Strela 2

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
9K32 Strela-2
Ký hiệu NATO: SA-7 Grail
SA-7.jpg
Một tên lửa KBM Kolomna 9K32 Strela-2 và dàn phóng
Loại tên lửa đất đối không cá nhân (MANPADS)
Nguồn gốc  Liên Xô
Lược sử hoạt động
Trang bị 1968-nay
Quốc gia sử dụng Xem Các quốc gia sử dụng

 Liên Xô
 Nga
 Việt Nam
 Cuba
 Lào
 Campuchia
 Iraq
 Iran
 Syria
 Trung Quốc
 Ukraina
 Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên
 Pakistan
 Liban
 Mông Cổ
 Mozambique
 Tiệp Khắc
 Indonesia
 Afghanistan

Lược sử chế tạo
Nhà thiết kế KBM (Kolomna)
Năm thiết kế Khoảng năm 1964
Thông số kỹ chiến thuật
Khối lượng 9.8 kg (đạn Strela-2M)[1]
15 kg (cả hệ thống)[1]
Chiều dài 1.44 m[1]
Đường kính 72 mm[1]

Tầm bắn xa nhất 3700m (Strela-2)

4200m (Strela-2M)[1]


Độ cao bay 50–1500 m (Strela-2)
50–2300m (Strela-2M)[1]
Tốc độ 430m/s (Strela-2)
500m/s (Strela-2M)[2]
Hệ thống điều khiển Hồng ngoại bị động

9K32 "Strela-2" (tiếng Nga 9К32 "стрела-2", ký hiệu của NATO SA-7 "Grail") là một tên lửa đất đối không vác vai, tương tự như loại FIM-43 Redeye của Hoa Kỳ. Loại tên lửa này có điều khiển, sử dụng hệ dẫn hướng hồng ngoại bị động.

Strela 2 là thế hệ đầu của loại tên lửa vác vai Liên Xô, nó được đưa vào trang bị vào khoảng năm 1968. Mặc dù Strela 2 bị hạn chế về tầm bắn, tốc độ và độ cao, nhưng nó rất hữu hiệu khi đối phó với các mục tiêu bay thấp như máy bay ném bom bổ nhào, máy bay vận tải hoặc trực thăng, hay chí ít có thể buộc các phi công của đối phương phải bay cao hơn tầm hoạt động hiệu quả của nó, điều này làm tăng khả năng của việc phát hiện bằng ra đa và dễ bị tấn công bởi các hệ thống phòng không khác.

Cho tới thời điểm 2017, sau 50 năm được chế tạo, Strela-2 vẫn tiếp tục được sử dụng bởi một số quân đội, lực lượng quân sự. Strela-2 hiện đang giữ thành tích bắn hạ nhiều máy bay nhất trong số các tổ hợp tên lửa phòng không vác vai trên thế giới, hơn cả loại FIM-92 Stinger của Mỹ.

Lịch sử phát triển[sửa | sửa mã nguồn]

Strela 2 có hai mẫu là: 9K32 Strela-2 (SA-7A) được đưa vào trang bị từ năm 1968, nhưng nó sớm được thay thế bằng phiên bản cải tiến là 9K32M Strela-2M (SA-7B). Tên lửa 9K32 Strela-2 sử dụng ống phóng 9Π54, còn tên lửa được phóng từ ống phóng 9Π54 M.

Với sự ra đời của Strela 2, lần đầu tiên bộ binh được trang bị loại vũ khí phòng không có tầm bắn tới 4 km mà lại gọn nhẹ, chỉ cần vận hành bởi 1 người và có thể mang vác dễ dàng bởi mọi phương tiện vận chuyển, từ xe jeep tới môtô 2 bánh (súng bộ binh chỉ có tầm bắn khoảng vài trăm mét, trong khi pháo phòng không có tầm bắn tương đương, nhưng phải cần nhiều người để vận hành cũng như cần phải có xe ôtô để kéo pháo). Nhờ gọn nhẹ, Strela-2 có khả năng cơ động rất cao, có thể phóng từ mọi điều kiện chiến trường, từ rừng rậm tới sông hồ, từ chiến hào cho tới đô thị (pháo phòng không thì phải thiết lập trận địa bắn tại một khu vực bằng phẳng và quang đãng), nhờ vậy nó rất hiệu quả với lối đánh du kích.

