Liên Xô tấn công Ba Lan

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Liên Xô tấn công Ba Lan
Một phần của Cuộc tấn công Ba Lan trong
Chiến tranh thế giới thứ hai
Soviet invasion on Poland 1939.jpg
Quân đội Liên Xô tiến vào Ba Lan năm 1939.
Thời gian17 tháng 9 năm 19396 tháng 10 năm 1939
Địa điểm
Kết quả Thắng lợi quyết định của Liên Xô
Lãnh thổ tây Ucraina và tây Belarus được thu hồi từ Ba Lan
Tham chiến
Flag of Poland (1928–1980).svg Ba Lan Flag of the Soviet Union (1924–1955).svg Liên Xô
Du kích Ukraina chống Ba Lan
Chỉ huy và lãnh đạo
Flag of Poland (1928–1980).svg Edward Rydz-Śmigły Flag of the Soviet Union (1924–1955).svg Mikhail Kovalov (Mặt trận Belarusia),
Flag of the Soviet Union (1924–1955).svg Semyon Timoshenko (Mặt trận Ukraina)
Lực lượng
Hơn 20.000[a]
20 tiểu đoàn không đủ lực lượng của Quân biên phòng[1] Hàng trăm ngàn binh sĩ thuộc các đội quân dự bị (improvised) của Quân đội Ba Lan.[2]
Các con số ước tính thay đổi từ 466.516[3] đến hơn 800.000[4]
33+ sư đoàn,
11+ lữ đoàn
Tổn thất
Con số ước tính từ 3.000 người tử trận và 20.000 người bị thương[5] đến khoảng 7.000 người chết hoặc mất tích,[1]
không tính khoảng 2.500 tù binh bị hành quyết bởi các đội quân du kích Ukraina chống Ba Lan.[5]
250.000 bị bắt[1]
Số liệu của Liên Xô:
1.862 tổng thương vong (trong đó 737 chết)[5][6]
Ước tính của Ba Lan: 3.000 người chết và dưới 10.000 bị thương[5]

Liên Xô tấn công Ba Lan năm 1939, hoặc Chiến dịch giải phóng Tây Belarus và Tây Ukraina[7] là một chiến dịch quân sự bắt đầu diễn ra từ ngày 17 tháng 9 năm 1939, trong thời kỳ đầu của Thế chiến II, 16 ngày sau cuộc tấn công Ba Lan của Đức Quốc xã. Nó kết thúc bằng một chiến thắng quyết định của Hồng quân Liên Xô.

Đầu năm 1939, Liên Xô đã kêu gọi thành lập một liên minh với Anh quốc, Pháp, Ba Lan, và România để chống lại Đức Quốc xã. Nhưng đã có nhiều khó khăn nảy sinh, bao gồm việc Ba Lan và Romania từ chối cho quân Liên Xô quyền di chuyển qua lãnh thổ của họ[8] Anh, Pháp cũng từ chối thành lập liên minh với Liên Xô và đã ký Hiệp ước Munich với Đức Quốc xã. Với sự thất bại của các cuộc thương thảo, để tránh bị Anh-Pháp-Ba Lan cô lập, Liên Xô đã thay đổi lập trường chống Đức và vào ngày 23 tháng 8 năm 1939 đã ký Hiệp ước với Đức Quốc xã. Ngày 1 tháng 9 năm 1939, Đức xâm lược Ba Lan từ phía tây; và vào ngày 17 tháng 9 năm 1939, Hồng Quân tấn công Ba Lan từ phía đông. Chính quyền Liên Xô đã thông báo rằng chiến dịch của họ là nhằm bảo vệ người UkrainaBelarus (những dân tộc này vốn là người Đông Slav, cùng dân tộc với người Nga và xem chính phủ Ba Lan như kẻ chiếm đóng) sống ở vùng Kresy, bởi vì nhà nước Ba Lan đã sụp đổ trước cuộc tấn công của người Đức và không còn có khả năng đảm bảo an ninh cho công dân của mình nữa.[9][10] Một lý do thực dụng hơn là những vùng đất phía Đông này vốn do Ba Lan chiếm của Nga trong Chiến tranh Nga-Ba Lan (1919-1921), Liên Xô muốn nhân cơ hội Ba Lan sắp bị Đức đánh bại để thu hồi lại những vùng đất này mà không cần phải đổ nhiều máu.

Hồng quân đã nhanh chóng giành được các mục tiêu của mình, họ có quân số đông hơn hẳn lực lượng Ba Lan và ít gặp phải kháng cự. Dù chính phủ Ba Lan đã ra lệnh giảm thiểu giao tranh quân sự với Hồng quân,[6] một vài cuộc chiến đã nổ ra với thương vong lên đến từ 6.000 đến 7.000 cho phía Ba Lan và khoảng 737 tử trận và khoảng 2.000 bị thương cho phía Liên Xô.[1] Khoảng 230.000 lính Ba Lan hoặc nhiều hơn đã bị bắt làm tù binh.[11]

Ngày nay, các tài liệu của Ba Lan coi cuộc tấn công này là sự xâm chiếm. Ở chiều ngược lại, các tài liệu lịch sử của Nga, Ucraina và Belarus thì coi chiến dịch này là công cuộc giải phóng hàng triệu người Nga khỏi ách chiếm đóng của Ba Lan, giành lại những lãnh thổ bị Ba Lan chiếm đóng năm 1921, với tên gọi là "Chiến dịch giải phóng Tây Ucraina và Belarus"[12] Sau chiến dịch, hàng triệu người tại tây Ukraina và tây Belarusia đã tái hợp nhất với dân tộc của mình, trở thành các nước cộng hòa UkrainaByelorussia.[7] Cho tới nay, sự kiện này vẫn được người dân Belarus kỷ niệm hàng năm và được coi là ngày quốc lễ với tên gọi "Ngày Tổ quốc thống nhất".

