quân Liên Xô bên kia. Trong những ngày sau lệnh di tản, Đức đã đánh bại Quân Kraków của Ba Lan và Lublin tại Trận Tomaszów Lubelski, kéo dài từ ngày 17 tháng 9 đế 20 tháng 9.[33]

Kế hoạch rút lui ban đầu của quân đội Ba Lan là rút lui và tập hợp lại dọc theo Đầu cầu Romania, một khu vực ở đông nam Ba Lan gần biên giới với Romania. Kế hoạch là cố thủ ở đó và chờ đợi một cuộc tấn công từ phía tây của Anh và Pháp như đã hứa, và giả thiết rằng Đức sẽ phải giảm các chiến dịch ở Ba Lan để chiến đấu trên một mặt trận thứ hai.[5] Anh, Pháp mong đợi các lực lượng Ba Lan cầm cự khoảng vài tháng nhưng cuộc tấn công của Liên Xô đã khiến cho chiến lược này lỗi thời.

Ngày 17/9, Hồng quân đã tiến vào vùng Kresy với 7 tập đoàn quân và giữa khoảng 450.000 và 1.000.000 quân.[5] Các đội quân này đã được bố trí trên hai Phương diện quân: Phương diện quân Belarusia dưới sự chỉ huy của Mikhail Kovalyov, và Phương diện quân Ukraina dưới sự chỉ huy của Semyon Timoshenko.[5] Trước đó, quân Ba Lan đã thất bại trong việc bảo vệ các biên giới phía tây của họ. Để đáp lại các cuộc tấn công của quân Đức, Ba Lan đã tiến hành một trận phản công lớn ở trong Trận Bzura, nhưng bị thất bại nặng. Quân đội Ba Lan ban đầu đã có một kế hoạch phòng thủ để đối phó với Liên Xô, nhưng họ không sẵn sàng đối phó với hai cuộc tấn công cùng lúc.[34] Đến thời điểm Liên Xô tấn công, Ba Lan đã phái phần lớn quân sang phía tây để chống quân Đức, khiến cho phía đông chỉ được bảo vệ bằng 20 tiểu đoàn không đủ sức mạnh, bao gồm 20.000 quân thuộc quân đoàn biên phòng (Korpus Ochrony Pogranicza) dưới sự chỉ huy của tướng Wilhelm Orlik-Rueckemann.[1][5]

Tướng Heinz Guderian (giữa) và đại tá Semyon Krivoshein (bên phải) tại cuộc duyệt binh ở Brest.

Ban đầu, tổng tư lệnh Ba Lan, Thống chế Ba Lan Edward Rydz-Śmigły, đã ra lệnh các lực lượng biên phòng chống cự lại quân Liên Xô. Sau đó ông đã đổi ý sau khi hội ý với Thủ tướng Felicjan Sławoj Składkowski và đã ra lệnh cho quân biên phòng rút lui và chỉ giao chiến với quân Liên Xô khi cần tự vệ.[1][6] Hai mệnh lệnh mâu thuẫn nhau đã dẫn đến sự hỗn loạn,[5] và khi Hồng quân tấn công các đơn vị Ba Lan, các bất đồng và các trận tranh luận nhỏ đã nổ ra không thể tránh được.[1]

Phản ứng của những người Ba Lan thuộc các nhóm sắc tộc khác nhau đối với tình hình đã tạo thêm sự rắc rối. Những người Ukraina,[m] người Belarusia[35]Do Tháis[36], những sắc tộc có nguồn gốc từ Đế quốc Nga, đã hoan nghênh các đoàn quân Liên Xô và xem họ như quân giải phóng. Tổ chức những người dân tộc Ukraina đã nổi dậy chống lại quân đội Ba Lan, và những người ủng hộ Liên Xô đã tổ chức các cuộc nổi dậy địa phương để chào đón Hồng Quân, ví dụ như ở Skidel.[5][j] Tháng 11, Liên Xô tuyên bố thu hồi lãnh thổ cũ bị Ba Lan chiếm đóng năm 1921 và 13,5 triệu người sống ở đây giờ là các công dân Liên Xô. Một số nhóm dân tộc chủ nghĩa Ba Lan hoặc cựu quân lính Bạch vệ đã chống lại, và Liên Xô đã trấn áp những nhóm vũ trang này bằng các vụ xử bắn hoặc bắt giữ hàng ngàn người.[37] Họ đã đưa hàng trăm ngàn (ước tính) người tới Siberia và những nơi xa xôi khác của Liên Xô trong bốn đợt di cư giữa giai đoạn 1939 và 1941.[b]