Trung Đông[sửa | sửa mã nguồn]

Trong giai đoạn 1969-1970, quân đội Ai Cập đã tiêu diệt được 36 máy bay Israel với 99 lần phóng SA-7. Nó bắn hạ mục tiêu đầu tiên là một chiếc A-4 Skyhawk của Israel. Trong chiến tranh Yom Kippur năm 1973, SA-7 đã bắn hạ từ 7 tới 18 máy bay.

Trong giai đoạn từ 1978 đến 1986, SA-7 của Syria và của du kích Palestine đã bắn rơi 04 máy bay (01 chiếc Kfir, 1 chiếc F-4, 2 chiếc A-4), 03 chiếc máy bay lên thẳng (2 chiếc AH-1, 1 chiếc UH-1) của Không quân Israel và 01 chiếc máy bay cường kích hải quân A-7 (số hiệu 157486) của Không quân hải quân Mỹ.

Strela-2 của Lybia có thể đã hạ 01 chiếc MiG-21 của Ai cập vào tháng 7/1977, và 01 chiếc Specat Jaguar của Pháp tháng 5/1978.

Trong chiến dịch “Bão táp sa mạc”, Strela-2 của Iraq bắn rơi 1 chiếc Tornado của Anh, 01 chiếc AC-130 của Không quân Mỹ, 01 chiếc AV-8B Harrier của Không quân hải quân Mỹ.

Trong chiến tranh Iraq lần thứ hai, trong tháng 1/2006, các chiến binh Iraq đã dùng Strela-2 hạ 01 chiếc máy bay trực thăng chiến đấu AH-64 Apache của Không quân lục quân Mỹ.

Tháng 5-6/1997, quân người Kurd đã dùng Strela-2 bắn rơi 2 máy bay lên thẳng loại AH-1W và AS-532UL của Thổ Nhĩ Kỳ.

Tại Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Tên lửa vác vai 9K32 Strela-2 (có nghĩa là mũi tên) được trang bị cho Quân đội Nhân dân Việt Nam từ năm 1972 và được gọi với cái tên A-72. Tên lửa Strela 2 với đặc điểm gọn nhẹ, dễ cơ động, khả năng sát thương cao đã trở thành hiểm họa của máy bay tầm thấp, đặc biệt là máy bay không người lái, máy bay vận tải và trực thăng. Theo thống kê của Nga, đã có 589 quả SA-7 được phóng tại Việt Nam trong giai đoạn 1972-1975, trong đó 204 quả đã bắn trúng đích (tỷ lệ trúng đích 29,5%)[3]. Một nguồn khác thống kê trong 3 năm, chỉ với một tiểu đoàn tinh gọn (Tiểu đoàn 172), Tiểu đoàn 172 đã phóng 408 tên lửa, diệt 157 máy bay, đạt hiệu suất tiêu diệt 37,5%, cao hơn so với tính toán thiết kế là 30%. Trong tiểu đoàn có hàng chục xạ thủ hạ được 4 máy bay trở lên, xạ thủ cao nhất hạ tới 16 máy bay.

Tính riêng từ đầu năm 1972 đến tháng 01/1973, các chiến sĩ Việt Nam đã dùng Strela-2 bắn hạ 29 máy bay Mỹ (01 chiếc F-4, 7 chiếc O-1, 03 chiếc O-2, 04 chiếc OV-10, 09 chiếc A-1, 04 chiếc A-37) và 14 máy bay lên thẳng (01 chiếc CH-47, 04 chiếc AH-1, 09 chiếc UH-1).