Nguyên nhân[sửa | sửa mã nguồn]

Các lãnh thổ mà Ba Lan chiếm của Nga năm 1921 được tô màu hồng. Màu xanh lá là đường Curzon, đường biên giới truyền thống giữa Đế chế Nga và Ba Lan

Quan hệ giữa Ba Lan và Nga vô cùng xấu kể từ khi Ba Lan giành độc lập. Với sự sụp đổ của Đế chế Nga và Đế chế Đức trong Thế chiến 1, hầu như tất cả các nước nhỏ ở Đông Âu đã phát động chiến tranh để tranh giành nhau lãnh thổ: Romania đánh nhau với Hungary để giành Transylvania, Nam Tư đánh nhau với Ý để giành Rijeka, Ba Lan đánh nhau với Tiệp Khắc để giành Cieszyn Silesia, đánh với Đức để chiếm Poznań và Đông Galicia. Không chỉ đánh nhau với Tiệp Khắc và Đức để giành lãnh thổ, Ba Lan còn muốn đánh nhau với nước Nga. Chính phủ Ba Lan muốn tái lập lãnh thổ mà Đế chế Ba Lan thời cực thịnh từng có vào thế kỷ 16, khi đó Ba Lan đã đánh chiếm và đô hộ các vùng đất Bạch NgaTiểu Nga (nay là BelarusUkraina). Được sự hậu thuẫn của Anh, Pháp, Hoa Kỳ (về sau có cả Đức) trong mục đích tiêu diệt nước Nga Xô viết, Chính quyền Ba Lan сho rằng thời gian lộn xộn do nội chiến ở Nga là cơ hội lý tưởng để đánh chiếm Belarus và Ukraina. Trong khi đó, Lenin có mong muốn truyền bá chủ nghĩa cộng sản tới Tây Âu, và Ba Lan là một chướng ngại mà nước Nga Xô viết sẽ phải vượt qua để cung cấp hỗ trợ cho phong trào cộng sản ở Tây Âu. Lenin cũng muốn giành lại quyền kiểm soát các vùng lãnh thổ mà Nga bị mất vào tay Đức trong Hiệp ước Brest-Litovsk tháng 3 năm 1918.

Vào ngày 16 tháng 11 năm 1918, chính phủ Bolshevik với mục tiêu mở rộng lãnh thổ về phía tây đã thành lập Quân đoàn Phương Tây. Vào ngày 18 tháng 11 năm 1918, Vladimir Lenin đã ra lệnh cho Hồng quân bắt đầu một chiến dịch có tên là Target Vistula. Mục tiêu cơ bản của chiến dịch này là tiến quân xâm lược vùng Đông ÂuTrung Âu (trong đó có Ba Lan), dựng nên những chính phủ Xô viết bù nhìn tại khu vực này và hỗ trợ cho các cuộc cách mạng cộng sản ở Đức và Áo-Hung. Vào ngày 5 tháng 1 năm 1919, Hồng quân đã chiếm Minsk và tiêu diệt nước Cộng hòa Nhân dân Belarus vừa mới được thành lập không lâu. Ngày 12 tháng 1, Bộ tư lệnh Tối cao Xô viết đã đề ra mục tiêu cụ thể của chiến dịch Target Vistula là tiến quân vượt sông Neman và đến ngày 12 tháng 2 thì vượt sông Bug để xâm nhập vào lãnh thổ Ba Lan. Trước tình hình đó, Ba Lan đã phải huy động quân tới Baranowicze và Pinsk để bảo vệ vùng biên cương của nước này và chuẩn bị cho một cuộc đụng độ với quân Nga. Kể từ đầu năm 1919, đã diễn ra rất nhiều cuộc giao tranh lẻ tẻ giữa quân đội Nga và Ba Lan ở vùng biên giới [13].

Ngày 14/2/1919, quân Ba Lan quyết định hành động trước, phát động tấn công vào lãnh thổ Nga trong Trận Bereza Kartuska (1919) và vượt sông Neman, chiến tranh nổ ra. Sau 1 năm chiến tranh, Hồng quân phản công và áp sát thành phố Warsawa. Trong trận Warsawa, quân đội Ba Lan dưới sự chỉ huy của Józef Piłsudski đã phản công và giành được thắng lợi lớn. Chiến thắng của Ba Lan trong cuộc chiến này đã ngăn chặn phong trào cộng sản lan rộng ở các nước Tây Âu, còn trận chiến Warsawa được nhà ngoại giao Anh Edgar Vincent cho là một trong những trận chiến có tầm quan trọng lớn nhất trong lịch sử[14] Sau trận Warsawa, quân Ba Lan đã tiến hành truy kích, đẩy lùi quân Nga và chiếm được một vùng đất rộng lớn ở phía đông của Đường Curzon (biên giới giữa 2 nước trước chiến tranh), bao gồm thành phố Vilnius, Đông Galicia (1919) bao gồm thành phố Lwów, cũng như hầu hết khu vực Volhynia. Tổng cộng, Ba Lan đã chiếm được gần 135.000 km2 lãnh thổ, lấn sâu khoảng 250 km về phía đông của đường Curzon (nay là miền Tây Ucraina và Tây Belarus)[15][16].

Do sống trong vùng lãnh thổ bị Ba Lan đánh chiếm, đã có khoảng 6 triệu người dân Belarusia và Ukraina (thuộc dân tộc Nga) phải chịu sự chiếm đóng của Ba Lan. Việc chính phủ Ba Lan thi hành chính sách đồng hóa người Belarusia và Ukraina đã thúc đẩy sự phát triển của các tổ chức dân tộc chủ nghĩa Ucraina chuyên đấu tranh chống lại sự chiếm đóng của Ba Lan[17][18]

