Phương diện quân

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm


Phương diện quân (tiếng Nga: Военный фронт, chữ Hán: 方面軍) là tổ chức quân sự binh chủng hợp thành cấp chiến dịch chiến lược cao nhất của Quân đội Đế quốc Nga, Quân đội Liên Xô (trước đây), đồng thời cũng là một biên chế trong quân đội Đế quốc Nhật Bản (trong Chiến tranh thế giới thứ hai), Quân giải phóng nhân dân Trung QuốcQuân đội Trung Hoa dân quốc (thời kỳ nội chiến Quốc-Cộng). Là biên chế quân sự có quy mô lớn, Phương diện quân có đủ khả năng độc lập tác chiến hợp thành binh chủng quy mô lớn trên một hướng, một địa bàn chiến lược có chính diện tấn công từ 100 đến trên 500 km và chiều sâu nhiệm vụ từ 50 đến trên 200 km trong 1 chiến dịch tấn công. Trong tác chiến phòng ngự, một phương diện quân cũng có thể đảm nhiệm chính diện phòng ngự từ 100 đến 500 km và chiều sâu phòng ngự lên đến 200 km.

Là tổ chức quân sự binh chủng hợp thành cấp cao nhất, một Phương diện quân thường được biên chế đầy đủ các binh chủng bộ binh, kỵ binh, tăng thiết giáp, pháo binh, phòng không, công binh và các binh chúng đảm bảo kỹ thuật hậu cần khác. Trong thời gian nửa sau cuộc Chiến tranh Vệ quốc vĩ đại, một Phương diện quân Liên Xô còn được biên chế tăng cường 1 đến 2 Tập đoàn quân Không quân với 2 đến 5 sư đoàn không quân.

Phương diện quân Đế quốc Nga[sửa | sửa mã nguồn]

Thuật ngữ phương diện quân (фронт) lần đầu tiên được sử dụng trong quân đội Đế quốc Nga trong Chiến tranh Nga-Thổ Nhĩ Kỳ (1877–1878) với sự thành lập 3 phương diện quân đầu tiên là Phương diện quân Tây, Phương diện quân NamPhương diện quân Đông.[1] Về sau, thêm 2 phương diện quân nữa được thành lập là Phương diện quân BalkanPhương diện quân Kavkaz.

Khi Chiến tranh thế giới thứ nhất bùng nổ, Bộ tổng hành dinh Đế quốc Nga đã cho thành lập 2 phương diện quân để đảm trách các mặt trận khác nhau là Phương diện quân Tây Bắc đảm trách mặt trận với Đế quốc ĐứcPhương diện quân Tây Nam đảm trách mặt trận với Đế quốc Áo-Hung. Tháng 8 năm 1915, Phương diện quân Tây Bắc được chia thành Phương diện quân BắcPhương diện quân Tây. Cuối năm 1916, Phương diện quân Rumani được thành lập, gồm các đơn vị tàn quân của quân đội Rumani, đặt dưới quyền chỉ huy của Bộ tổng hành dinh Đế quốc Nga. Tháng 4 năm 1917, Phương diện quân Kavkaz được tổ chức trên cơ sở của Tập đoàn quân Kavkaz.

Biên chế Phương diện quân tồn tại cho đến khi Đế quốc Nga sụp đổ, nước Nga Xô viết được thành lập và tuyên bố rút khỏi chiến tranh.