Quân Đức và Liên Xô gặp nhau tại biên giới

Các đơn vị Liên Xô thường gặp đối tác Đức tiến từ phía đối diện. Nhiều ví dụ nổi bật về sự hợp tác đã diễn ra giữa hai đội quân này trên chiến trường. Wehrmacht vượt qua Pháo đài Brest, một địa điểm đã bị Lữ đoàn tăng 29 của Liên Xô chiếm sau Trận Brześć Litewski vào ngày 17 tháng 9.[38] Tướng Đức Heinz Guderian và Lữ đoàn trưởng Liên Xô Semyon Krivoshein lúc đó đã tổ chức một cuộc diễu binh chiến thắng chung ở thị xã.[39] Lwów (Lviv) đã đầu hàng ngày 22 tháng 9, vài ngày sau khi Đức giao các chiến dịch bao vây cho Liên Xô.[40] Các lực lượng Liên Xô trước đó đã chiếm Wilno vào ngày 19 tháng 9 sau trận chiến một ngày, và họ đã chiếm Grodno vào ngày 24 tháng 9 sau một cuộc chiến kéo dài bốn ngày. Đến ngày 28 tháng 9, Hồng quân đã tiến đến tuyến sông Narew, Western Bug, Vistula và San—biên giới được Liên Xô đồng ý trước với Đức.

Đánh giá[sửa | sửa mã nguồn]

"Giải phóng những người anh em ở Tây Ucraina và Tây Belorussia, ngày 17/9/1939" Tem thư Liên Xô năm 1940
Tem thư năm 1999 do Belarus phát hành, dòng chữ ghi "kỷ niệm 60 năm thống nhất đất nước Belarus"

Trong cuộc tấn công, nhiều người Ukraina, Belarus và người Do Thái đã chào đón Hồng quân như những người giải phóng[41] Những người cộng sản địa phương tập hợp mọi người chào đón binh sĩ Hồng quân theo cách truyền thống của Nga bằng cách tặng bánh mì và muối trong các vùng ngoại ô phía đông của Brest. Một loại vòm khải hoàn được làm bằng hai cọc, được trang hoàng với cành lá và hoa vân sam. Một biểu ngữ, một dải khăn dài màu đỏ với một khẩu hiệu bằng tiếng Nga, nội dung tôn vinh Liên Xô và chào đón Hồng quân, được treo trên vòm.[42] Phản ứng của dân địa phương đã được đề cập bởi Lev Mekhlis, người đã nói với Stalin rằng người dân Tây Ucraina đã thực sự chào đón Hồng quân Liên Xô như người giải phóng. Hưởng ứng theo cuộc tấn công của Liên Xô, các Tổ chức dân quân Ucraina nổi dậy chống lại sự chiếm đóng của người Ba Lan, và các đảng cộng sản địa phương đã tổ chức các cuộc nổi dậy lật đổ bộ máy chính trị của Ba Lan, chẳng hạn như ở Skidel.

Sau cuộc họp ngày 18 Tháng 9 năm 1939, tức là một ngày sau khi Liên Xô tấn công Ba Lan, Chính phủ Anh đã quyết định sẽ không phản đối hành động của Liên Xô. Ngày 01 tháng 10 năm 1939, thủ tướng Anh Winston Churchill, qua các đài phát thanh Anh đã phát biểu[43]:

"...Việc quân đội Nga đứng chân tại vùng này (chỉ cuộc tấn công) là cần thiết cho sự an toàn của Nga chống lại các mối đe dọa của Đức Quốc xã. Ở mức độ nào đó, một mặt trận phía Đông đã được tạo ra và phát xít Đức đã không dám tấn công. Khi Herr von Ribbentrop được cử đến Moscow vào tuần trước đó để tìm hiểu thực tế, ông ta đã chấp nhận sự thật, rằng ý đồ của Đức Quốc xã nhằm vào các nước vùng Baltic và Ucraina đã phải đi đến điểm dừng."