Khi Hitler nắm quyền lực ở Đức vào năm 1933, chính Thủ tướng Ba Lan Pilsudski đã chủ trương liên minh với Pháp để chống lại Đức, thế nhưng Pháp lại tỏ ra thờ ơ[19]. Sự từ chối hợp tác của Pháp có thể coi là một trong những lí do khiến Ba Lan quyết định đàm phán với người Đức [20][21][22][23][24] Lo lắng về căng thẳng gia tăng giữa Đức quốc xã và Liên Xô cũng như lo sợ trở nên quá phụ thuộc vào các cường quốc châu Âu khác như Pháp, ngày 25 tháng 7 năm 1932, Ba Lan đã ký một hiệp ước không xâm lược với Liên Xô. Ngày 26 tháng 1 năm 1934, Ba Lan và Đức đã ký Hiệp ước không xâm phạm lẫn nhau Đức-Ba Lan [25] [26] Vậy là Ba Lan đã trở thành quốc gia đầu tiên liên minh với Đức Quốc xã[27] Bản Hiệp ước Đức-Ba Lan năm 1934 được coi là một ví dụ về sự thiếu suy tính, kém nhạy bén do ảnh hưởng bởi bệnh tật (ung thư và xơ vữa động mạch) của Thủ tướng Ba Lan Józef Piłsudski, đã góp phần mở đường cho những bước đi tiếp theo của Hitler[28]

Quan hệ của Ba Lan với Đức và Liên Xô trong nhiệm kỳ của Pilsudski là khá trung lập[29]. Hitler đã liên tục đề nghị một liên minh Đức-Ba Lan chống lại Liên Xô, nhưng Piłsudski đã từ chối [30]. Ngay trước khi qua đời, Piłsudski đã căn dặn Józef Beck tiếp tục duy trì quan hệ trung lập với Đức[31].

Sau cái chết của Thủ tướng Jozef Pilsudski, Ba Lan được lãnh đạo bởi một số sĩ quan từ Quân đoàn Ba Lan đã chiến đấu chống lại Nga trong Thế chiến thứ nhất, do vậy chính sách của Ba Lan dần chuyển sang thân thiện với Đức và đối đầu với Liên Xô, thậm chí Ba Lan còn nuôi ý định sẽ tiếp tục tấn công Liên Xô, chiếm trọn cả Belarus và Ucraina để vươn lên thành cường quốc châu Âu. Phía Liên Xô thì luôn nung nấu ý định thu hồi lại những đất đai mà bị mất vào tay Ba Lan sau thất bại trong cuộc chiến tranh giữa hai nước từ năm 1919-1921. Người dân Ukraina và Belarus ở vùng Đông Ba Lan thì luôn mong chờ cuộc tấn công của Hồng quân vào Ba Lan để sáp nhập vùng này vào Nga".[32]

Giáo sư Michael Jabara Carley của Đại học Montreal (Canada) cho rằng: “Trong thập niên 1930, Ba Lan đóng vai trò của kẻ phá bĩnh. Đó là một chính thể cực hữu rất giống kiểu độc tài, bài Do Thái và có cảm tình với chủ nghĩa phát xít. Năm 1934, khi Liên Xô cảnh báo về Hitler, Ba Lan đã ký ngay một hiệp ước không xâm lược lẫn nhau với Đức ở Berlin. Vậy ai đâm sau lưng ai?". Ông nhấn mạnh: "Cho đến năm 1939, Ba Lan đã làm tất cả những gì có thể để phá hoại các nỗ lực của Liên Xô trong việc xây dựng một liên minh chống chủ nghĩa Quốc xã, dựa trên liên minh chống Đức từ thời Thế chiến thứ 1, bao gồm Pháp, Anh, Italy và vào năm 1917 có cả Mỹ... Trong các năm 1934-1935, khi Liên Xô tìm kiếm một hiệp ước tương trợ với Pháp thì Ba Lan lại cố công cản trở điều này"[33].

Năm 1938, sau Hiệp ước Munich ký với Anh-Pháp, Đức đem quân tiêu diệt Tiệp Khắc. Năm 1938, sau Hiệp ước Munich ký với Anh-Pháp, Đức đem quân tiêu diệt Tiệp Khắc. Trước tình hình đó, căn cứ theo Hiệp ước năm 1934, Ba Lan yêu cầu rằng "nếu Hitler chuẩn bị chiếm vùng lãnh thổ Sudetenland thì Ba Lan cũng phải có phần là khu Teschen của Tiệp Khắc”. Đức đồng ý với đề nghị của Ba Lan. Vậy là cùng với Đức, Ba Lan đã đem quân xâm chiếm vùng Teschen của Tiệp Khắc. Đây là vùng lãnh thổ có đông người gốc Ba Lan sinh sống, và những người gốc Ba Lan này đã hoan nghênh sự chiếm đóng[34]. Ba Lan đã chiếm của Tiệp Khắc gần 1.700 kilômét vuông chung quanh Teschen với 228.000 dân, trong số này có 133.000 người Séc. Đức chấp thuận để Ba Lan chiếm vùng Teschen, khiến nhiều người Tiệp Khắc về sau đã căn cứ vào sự việc này để cáo buộc chính phủ Ba Lan đã đồng lõa với quân xâm lược Đức Quốc xã, tuy vậy chính phủ Ba Lan đã liên tục phủ nhận điều này.[35].

Cuối thập niên 1930, Liên Xô đã cố tạo một liên minh chống Đức với Anh quốc, PhápBa Lan.[h] Tuy nhiên các cuộc thương thảo lại tỏ ra khó khăn. Những người Liên Xô đòi một phạm vi ảnh hưởng trải dài từ Phần Lan đến România và đã đòi hỏi hỗ trợ quân sự để chống lại không chỉ bất cứ ai tấn công họ một cách trực tiếp mà còn cả các quốc gia nằm trong phạm vi ảnh hưởng theo đề xuất của họ.[36]. Liên Xô cũng yêu cầu quyền đi vào Ba Lan, România và các Quốc gia Baltic khi nào họ cảm thấy an ninh của mình bị đe dọa bởi Đức. Chính phủ các nước trên đã phản đối các đề nghị này của Liên Xô bởi vì, như Bộ trưởng Ngoại giao Ba Lan Józef Beck đã nói, họ sợ rằng một khi Hồng quân đã tiến vào lãnh thổ của họ thì đoàn quân này sẽ không chịu rút đi.[8] Những người Xô Viết thì không tin người Anh và người Pháp tôn trọng lời hứa an ninh chung, do họ đã bị thất bại trong việc giúp đỡ Tây Ban Nha chống lại những người ủng hộ chủ nghĩa phát xít hay bảo vệ Tiệp Khắc khỏi Đức Quốc xã. Liên Xô cũng hoài nghi rằng các Đồng minh phương Tây có ý định khiêu khích Liên Xô tuyên chiến với Đức, trong khi họ sẽ không trợ giúp mà chỉ đứng nhìn từ bên ngoài.[37] Phía Ba Lan cũng ngăn cản những nỗ lực của Pháp và Tiệp Khắc để đưa Liên Xô vào một mặt trận chung chống lại nước Đức phát xít.