  • Chiến sĩ Nghiêm Xuân Đán, người xã Tri Chỉ (Phú Xuyên, Hà Nội), là người Việt Nam đầu tiên bắn rơi máy bay bằng tên lửa A-72 trong trận đánh tại Núi Gió, gần Thị xã Bình Long, năm 1972.
  • Chiến sĩ Nguyễn Ngọc Chiến, trong các năm 1974-1975, với 5 quả đạn A-72 đã diệt 6 máy bay, đủ loại C-47, C-123, CH-54, HU1A... Tại Mộc Hóa, Kiến Tường, bằng một quả A-72, ông Chiến đã diệt 2 máy bay, trong đó chiếc CH-46 trúng đạn văng thành nhiều mảnh lửa khiến chiếc HU-1A bay bên cạnh cũng bốc cháy theo. Ngoài ra, còn có liệt sĩ Hoàng Anh Quyết cũng lập thành tích 1 tên lửa hạ 2 máy bay.
  • Xạ thủ Nguyễn Văn Thoa (sinh năm 1952, ngụ tại thôn Cao Bình, xã Cao Đại, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc) đã sử dụng SA-7 tiêu diệt 13 máy bay địch. Bằng 18 quả tên lửa trong 6 trận đánh, ông hạ được 13 chiếc máy bay. Ngoài máy bay trinh sát L-19, trực thăng chiến đấu HU-1A còn có cả máy bay ném bom CH-54, máy bay vận tải hạng nặng C-130. Ông Thoa cũng là người bắn hạ chiếc máy bay địch cuối cùng trong chiến tranh: bắn hạ chiếc máy bay C-130 tại xã Tân Thới Hiệp, Hóc Môn (phía bắc Sân bay Tân Sơn Nhất) vào lúc 9 giờ 30 phút, ngày 30/4/1975[4]
  • Các xạ thủ A-72 Việt Nam có thành tích cao nhất gồm có: Hoàng Văn Quyết (bắn rơi 16 máy bay), Nguyễn Văn Thoa (bắn rơi 13 máy bay), Nguyễn Đắc Luận (bắn rơi 9 máy bay), Trần Văn Xuân (bắn rơi 8 máy bay).

Trong các năm 1983-1985, Việt Nam còn dùng Strela-2 hạ thêm ít nhất là 02 chiếc máy bay cường kích A-37 của Không quân Thái Lan.

Tuy nhiên, SA-7 là tên lửa phòng không vác vai thế hệ đầu nên có nhược điểm lớn là đầu dò hồng ngoại của nó rất dễ bị đánh lừa bởi mồi bẫy pháo sáng. Do vậy, Liên Xô đã nghiên cứu khắc phục khuyết điểm này và năm 1974 đã cho ra đời phiên bản cải tiến là Strela-3 (SA-14 Gremlin) có tầm bắn xa hơn, khả năng chống lại mồi bẫy pháo sáng tốt hơn.

Dù đã được Liên Xô/Nga thay thế bởi các hệ thống phòng không vác vai hiện đại hơn từ cuối thập nhiên 1970, song SA-7 vẫn tiếp tục tham chiến cho đến tận thập niên 2020. Cuối năm 2015, một chiếc F-16 của Không quân Mỹ đã bị du kích Taliban bắn trúng bởi SA-7, chiếc F-16 bị hư hại nặng, phải vứt bỏ vũ khí, thùng xăng và hạ cánh khẩn cấp tại sân bay gần đó.[cần dẫn nguồn]

Cách tính năng kỹ chiến thuật[sửa | sửa mã nguồn]

Tên lửa có 4 tầng: tầng đầu là đầu tự dẫn, tầng thứ 2 có cánh lái là tầng để điều khiển hướng bay (bằng cách thay đổi góc của cánh lái), tầng thứ 3 là phần chiến đấu, tầng cuối cùng là động cơ, phần cuối của động cơ có các cánh ổn định.

9K32M Strela-2M[sửa | sửa mã nguồn]

  • Ống phóng: 9Π54 M
  • Chiều dài: 1,47 m
  • Cỡ: 72 mm (70 mm?)
  • Khối lượng ống phóng: 4,71 kg
  • Tầm bắn lớn nhất: 5.500 m
  • Tầm bắn nhỏ nhất: 500 m
  • Độ cao lớn nhất: 4.500 m
  • Độ cao nhỏ nhất: 18 m
  • Khối lượng tên lửa: 9,97 kg
  • Tốc độ: 580 m/s
  • Hệ dẫn: Hồng ngoại bị động

Các quốc gia sử dụng[sửa | sửa mã nguồn]

Một người lính với ống phóng Strela.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â b c d Переносной зенитно-ракетный комплекс 9К32М "Стрела-2М", http://www.new-factoria.ru/missile/wobb/strela_2m/strela_2m.shtml. Truy cập: May 5th, 2009
  2. ^ http://www.new-factoria.ru/missile/wobb/strela_2m/shema.htm. Truy cập: May 5th, 2009
  3. ^ “«Стрела”. Truy cập 13 tháng 2 năm 2015. 
  4. ^ http://www.btlsqsvn.org.vn/Print/973/13-lan-duoc-tang-danh-hieu-Dung-si-ban-may-bay-My.aspx
  5. ^ [1]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Bản mẫu:Tên lửa Nga và Liên Xô