Phương diện quân Liên Xô[sửa | sửa mã nguồn]

Phương diện quân Liên Xô được xây dựng từ thời Nội chiến Nga theo mô hình Phương diện quân của quân đội Đế quốc Nga trong chiến tranh thế giới thứ nhất. Nó bao gồm từ 3 đến 5 sư đoàn bộ binh, 2 đến 3 sư đoàn kỵ binh và một số trung đoàn pháo binh. Trong thời kỳ 1922-1941, Quân đội Liên Xô tổ chức theo mô hình quân khu. Trong Chiến tranh vệ quốc vĩ đại, các quân khu trên phần lãnh thổ châu Âu của Liên Xô được chuyển thành các phương diện quân. Quân khu Leningrad chuyển thành Phương diện quân Leningrad. Quân khu đặc biệt Pribaltic chuyển thành Phương diện quân Tây Bắc. Quân khu đặc biệt miền Tây được chuyển thành Phương diện quân Tây. Quân khu đặc biệt Kiev được chuyển thành Phương diện quân Tây Nam. Riêng Quân khu Odessa được chuyển thành Tập đoàn quân độc lập số 9. Ở vùng Viễn Đông, có 1 quân khu và 1 phương diện quân được chuyển và chia tách thành 3 Phương diện quân. Quân khu Zabaikal được chuyển thành Phương diện quân Zabaikal (năm 1941), Phương diện quân Viễn Đông được chia tách thành Phương diện quân Viễn Đông 1Phương diện quân Viễn Đông 2.

Trải qua gần 4 năm chiến tranh, đã có 38 lượt các phương diện quân được thành lập mới, giải thể, chia tách, sáp nhập, thành lập lại. Cuối cuộc chiến tranh, Quân đội Liên Xô có 10 phương diện quân tham gia các trận đánh cuối cùng ở châu Âu gồm có: (từ Bắc xuống Nam)

Kết thúc chiến tranh, các phương diện quân này đều được giải thể hoặc sáp nhập với nhau để thành lập các quân khu.

Phương diện quân Ba Lan[sửa | sửa mã nguồn]

Lịch sử quân sự Ba Lan cũng ghi nhận từng tồn tại biên chế phương diện quân trong một thời gian ngắn ngủi.

Khi Cuộc tấn công Ba Lan (1939) nổ ra, ngày 10 tháng 9 năm 1939, Bộ Tổng chỉ huy quân đội Ba Lan đã cho thành lập Phương diện quân Bắc (tiếng Ba Lan: Front Północny), do Thống chế Edward Rydz-Smigly làm tư lệnh. Hai ngày sau, Phương diện quân Nam (tiếng Ba Lan: Front Południowy) cũng được thành lập, do Đại tướng Kazimierz Sosnkowski làm tư lệnh. Tuy nhiên, trước sức mạnh tiến công thần tốc và áp đảo của quân Đức Quốc xã, cả 2 phương diện quân Ba Lan đều nhanh chóng thất bại và tan rã chỉ chưa đầy 2 tuần sau khi thành lập.

Trong cuộc chiến tranh Xô-Đức, nhiều binh sĩ người Ba Lan chiến đấu trong các đơn vị Hồng quân, dần dần được tập hợp thành Tập đoàn quân 1 Ba Lan (tiếng Ba Lan: Pierwsza Armia Wojska Polskiego), còn gọi là Tập đoàn quân Berling; và Tập đoàn quân 2 Ba Lan (tiếng Ba Lan: Druga Armia Wojska Polskiego). Năm 1944, 2 tập đoàn quân này được xây dựng thành nòng cốt trong biên chế Phương diện quân Ba Lan trong Quân đội Nhân dân Ba Lan. Tuy nhiên trên thực tế, Tập đoàn quân Berling vẫn tiếp tục chiến đấu trong đội hình của Phương diện quân Belorussia 1 cho đến hết chiến tranh. Khi chiến tranh chấm dứt, biên chế phương diện quân cũng bị bãi bỏ hoàn toàn.