Sau những nỗ lực đàm phán không có kết quả, Liên Xô đã từ bỏ các cuộc đàm phán với các quốc gia phương Tây và quay sang thương lượng với Đức. Theo giáo sư Robert C. Grogin (tác giả cuốn Kẻ thù tự nhiên), kể từ năm 1936, tuy cả Đức và Liên Xô đều công kích gay gắt lẫn nhau về mặt ngoại giao, Stalin đã tìm cách đàm phán để có một thỏa thuận hòa bình với Đức thông qua các sứ giả của cá nhân ông[38]. Ngày 23 tháng 8 năm 1939, Liên Xô đã ký Hiệp ước Molotov-Ribbentrop với Đức Quốc xã, làm cho Anh và Pháp ngạc nhiên. Cả hai chính phủ đều tuyên bố hiệp định này chỉ là một hiệp định không xâm lược nhau. Một phụ lục cho thấy hai bên đã thực sự thỏa thuận về lãnh thổ Ba Lan với nhau và chia Đông Âu làm hai phạm vi ảnh hưởng của Liên Xô và Đức.[d] Hiệp ước Molotov-Ribbentrop, được mô tả như một giấy phép chiến tranh, là một nhân tố chính trong quyết định của Hitler xâm lược Ba Lan.[8][39]

Đường biên giới mới theo kế hoạch và trên thực tế của châu Âu vào đầu năm 1940, theo Hiệp định Molotov-Ribbentrop, với các điều chỉnh sau này.

Hiệp định cung cấp cho Liên Xô thêm không gian phòng thủ ở phía tây.[40] Nó cũng cho Liên Xô một cơ hội lấy lại các lãnh thổ đã bị Ba Lan chiếm mất vào 20 năm trước và thống nhất các dân tộc tây Ukraina và Belarusia dưới một chính quyền Xô Viết, lần đầu tiên trong một nhà nước.[41] Mục tiêu chính của Liên Xô là tìm cách tái khôi phục tầm ảnh hưởng tại Đông Âu, lấy đó làm vùng đệm an ninh cho cuộc chiến sắp xảy ra với Đức. Lãnh đạo Liên Xô Joseph Stalin nhìn thấy các lợi thế trong một cuộc chiến với Tây Âu, mà có thể làm yếu đi các kẻ thù ý thức hệ của ông và mở ra các khu vực mới cho sự tiến ra của chủ nghĩa cộng sản.[42][f]

Ngay sau khi Đức xâm lược Ba Lan ngày 1 tháng 9 năm 1939, các lãnh đạo Đức Quốc xã bắt đầu thúc giục Liên Xô thực hiện phần cam kết của mình trong Hiệp định và tấn công Ba Lan từ phía đông. Đại sứ Đức tại Moskva, Friedrich Werner von der Schulenburg, và bộ trưởng ngoại giao Liên Xô, Vyacheslav Molotov, đã trao đổi một loạt tuyên bố chung ngoại giao về vấn đề này.[9] Liên Xô đã trì hoãn sự can thiệp của họ vì nhiều lý do. Họ đã bị làm rối trí bởi các sự kiện trong các xung đột biên giới với Nhật Bản khiến họ phải đem quân hỗ trợ Mông Cổ chống Nhật; họ cần thời gian để huy động Hồng quân; và họ đã nhìn thấy lợi thế ngoại giao trong việc đợi chờ cho đến khi Ba Lan đã bị làm tan rã trước khi Liên Xô tiến quân vào.[43][44]

Ngày 17 tháng 9 năm 1939, sau khi chính phủ Ba Lan đã bỏ chạy ra nước ngoài, Molotov đã tuyên bố trên đài phát thanh rằng tất cả các hiệp ước ký giữa Liên Xô và Ba Lan bây giờ đã vô hiệu,[g] do chính phủ Ba Lan đã từ bỏ nhân dân của mình và trên thực tế đã không tồn tại.[45] Cùng ngày, Hồng quân đã vượt biên giới vào Ba Lan.[5][46]

Chiến dịch quân sự[sửa | sửa mã nguồn]

Bố trí các sư đoàn Ba Lan vào ngày 1 tháng 9 năm 1939. Đa số các lực lượng Ba Lan được tập trung ở biên giới Đức; biên giới với Liên Xô có lực lượng phòng thủ ít hơn nhiều.
Tình hình sau ngày 14 tháng 9 năm 1939

Các lãnh đạo quân sự và chính trị Ba Lan đã biết rằng họ đang thua trong cuộc chiến với quân Đức thậm chí ngay cả khi cuộc tấn công của Liên Xô chưa diễn ra.[5] Tuy nhiên, họ đã từ chối đầu hàng hay đàm phán hòa bình với Đức. Thay vào đó, chính phủ Ba Lan đã ra lệnh tất cả các đơn vị quân đội di tản khỏi Ba Lan và tập hợp lại ở Pháp.[5] Ngay chính phủ Ba Lan đã chạy qua România khoảng nửa đêm 17 tháng 9 năm 1939. Các đơn vị quân Ba Lan đã tiến về khu vực đầu cầu Romania, chống đỡ các cuộc tấn công của Đức bên sườn và thỉnh thoảng đụng độ với quân Liên Xô bên kia. Trong những ngày sau lệnh di tản, Đức đã đánh bại Quân Kraków của Ba Lan và Lublin tại Trận Tomaszów Lubelski, kéo dài từ ngày 17 tháng 9 đế 20 tháng 9.[47]

Kế hoạch rút lui ban đầu của quân đội Ba Lan là rút lui và tập hợp lại dọc theo Đầu cầu Romania, một khu vực ở đông nam Ba Lan gần biên giới với Romania. Kế hoạch là cố thủ ở đó và chờ đợi một cuộc tấn công từ phía tây của Anh và Pháp như đã hứa, và giả thiết rằng Đức sẽ phải giảm các chiến dịch ở Ba Lan để chiến đấu trên một mặt trận thứ hai.[5] Anh, Pháp mong đợi các lực lượng Ba Lan cầm cự khoảng vài tháng nhưng cuộc tấn công của Liên Xô đã khiến cho chiến lược này lỗi thời.