Đến thời kỳ Chiến tranh Lạnh, cuộc tấn công bắt đầu được nhắc tới nhiều như một phương cách tuyên truyền làm chia rẽ khối Đông Âu. Ngày nay, quan điểm của phương Tây và Ba Lan coi cuộc tấn công của Liên Xô là sự xâm chiếm. Về vấn đề này, giáo sư Michael Jabara Carley của Đại học Montreal (Canada) thì lại cho rằng: “Trong khi kết tội phía Liên Xô đưa quân vào "lãnh thổ của Ba Lan", một số sử gia phương Tây bắt đầu mắc chứng “mất trí nhớ”, và quên rằng chính các lãnh thổ này - Tây UkraineTây Belarus - đã bị Ba Lan chiếm của Nga trong cuộc Chiến tranh Nga-Ba Lan từ năm 1919-1921. Cuộc chiến này do Ba Lan đơn phương phát động để chống lại nước Nga Xô viết - lúc đó đã tan hoang vì nội chiến”. Trước đó Ba Lan đã ký một hiệp ước không xâm lược lẫn nhau với Đức Quốc xã vào ngày 26/1/1934, và khi Đức xâm lược Tiệp Khắc năm 1938, Ba Lan cũng đã đem quân chiếm vùng Teschen (một vùng đất có rất đông người gốc Ba Lan sinh sống) của Tiệp Khắc vì không muốn vùng đất này bị Đức chiếm mất [20]. Carley cho rằng phương Tây ngày nay thường lờ đi những hành động này của Ba Lan mà chỉ tập trung vào quan hệ giữa Đức và Liên Xô[23].