Phương diện quân Đế quốc Nhật Bản[sửa | sửa mã nguồn]

Trước 1937, biên chế đơn vị chính thức cao nhất của Lục quân Đế quốc Nhật Bản là cấp sư đoàn. Trong quốc nội, mọi sư đoàn đều được đặt trực tiếp dưới quyền điều động của Đại bản doanh với Tổng tư lệnh về danh nghĩa là Thiên hoàng. Ở hải ngoại, các sư đoàn được đặt dưới sự chỉ huy của các bộ tư lệnh thống nhất, được gọi là quân (軍, gun). Các bộ tư lệnh thống nhất đầu tiên gồm có Chi Na trú đồn quân (支那駐屯軍, Shina Chutongun; thành lập 1901), Triều Tiên quân (朝鮮軍, Chōsengun; thành lập 1904), Đài Loan quân (台湾軍, Taiwangun; thành lập 1919) và Quan Đông quân (関東軍, Kantōgun; thành lập 1919). Trừ Triều Tiên quân có quy mô cấp sư đoàn, các quân còn lại đều có quy mô cấp quân đoàn.

Khi chiến tranh Trung-Nhật nổ ra, các đơn vị cấp quân đoàn chính thức được thành lập, đồng thời cũng hình thành biên chế đơn vị mới là cấp phương diện quân. Phương diện quân đầu tiên của Lục quân Đế quốc Nhật BảnPhương diện quân Bắc Chi Na (北支那方面軍, Kita Shina hōmengun), thành lập ngày 31 tháng 8 năm 1937, do Đại tướng Terauchi Hisaichi làm Tư lệnh, gồm Quân đoàn 1, quân đoàn 2, 2 sư đoàn độc lập và Lữ đoàn hỗn hợp đồn trú Trung Quốc (tổ chức lại từ Chi Na trú đồn quân). Đến ngày 7 tháng 11 năm 1937, Phương diện quân Trung Chi Na (中支那方面軍 Naka Shina hōmengun) cũng được thành lập. Quân số của các phương diện quân Nhật Bản thời kỳ này xấp xỉ từ 70.000 đến 100.000 quân, thực tế chỉ tương đương với cấp tập đoàn quân tiêu chuẩn của châu Âu.

Chiến tranh càng mở rộng, lực lượng viễn chinh Nhật Bản trên chiến trường Trung Quốc càng được tăng cường. Năm 1939, biên chế đơn vị trên cấp phương diện quân là cấp Tổng quân (総軍; sōgun) được thành lập. Đơn vị cấp Tổng quân đầu tiên là Chi Na phái khiển quân, thành lập ngày 12 tháng 9 năm 1939, với quân số xấp xỉ 220.000 quân, tương đương quân số của một phương diện quân của Liên Xô giai đoạn 1941-1942.

Do đều sử dụng danh xưng chung là gun, rất dễ gây ra nhầm lẫn trong các tài liệu quân sự khi các đơn vị cùng mang danh xưng là gun, nhưng có đơn vị tương cấp Phương diện quân như Quan Đông quân (関東軍; Kantōgun), có đơn vị tương đương cấp Tập đoàn quân như Đông Bộ quân (東部軍, Tobugun), nhưng cũng có đơn vị chỉ tương đương cấp Quân đoàn như Đệ nhất quân (第1軍, Dai-ichi gun).

Như đã nêu trên, một phương diện quân Nhật Bản chỉ có biên chế tương đương với một tập đoàn quân của châu Âu. Một Phương diện quân của Lục quân Đế quốc Nhật Bản thường gồm 1 đến 2 quân đoàn, 3 đến 6 sư đoàn độc lập, một số lữ đoàn và các đội vệ binh, cảnh vệ. Một số phương diện quân của Lục quân Đế quốc Nhật Bản còn được phiên chế thêm các đơn vị không quân, hải đội.

Trước khi Nhật hoàng tuyên bố đầu hàng, Lục quân Đế quốc Nhật Bản vẫn còn 18 đơn vị cấp phương diện quân đang hoạt động.