Ngày 17/9, Hồng quân đã tiến vào vùng Kresy với 7 tập đoàn quân và giữa khoảng 450.000 và 1.000.000 quân.[5] Các đội quân này đã được bố trí trên hai Phương diện quân: Phương diện quân Belarusia dưới sự chỉ huy của Mikhail Kovalyov, và Phương diện quân Ukraina dưới sự chỉ huy của Semyon Timoshenko.[5] Trước đó, quân Ba Lan đã thất bại trong việc bảo vệ các biên giới phía tây của họ. Để đáp lại các cuộc tấn công của quân Đức, Ba Lan đã tiến hành một trận phản công lớn ở trong Trận Bzura, nhưng bị thất bại nặng. Quân đội Ba Lan ban đầu đã có một kế hoạch phòng thủ để đối phó với Liên Xô, nhưng họ không sẵn sàng đối phó với hai cuộc tấn công cùng lúc.[48] Đến thời điểm Liên Xô tấn công, Ba Lan đã phái phần lớn quân sang phía tây để chống quân Đức, khiến cho phía đông chỉ được bảo vệ bằng 20 tiểu đoàn không đủ sức mạnh, bao gồm 20.000 quân thuộc quân đoàn biên phòng (Korpus Ochrony Pogranicza) dưới sự chỉ huy của tướng Wilhelm Orlik-Rueckemann.[1][5]

Tướng Heinz Guderian (giữa) và đại tá Semyon Krivoshein (bên phải) tại cuộc duyệt binh ở Brest.

Ban đầu, tổng tư lệnh Ba Lan, Thống chế Ba Lan Edward Rydz-Śmigły, đã ra lệnh các lực lượng biên phòng chống cự lại quân Liên Xô. Sau đó ông đã đổi ý sau khi hội ý với Thủ tướng Felicjan Sławoj Składkowski và đã ra lệnh cho quân biên phòng rút lui và chỉ giao chiến với quân Liên Xô khi cần tự vệ.[1][6] Hai mệnh lệnh mâu thuẫn nhau đã dẫn đến sự hỗn loạn,[5] và khi Hồng quân tấn công các đơn vị Ba Lan, các bất đồng và các trận tranh luận nhỏ đã nổ ra không thể tránh được.[1]

Phản ứng của những người Ba Lan thuộc các nhóm sắc tộc khác nhau đối với tình hình đã tạo thêm sự rắc rối. Những người Ukraina,[m] người Belarusia[49]Do Tháis[50], những sắc tộc có nguồn gốc từ Đế quốc Nga, đã hoan nghênh các đoàn quân Liên Xô và xem họ như quân giải phóng. Tổ chức những người dân tộc Ukraina đã nổi dậy chống lại quân đội Ba Lan, và những người ủng hộ Liên Xô đã tổ chức các cuộc nổi dậy địa phương để chào đón Hồng Quân, ví dụ như ở Skidel.[5][j] Tháng 11, Liên Xô tuyên bố thu hồi lãnh thổ cũ bị Ba Lan chiếm đóng năm 1921 và 13,5 triệu người sống ở đây giờ là các công dân Liên Xô. Một số nhóm dân tộc chủ nghĩa Ba Lan hoặc cựu quân lính Bạch vệ đã chống lại, và Liên Xô đã trấn áp những nhóm vũ trang này bằng các vụ xử bắn hoặc bắt giữ hàng ngàn người.[51] Họ đã đưa hàng trăm ngàn (ước tính) người tới Siberia và những nơi xa xôi khác của Liên Xô trong bốn đợt di cư giữa giai đoạn 1939 và 1941.[b]

Quân Đức và Liên Xô gặp nhau tại biên giới

Các đơn vị Liên Xô thường gặp đối tác Đức tiến từ phía đối diện. Nhiều ví dụ nổi bật về sự hợp tác đã diễn ra giữa hai đội quân này trên chiến trường. Wehrmacht vượt qua Pháo đài Brest, một địa điểm đã bị Lữ đoàn tăng 29 của Liên Xô chiếm sau Trận Brześć Litewski vào ngày 17 tháng 9.[52] Tướng Đức Heinz Guderian và Lữ đoàn trưởng Liên Xô Semyon Krivoshein lúc đó đã tổ chức một cuộc diễu binh chiến thắng chung ở thị xã.[53] Lwów (Lviv) đã đầu hàng ngày 22 tháng 9, vài ngày sau khi Đức giao các chiến dịch bao vây cho Liên Xô.[54] Các lực lượng Liên Xô trước đó đã chiếm Wilno vào ngày 19 tháng 9 sau trận chiến một ngày, và họ đã chiếm Grodno vào ngày 24 tháng 9 sau một cuộc chiến kéo dài bốn ngày. Đến ngày 28 tháng 9, Hồng quân đã tiến đến tuyến sông Narew, Western Bug, Vistula và San—biên giới được Liên Xô đồng ý trước với Đức.