Trong khi đó, tài liệu Nga, Ucraina và Belarus thì mô tả chiến dịch ở Ba Lan là sự giải phóng hàng triệu người Nga khỏi ách chiếm đóng của Ba Lan. Ví dụ như sách "Lịch sử của cuộc chiến tranh thế giới thứ hai, 1939-1945" của Nga đã mô tả cuộc tấn công là "Chiến dịch giải phóng của quân đội Liên Xô" nhằm giành lại những lãnh thổ bị mất của Nước Mẹ, đồng thời chặn đà tiến của quân Đức tiến và ngăn chặn Đức khả năng sử dụng lãnh thổ của Tây Ucraina và Belarus Tây như một bàn đạp cho sự xâm lăng về phía Đông[44]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â b c d đ (tiếng Ba Lan) Edukacja Humanistyczna w wojsku. 1/2005. Dom wydawniczy Wojska Polskiego. (Humanist Education in the Army.) 1/2005. Publishing House of the Polish Army). Truy cập 28 November 2006.
  2. ^ “Kampania wrześniowa 1939” [September Campaign 1939]. PWN Encyklopedia (bằng tiếng Ba Lan). Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 5 năm 2006. Truy cập ngày 16 tháng 7 năm 2007. 
  3. ^ Đại tướng Grigory Fedot Krivosheev, Thương vong của Liên Xô và tổn thất trong thế kỷ 20.
  4. ^ (tiếng Ba Lan) Kampania wrześniowa 1939 (Chiến dịch tháng 9 năm 1939) từ Bách khoa toàn thư PWN. Internet Archive, giữa-2006. truy cập ngày 16 tháng 7 2007.
  5. ^ a ă â b c d đ e ê g h i k Sanford, p. 20-24.
  6. ^ a ă â Gross, p. 17.
  7. ^ a ă Rieber, p 29.
  8. ^ a ă â Anna M. Cienciala (2004). Cuộc chiến đến và Đông Âu trong Thế chiến II II (lecture notes, Đại học Kansas). Truy cập 15 tháng 3 năm 2006.
  9. ^ a ă Điện báo được gửi bởi Schulenburg, đại sứ Đức tại Liên Xô, từ Moscow đến Văn phòng đối ngoại Đức: No. 317 ngày 10 tháng 9 năm 1939, No. 371 ngày 16 tháng 9 năm 1939, No. 372 ngày 17 tháng 9 1939. Dự án Avalon, Trường Luật Yale. Truy cập ngày 14 tháng 11 2006.
  10. ^ (tiếng Ba Lan) 1939 wrzesień 17, Moskwa Nota rządu sowieckiego nie przyjęta przez ambasadora Wacława Grzybowskiego (Công hàm của chính phủ Liên Xô gửi cho chính phủ Ba Lan ngày 17 tháng 9 năm 1939, bị từ chối bởi đại sứ Ba Lan Wacław Grzybowski). Truy cập ngày 15 tháng 11 năm 2006; Degras, pp. 37–45
  11. ^ (tiếng Ba Lan) obozy jenieckie żołnierzy polskich (Các trại tù cho lính Ba Lan). Bách khoa toàn thư PWN. Truy cập ngày 28 tháng 11 2006.
  12. ^ “ВОЕННАЯ ЛИТЕРАТУРА -- Военная история -- История Великой Отечественной войны Советского Союза 1941-1945 гг. (в 6 томах)” (bằng tiếng Nga). 
  13. ^ Michael Graham Fry; Erik Goldstein; Richard Langhorne (30 tháng 3 năm 2004). Guide to International Relations and Diplomacy. Continuum International Publishing Group. tr. 203. ISBN 978-0-8264-7301-1. Truy cập ngày 3 tháng 2 năm 2011. 
  14. ^ Spencer Tucker (11 tháng 11 năm 2010). Battles That Changed History: An Encyclopedia of World Conflict. ABC-CLIO. tr. 448. ISBN 978-1-59884-429-0. Truy cập ngày 3 tháng 2 năm 2011. 
  15. ^ Jan S. Prybyla (2010). When Angels Wept: The Rebirth and Dismemberment of Poland and Her People in the Early Decades of the Twentieth Century. Wheatmark, Inc. tr. 46–. ISBN 978-1-60494-325-2. Truy cập ngày 16 tháng 2 năm 2011. 
  16. ^ Aviel Roshwald (2001). Ethnic nationalism and the fall of empires: central Europe, Russia, and the Middle East, 1914-1923. Routledge. tr. 168–. ISBN 978-0-415-17893-8. Truy cập ngày 16 tháng 2 năm 2011. 
  17. ^ https://www.thejc.com/on-this-day-the-german-polish-non-aggression-pact-1.20771
  18. ^ https://academic.oup.com/qjmed/article/96/5/325/1551292
  19. ^ William Shirer. Sự hưng thịnh và suy tàn của đế chế thứ ba.
  20. ^ a ă Watt 1998, 386.
  21. ^ Shaw, p 119; Neilson, p 298.
  22. ^ Kenez, pp. 129–31.
  23. ^ a ă http://vov.vn/the-gioi/ho-so/ho-so-mat-phuong-tay-nhiet-tinh-ho-tro-hitler-tieu-diet-lien-xo-442646.vov
  24. ^ Robert C. Grogin (2001). Natural Enemies: The United States and the Soviet Union in the Cold War, 1917–1991. Lexington Books. tr. 28. ISBN 0739101609. 
  25. ^ Davies, Europe: A History, p. 997.
  26. ^ Dunnigan, p. 132.
  27. ^ Sanford, pp. 20–25; Snyder, p. 77.
  28. ^ Gelven, p.236.
  29. ^ Zaloga, p 80.
  30. ^ Weinberg, p. 55.
  31. ^ Degras, pp. 37–45. Extracts from Molotov's speech on Wikiquote.
  32. ^ Zaloga, p. 80.
  33. ^ Taylor, p. 38.
  34. ^ Szubański, Plan operacyjny "Wschód".
  35. ^ Piotrowski, p 199.
  36. ^ Gross, pp. 32–33.
  37. ^ Rummel, p.130; Rieber, p. 30.
  38. ^ Fischer, Benjamin B., ""Tranh cãi Katyn: Cánh đồng chết Stalin", Studies in Intelligence, mùa Đông 1999–2000. Truy cập 16 tháng 7 năm 2007.
  39. ^ Fischer, Benjamin B. (Winter 1999–2000). “The Katyn Controversy: Stalin's Killing Field”. Studies in Intelligence. Truy cập ngày 16 tháng 7 năm 2007. 
  40. ^ Ryś, p 50
  41. ^ Gross pp. 32–33
  42. ^ Юрий Рубашевский. (ngày 16 tháng 9 năm 2011). “Радость была всеобщая и триумфальная” (bằng tiếng Nga). Vecherniy Brest. 
  43. ^ “Blood, Sweat, and Tears”. Google Books. Truy cập 26 tháng 9 năm 2015. 
  44. ^ “ВОЕННАЯ ЛИТЕРАТУРА -- Военная история -- История Великой Отечественной войны Советского Союза 1941-1945 гг. (в 6 томах)” (bằng tiếng Nga). 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]