Phương diện quân Trung Hoa Dân Quốc[sửa | sửa mã nguồn]

Khi chính quyền Trung Hoa Dân quốc được thành lập, các đơn vị vũ trang đều nằm trong tay các thế lực quân phiệt. Với mục tiêu thống nhất, với sự trợ giúp của Liên Xô, Trường quân sự Hoàng Phố được thành lập năm 1924, đào tạo nhiều sĩ quan trẻ làm nòng cốt cho Quốc dân Cách mệnh quân (gọi tắt là Quốc dân quân), lực lượng quân sự của Trung Hoa Quốc Dân đảng. Tháng 8 năm 1925, Quốc dân quân được tái tổ chức theo biên chế thống nhất. Theo đó, biên chế cao nhất là cấp Quân (), binh lực xấp xỉ 1 vạn binh sĩ. Mỗi Quân do Quân trưởng làm Tư lệnh và Đại biểu đảng (Quốc dân Đảng) làm Chính ủy. Dưới cấp Quân là cấp Sư, dưới Sư là cấp Đoàn. Bấy giờ Quốc dân quân có cả thảy 8 Quân, vì vậy còn có tên hiệu là Bát cá quân, ban đầu được phân biệt theo tên của Tư lệnh và Chính ủy, về sau được đánh phiên hiệu từ 1 đến 8.

Khi chiến tranh Bắc phạt nổ ra, số lượng các Quân mới thành lập tăng lên. Bên cạnh đó, các đơn vị quân sự của các quân phiệt (hoặc bị đánh bại, hoặc quy thuận) được sát nhập vào Quốc dân quân, cũng làm gia tăng nhu cầu tái tổ chức quân đội.

  • Phương diện quân 1 (Tân Nhất quân): Thành lập tháng 2 năm 1943 từ những đơn vị còn lại của các Quân đoàn 5, 6, 11 và sư đoàn 74 (chiến đấu trong hàng ngũ quân đội Anh) rút từ Miền Điện về. Biên chế ban đầu gồm các sư đoàn 22, 30 và 38.
  • Phương diện quân 4 (Lộ quân số 4): Được thành lập tháng 5 năm 1926 do Triệu Khánh và Tân Hội chỉ huy. Tham gia chiến dịch tiễu phạt thế lực quân phiệt của Ngô Bội Phu. Giải thể ngày 25 tháng 12 năm 1937. Các đơn vị của nó được chuyển giao cho Tân Tứ quân.
  • Phương diện quân 19 (Lộ quân số 19): Được thành lập năm ngày 28 tháng 1 năm 1932 tại Thượng Hải trong Quân đội Cách mạng Trung Hoa của Trung Hoa Dân Quốc do tướng Thái Đình Khải làm tư lệnh. Giải thể năm 1934.

Từ năm 1938, Quân đội Trung Hoa Dân quốc chuyển sang sử dụng tổ chức quân sự tác chiến chiến lược hiểu Cụm tập đoàn quân. Trong thời gian 10 năm từ 1938 đến 1947, đã có 40 Cụm tập đoàn quân (Army Group, 集團軍) được thành lập.

Phương diện quân Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc[sửa | sửa mã nguồn]