Hậu quả[sửa | sửa mã nguồn]

"Giải phóng những người anh em ở Tây Ucraina và Tây Belorussia, ngày 17/9/1939" Tem thư Liên Xô năm 1940
Tem thư năm 1999 do Belarus phát hành, dòng chữ ghi "kỷ niệm 60 năm thống nhất đất nước Belarus"

Trong cuộc tấn công, nhiều người Ukraina, Belarus và người Do Thái đã chào đón Hồng quân như những người giải phóng[55] Những người cộng sản địa phương tập hợp mọi người chào đón binh sĩ Hồng quân theo cách truyền thống của Nga bằng cách tặng bánh mì và muối trong các vùng ngoại ô phía đông của Brest. Một loại vòm khải hoàn được làm bằng hai cọc, được trang hoàng với cành lá và hoa vân sam. Một biểu ngữ, một dải khăn dài màu đỏ với một khẩu hiệu bằng tiếng Nga, nội dung tôn vinh Liên Xô và chào đón Hồng quân, được treo trên vòm.[56] Phản ứng của dân địa phương đã được đề cập bởi Lev Mekhlis, người đã nói với Stalin rằng người dân Tây Ucraina đã thực sự chào đón Hồng quân Liên Xô như người giải phóng. Hưởng ứng theo cuộc tấn công của Liên Xô, các Tổ chức dân quân Ucraina nổi dậy chống lại sự chiếm đóng của người Ba Lan, và các đảng cộng sản địa phương đã tổ chức các cuộc nổi dậy lật đổ bộ máy chính trị của Ba Lan, chẳng hạn như ở Skidel.

Sau cuộc họp ngày 18 Tháng 9 năm 1939, tức là một ngày sau khi Liên Xô tấn công Ba Lan, Chính phủ Anh đã quyết định sẽ không phản đối hành động của Liên Xô. Ngày 01 tháng 10 năm 1939, thủ tướng Anh Winston Churchill, qua các đài phát thanh Anh đã phát biểu[57]:

"...Việc quân đội Nga đứng chân tại vùng này (chỉ cuộc tấn công) là cần thiết cho sự an toàn của Nga chống lại các mối đe dọa của Đức Quốc xã. Ở mức độ nào đó, một mặt trận phía Đông đã được tạo ra và phát xít Đức đã không dám tấn công. Khi Herr von Ribbentrop được cử đến Moscow vào tuần trước đó để tìm hiểu thực tế, ông ta đã chấp nhận sự thật, rằng ý đồ của Đức Quốc xã nhằm vào các nước vùng Baltic và Ucraina đã phải đi đến điểm dừng."

Đến thời kỳ Chiến tranh Lạnh, cuộc tấn công bắt đầu được nhắc tới nhiều như một phương cách tuyên truyền làm chia rẽ khối Đông Âu. Ngày nay, quan điểm của phương Tây và Ba Lan coi cuộc tấn công của Liên Xô là sự xâm chiếm. Về vấn đề này, giáo sư Michael Jabara Carley của Đại học Montreal (Canada) thì lại cho rằng: “Trong khi kết tội phía Liên Xô đưa quân vào "lãnh thổ của Ba Lan", một số sử gia phương Tây bắt đầu mắc chứng “mất trí nhớ”, và quên rằng chính các lãnh thổ này - Tây UkraineTây Belarus - đã bị Ba Lan chiếm của Nga trong cuộc Chiến tranh Nga-Ba Lan từ năm 1919-1921. Cuộc chiến này do Ba Lan đơn phương phát động để chống lại nước Nga Xô viết - lúc đó đã tan hoang vì nội chiến”. Trước đó Ba Lan đã ký một hiệp ước không xâm lược lẫn nhau với Đức Quốc xã vào ngày 26/1/1934, và khi Đức xâm lược Tiệp Khắc năm 1938, Ba Lan cũng đã đem quân chiếm vùng Teschen (một vùng đất có rất đông người gốc Ba Lan sinh sống) của Tiệp Khắc vì không muốn vùng đất này bị Đức chiếm mất [35]. Carley cho rằng phương Tây ngày nay thường lờ đi những hành động này của Ba Lan mà chỉ tập trung vào quan hệ giữa Đức và Liên Xô[33].

Sau cuộc chiến, hàng chục ngàn tù nhân chiến tranh Ba Lan đã bị tử hình [58]. Vào ngày 24 tháng 9, Liên Xô đã giết chết 42 nhân viên và bệnh nhân của một bệnh viện quân đội Ba Lan tại làng Grabowiec, gần Zamość [59]. Liên Xô cũng đã xử tử tất cả các sĩ quan Ba Lan mà họ bắt được sau Trận Szack, vào ngày 28 tháng 9 năm 1939 [60]. Hơn 20.000 binh lính và thường dân Ba Lan đã bị giết hại trong vụ thảm sát Katyn. Tra tấn đã được NKVD sử dụng trên diện rộng ở nhiều nhà tù khác nhau, đặc biệt là những nhà tù ở các thị trấn nhỏ [61]. Rất nhiều dân thường Ba Lan đã bị kết án lao động khổ sai trong các trại giam Gulag.

Chính quyền Liên Xô cũng tiến hành bắt giữ một số lượng lớn trí thức Ba Lan, cựu quan chức, chính trị gia, công chức và nhà khoa học , trí thức vàc giáo sĩ, cũng như những người bình thường được cho là đe dọa đến sự cai trị của Liên Xô. Trong hai năm giữa cuộc xâm lược Ba Lan năm 1939 và cuộc xâm lược Liên Xô năm 1941 của Đức, Liên Xô đã bắt giữ và bỏ tù khoảng 500.000 người Ba Lan, chiếm 1/10 dân số nam giới trưởng thành của Ba Lan khi đó. Các thành viên bị bắt giữ của giới trí thức Ba Lan bao gồm cựu thủ tướng Leon Kozlowski và Aleksander Prystor, Stanisław Grabski và Stanisław Głąbiński, và gia đình Baczewski. Ban đầu chủ yếu nhắm vào các đối thủ chính trị tiềm năng, thế nhưng đến tháng 1 năm 1940, chiến dịch của NKVD cũng được chỉ đạo chống lại các đồng minh tiềm năng, bao gồm những người cộng sản và xã hội chủ nghĩa Ba Lan. Những người đã bị bắt giữ bao gồm Władysław Broniewski, Aleksander Wat, Tadeusz Peiper, Leopold Lewin, Anatol Stern, Teodor Parnicki, Marian Czuchnowski và nhiều người khác [62]. NKVD Liên Xô đã xử tử khoảng 65.000 người Ba Lan bị cầm tù sau một loạt các phiên tòa trá hình [63]. Số người Ba Lan đã chết do sự đàn áp của Liên Xô trong giai đoạn 1939-1941 được ước tính ít nhất là 150.000 người [64]. Giáo sư Tadeusz Piotrowski trích dẫn sử gia Norman Davies cho rằng: "Trên nhiều phương diện, những gì mà NKVD gây ra ở miền đông Ba Kan đã đem lại sự tàn phá lớn hơn nhiều so với Gestapo của Đức quốc xã [ở miền tây Ba Lan]" [65]

Năm 2009, Thủ tướng Nga Vladimir Putin đã viết một bức thư gửi cho tờ nhật báo Ba Lan Gazeta Wyborcza, trong đó ông cho rằng việc Đức và Liên Xô ký Hiệp ước Molotov Ribbentrop vào tháng 8 năm 1939 là "vô đạo đức"[66]

Trong khi đó, tài liệu Nga, Ucraina và Belarus thì mô tả chiến dịch ở Ba Lan là sự giải phóng hàng triệu người Nga khỏi ách chiếm đóng của Ba Lan. Ví dụ như sách "Lịch sử của cuộc chiến tranh thế giới thứ hai, 1939-1945" của Nga đã mô tả cuộc tấn công là "Chiến dịch giải phóng của quân đội Liên Xô" nhằm giành lại những lãnh thổ bị mất của Nước Mẹ, đồng thời chặn đà tiến của quân Đức tiến và ngăn chặn Đức khả năng sử dụng lãnh thổ của Tây Ucraina và Belarus Tây như một bàn đạp cho sự xâm lăng về phía Đông[67].

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â b c d đ (tiếng Ba Lan) Edukacja Humanistyczna w wojsku. 1/2005. Dom wydawniczy Wojska Polskiego. (Humanist Education in the Army.) 1/2005. Publishing House of the Polish Army). Truy cập 28 November 2006.
  2. ^ “Kampania wrześniowa 1939” [September Campaign 1939]. PWN Encyklopedia (bằng tiếng Ba Lan). Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 5 năm 2006. Truy cập ngày 16 tháng 7 năm 2007. 
  3. ^ Đại tướng Grigory Fedot Krivosheev, Thương vong của Liên Xô và tổn thất trong thế kỷ 20.
  4. ^ (tiếng Ba Lan) Kampania wrześniowa 1939 (Chiến dịch tháng 9 năm 1939) từ Bách khoa toàn thư PWN. Internet Archive, giữa-2006. truy cập ngày 16 tháng 7 2007.
  5. ^ a ă â b c d đ e ê g h i k Sanford, p. 20-24.
  6. ^ a ă â Gross, p. 17.
  7. ^ a ă Rieber, p 29.
  8. ^ a ă â Anna M. Cienciala (2004). Cuộc chiến đến và Đông Âu trong Thế chiến II II (lecture notes, Đại học Kansas). Truy cập 15 tháng 3 năm 2006.
  9. ^ a ă Điện báo được gửi bởi Schulenburg, đại sứ Đức tại Liên Xô, từ Moscow đến Văn phòng đối ngoại Đức: No. 317 ngày 10 tháng 9 năm 1939, No. 371 ngày 16 tháng 9 năm 1939, No. 372 ngày 17 tháng 9 1939. Dự án Avalon, Trường Luật Yale. Truy cập ngày 14 tháng 11 2006.
  10. ^ (tiếng Ba Lan) 1939 wrzesień 17, Moskwa Nota rządu sowieckiego nie przyjęta przez ambasadora Wacława Grzybowskiego (Công hàm của chính phủ Liên Xô gửi cho chính phủ Ba Lan ngày 17 tháng 9 năm 1939, bị từ chối bởi đại sứ Ba Lan Wacław Grzybowski). Truy cập ngày 15 tháng 11 năm 2006; Degras, pp. 37–45
  11. ^ (tiếng Ba Lan) obozy jenieckie żołnierzy polskich (Các trại tù cho lính Ba Lan). Bách khoa toàn thư PWN. Truy cập ngày 28 tháng 11 2006.
  12. ^ “ВОЕННАЯ ЛИТЕРАТУРА -- Военная история -- История Великой Отечественной войны Советского Союза 1941-1945 гг. (в 6 томах)” (bằng tiếng Nga). 
  13. ^ Davies, Norman, White Eagle, Red Star: the Polish-Soviet War, 1919–20, Pimlico, 2003, ISBN 0-7126-0694-7 trang 24-27.
  14. ^ Edgar Vincent D'Abernon, The Eighteenth Decisive Battle of the World: Warsaw, 1920, Hyperion Press, 1977, ISBN 0-88355-429-1
  15. ^ Michael Graham Fry; Erik Goldstein; Richard Langhorne (30 tháng 3 năm 2004). Guide to International Relations and Diplomacy. Continuum International Publishing Group. tr. 203. ISBN 978-0-8264-7301-1. Truy cập ngày 3 tháng 2 năm 2011. 
  16. ^ Spencer Tucker (11 tháng 11 năm 2010). Battles That Changed History: An Encyclopedia of World Conflict. ABC-CLIO. tr. 448. ISBN 978-1-59884-429-0. Truy cập ngày 3 tháng 2 năm 2011. 
  17. ^ Jan S. Prybyla (2010). When Angels Wept: The Rebirth and Dismemberment of Poland and Her People in the Early Decades of the Twentieth Century. Wheatmark, Inc. tr. 46–. ISBN 978-1-60494-325-2. Truy cập ngày 16 tháng 2 năm 2011. 
  18. ^ Aviel Roshwald (2001). Ethnic nationalism and the fall of empires: central Europe, Russia, and the Middle East, 1914-1923. Routledge. tr. 168–. ISBN 978-0-415-17893-8. Truy cập ngày 16 tháng 2 năm 2011. 
  19. ^ Cienciala (1967), p. 11
  20. ^ Tomasz Torbus, Nelles Guide Poland, Hunter Publishing, Inc, 1999, ISBN 3-88618-088-3 Google Books, p.25
  21. ^ George H. Quester, Nuclear Monopoly, Transaction Publishers, 2000, ISBN 0-7658-0022-5, Google Books, p.27. Note that author gives a source: Richard M. Watt, Bitter Glory, Simon and Schuster, 1979
  22. ^ Urbanowski, op.cit., Pages 539-540
  23. ^ Victor Rothwell, Origins of the Second World War, Manchester University Press, 2001, ISBN 0-7190-5958-5, Google Print, p.92