  • Phương diện quân Hồng kỳ 1: thành lập năm 1927 ở Thụy Kim, Giang Tây. Tư lệnh: Chu Đức. Chính ủy: Mao Trạch Đông.
  • Phương diện quân Hồng kỳ 2: Thành lập năm 1927 ở Thụy Kim, Giang Tây. Tư lệnh: Hạ Long. Chính ủy: Nhiệm Bật Thời.
  • Phương diện quân Hồng kỳ 4 (thành lập lần thứ nhất): ở Thụy Kim, Giang Tây. Đồng Tư lệnh: Trương Quốc Đào - Từ Hướng Tiền. Chính ủy: Chen Changhao.
  • Phương diện quân dã chiến 8 (Bát lộ quân). Nguyên là Tập đoàn quân 18 do Đảng Cộng sản Trung Quốc thành lập ngày 22 tháng 9 năm 1937 dưới cờ Trung Hoa dân quốc trong thời kỳ liên minh Quốc-Công chống Đế quốc Nhật Bản. Đến ngày 1 tháng 8 năm 1938, Tập đoàn quan 18 được nâng cấp thành Phương diện quân (Dã chiến quân số 8). Thành phần ban đầu gồm các sư đoàn 115, 120 và 129 là nòng cốt của Tập đoàn quân 18. Bát Lộ quân là nòng cốt để thành lập Quân Giải phóng nhân dân Trung Quốc sau này. Ngày thành lập Bát lộ quân được lấy là ngày thành lập Quân Giải phóng nhân dân Trung Quốc.
  • Phương diện quân dã chiến 4 (Tân Tứ quân tái lập). Thành lập lại ngày 25 tháng 12 năm 1937 dưới cờ Trung Hoa dân quốc trong thời kỳ Quốc-Cộng hợp tác chống Đế quốc Nhật Bản. Tư lệnh: Diệp Đình. Chính ủy: Trần Canh. Tân Tứ quân là một trong hai đơn vị nòng cốt để thành lập Quân Giải phóng nhân dân Trung Quốc sau này.
  • Phương diện quân Hoa Đông (Dã chiến quân Hoa Đông): Thành lập và hoạt động trong Nội chiến Quốc-Cộng 1946-1949. Tư lệnh: Nhiếp Vinh Trăn, Phó tư lệnh: Từ Hướng Tiền
  • Phương diện quân Đông Bắc (Dã chiến quân Đông Bắc): Thành lập và hoạt động trong Nội chiến Quốc-Cộng 1946-1949. Tư lệnh: Lâm Bưu
  • Phương diện quân Mãn Châu (Dã chiến quân Mãn Châu): Thành lập và hoạt động trong Nội chiến Quốc-Cộng 1946-1949.
  • Chí nguyện quân Nhân dân Trung Quốc: (Đơn vị tương đương Phương diện quân). Tư lệnh: Bành Đức Hoài. Tham gia Chiến tranh Triều Tiên 1950-1953. Tỏng quân số khoảng 926.000 người.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Сборник Материалов по Русско-Турецкой войне 1877—78 г.г. на Балканском полуострове., авторы: (ред.) Военно-Историческая Комиссия Главного Управления Генерального штаба, Дата создания: 1877 — 1878, опубл.: 1898 — 1911.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Сборник Материалов по Русско-Турецкой войне 1877—78 г.г. на Балканском полуострове., авторы: (ред.) Военно-Историческая Комиссия Главного Управления Генерального штаба, Дата создания: 1877 — 1878, опубл.: 1898 — 1911.
  • М. Попов, Полный словарь иностранных слов, вошедших в употребление в русском языке, 1907 год;
  • Ф. Павленков, Словарь иностранных слов, вошедших в состав русского языка, 1907 год;
  • А. Н. Чудинов, Словарь иностранных слов, вошедших в состав русского языка, 1910 год;
  • Краткий словарь оперативно-тактических и общевоенных терминов. — Москва. 1958 год;
  • Составители А. М. Плехов, С. Г. Шапкин, Словарь военных терминов. — Bản mẫu:М: Воениздат 1988 год;
  • Г. Ф. Кривошеев, В. М. Андроников, П. Д. Буриков. Гриф секретности снят: Потери Вооруженных Сил СССР в войнах, боевых действиях и военных конфликтах: Стат. исслед./ / Г. Ф. Кривошеев. — Москва: Воениздат, 1993. — 370 с. — ISBN 5-203-01400-0.
  • Феськов В.И., Калашников К.А., Голиков В.И. Красная Армия в победах и поражениях 1941-1945 гг. / Э.И. Черняк. — Томск: Томского университета, 2003. — 614 с. — ISBN 5-7511-1624-0.
  • Коллектив авторов. Великая Отечественная война 1941-1945 гг.: Действующая армия / В.А. Золотарев. — Москва: Animi Fortitudo, Кучково ноле, 2005. — 664 с. — ISBN 5-86090-114-3.
  • John Erickson, The Road to Stalingrad: Stalin's War with Germany, Weidenfeld & Nicolson, London, 1975
  • David Glantz, Colossus Reborn: The Red Army at War 1941-43, University Press of Kansas, 2005