  24. ^ Kazimierz Maciej Smogorzewski. “Józef Piłsudski”. Encyclopædia Britannica. Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2006. 
  25. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên Urbank97_539–40
  26. ^ Urbankowski, Bohdan (1997). Józef Piłsudski: Marzyciel i strateg [Józef Piłsudski: Dreamer and Strategist] (Tiếng Ba Lan). 1–2. Warsaw: Wydawnictwo ALFA. ISBN 978-83-7001-914-3. Chương 1, trang 539-540.
  27. ^ https://www.thejc.com/on-this-day-the-german-polish-non-aggression-pact-1.20771
  28. ^ https://academic.oup.com/qjmed/article/96/5/325/1551292
  29. ^ Urbankowski, Bohdan (1997). Józef Piłsudski: Marzyciel i strateg [Józef Piłsudski: Dreamer and Strategist] (Tiếng Ba Lan). 1–2. Warsaw: Wydawnictwo ALFA. ISBN 978-83-7001-914-3. Chương 1, trang 539-540.
  30. ^ Hildebrand, Klaus (1973). The Foreign Policy of the Third Reich. Berkeley: University of California Press. ISBN 978-0-520-02528-8. trang 73
  31. ^ Urbankowski, Bohdan (1997). Józef Piłsudski: Marzyciel i strateg [Józef Piłsudski: Dreamer and Strategist] (Tiếng Ba Lan). 1–2. Warsaw: Wydawnictwo ALFA. ISBN 978-83-7001-914-3. Chương 1, trang 539-540.
  32. ^ William Shirer. Sự hưng thịnh và suy tàn của đế chế thứ ba.
  33. ^ a ă http://vov.vn/the-gioi/ho-so/ho-so-mat-phuong-tay-nhiet-tinh-ho-tro-hitler-tieu-diet-lien-xo-442646.vov
  34. ^ Zahradnik 1992, p86
  35. ^ a ă Watt 1998, 386.
  36. ^ Shaw, p 119; Neilson, p 298.
  37. ^ Kenez, pp. 129–31.
  38. ^ Robert C. Grogin (2001). Natural Enemies: The United States and the Soviet Union in the Cold War, 1917–1991. Lexington Books. tr. 28. ISBN 0739101609. 
  39. ^ Davies, Europe: A History, p. 997.
  40. ^ Dunnigan, p. 132.
  41. ^ Sanford, pp. 20–25; Snyder, p. 77.
  42. ^ Gelven, p.236.
  43. ^ Zaloga, p 80.
  44. ^ Weinberg, p. 55.
  45. ^ Degras, pp. 37–45. Extracts from Molotov's speech on Wikiquote.
  46. ^ Zaloga, p. 80.
  47. ^ Taylor, p. 38.
  48. ^ Szubański, Plan operacyjny "Wschód".
  49. ^ Piotrowski, p 199.
  50. ^ Gross, pp. 32–33.
  51. ^ Rummel, p.130; Rieber, p. 30.
  52. ^ Fischer, Benjamin B., ""Tranh cãi Katyn: Cánh đồng chết Stalin", Studies in Intelligence, mùa Đông 1999–2000. Truy cập 16 tháng 7 năm 2007.
  53. ^ Fischer, Benjamin B. (Winter 1999–2000). “The Katyn Controversy: Stalin's Killing Field”. Studies in Intelligence. Truy cập ngày 16 tháng 7 năm 2007. 
  54. ^ Ryś, p 50
  55. ^ Gross pp. 32–33
  56. ^ Юрий Рубашевский. (ngày 16 tháng 9 năm 2011). “Радость была всеобщая и триумфальная” (bằng tiếng Nga). Vecherniy Brest. 
  57. ^ “Blood, Sweat, and Tears”. Google Books. Truy cập 26 tháng 9 năm 2015. 
  58. ^ Sanford, George (2005). Katyn and the Soviet Massacre Of 1940: Truth, Justice And Memory. London, New York: Routledge. ISBN 0-415-33873-5.
  59. ^ https://web.archive.org/web/20070307143816/http://www.grabowiec.pl/portal/publikacje/epizod_roztrzelany_szpital.pdf
  60. ^ https://encyklopedia.interia.pl/geografia-nauki-pokrewne/miejscowosci/news-szack,nId,1995359
  61. ^ Gross, Jan Tomasz (2002). Revolution from Abroad: The Soviet Conquest of Poland's Western Ukraine and Western Belorussia. Princeton, NJ: Princeton University Press. ISBN 0-691-09603-1. page 182
  62. ^ https://web.archive.org/web/20060427041108/http://www.dziennik.com/www/dziennik/kult/archiwum/07-12-01/pp-11-09-02.html
  63. ^ Gross, Jan T. (1997). Bernd Wegner (ed.). From Peace to War: Germany, Soviet Russia and the World, 1939-1941. Militargeschichtliches Forschungsamt (corporate author). Berghahn Books. pp. 47–79, 77.
  64. ^ Gross, Jan T. (1997). Bernd Wegner (ed.). From Peace to War: Germany, Soviet Russia and the World, 1939-1941. Militargeschichtliches Forschungsamt (corporate author). Berghahn Books. pp. 47–79, 77.
  65. ^ Tadeusz Piotrowski (1997). Poland's Holocaust: Ethnic Strife, Collaboration with Occupying Forces and Genocide... McFarland & Company. p. 9. ISBN 0-7864-0371-3.
  66. ^ Kuhrt, Natasha (2014). Russia and the World: The Internal-External Nexus. Routledge. tr. 23. ISBN 1-317-85037-8. 
  67. ^ “ВОЕННАЯ ЛИТЕРАТУРА -- Военная история -- История Великой Отечественной войны Советского Союза 1941-1945 гг. (в 6 томах)” (bằng tiếng Nga). 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]