K-13
| K-13 AA-2 "Atoll" | |
|---|---|
| Loại | Tên lửa không đối không tầm ngắn với đầu dò hồng ngoại |
| Nơi chế tạo | Liên Xô |
| Lược sử hoạt động | |
| Phục vụ | 1961 |
| Sử dụng bởi | Xem các quốc gia sử dụng |
| Lược sử chế tạo | |
| Nhà sản xuất | Vympel |
| Thông số | |
| Khối lượng | 90 kg (200 lb) (R-13M) |
| Chiều dài | 2,830 m (9 ft 3,4 in) (R-13M) 3,48 m (11 ft 5 in) (R-3R) |
| Đường kính | 127 mm (5,0 in) |
| Đầu nổ | 7,4 kg (16 lb) |
| Động cơ | Động cơ nhiên liệu rắn |
| Sải cánh | 631 mm (24,8 in) (R-13M) |
| Tầm hoạt động | 1,0 đến 3,5 kilômét (0,6 đến 2,2 mi)[1] |
| Tốc độ | Mach 2.5 (3087 km/h) |
| Hệ thống chỉ đạo | Đầu dò hồng ngoại |
| Nền phóng | |
Vympel K-13 (tên ký hiệu của NATO AA-2 'Atoll'), là một loại tên lửa không đối không của Liên Xô. Nó là một thiết kế sao chép của AIM-9 Sidewinder, do đó hai loại tên lửa này có bề ngoài khá giống nhau.[2] Nó được trang bị rộng rãi cho nhiều nước trên thế giới.
Bối cảnh
[sửa | sửa mã nguồn]Trong Khủng hoảng Eo biển Đài Loan lần thứ hai năm 1958, các tiêm kích F-86 Sabre của Không quân Đài Loan (ROCAF) phải đối đầu với MiG-17 của Không quân Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc có tính năng vượt trội. MiG-17 hơn hẳn về tốc độ, độ cơ động và trần bay, cho phép chúng chọn thời điểm giao chiến theo ý muốn và thường ở thế có lợi. Đáp lại, Hải quân Hoa Kỳ khẩn trương cải hoán 100 chiếc Sabre của Không quân Đài Loan để mang tên lửa AIM-9 Sidewinder vừa được đưa vào trang bị. Loại vũ khí này lần đầu tham chiến vào ngày 24 tháng 9 năm 1958, khi một tốp MiG-17 bay lướt qua đội hình Sabre và lập tức bị tên lửa tấn công. Đây là trận không chiến đầu tiên có sử dụng tên lửa dẫn đường.[3]
Vào ngày 28 tháng 9 năm 1958,[4] trong một tình huống tương tự, một quả Sidewinder kẹt trong thân MiG-17 mà không nổ, cho phép nó được tháo ra sau khi máy bay hạ cánh. Sau đó, Liên Xô biết phía Trung Quốc thu được ít nhất một quả Sidewinder và, sau khi trao đổi, đã thuyết phục Trung Quốc chuyển giao một quả để nghiên cứu.[2] Gennadiy Sokolovskiy, sau này là kỹ sư trưởng của nhóm Vympel, nói: “Tên lửa Sidewinder đối với chúng tôi như một trường đại học mở khóa về công nghệ chế tạo tên lửa, giúp nâng trình độ kỹ thuật và đổi mới phương pháp sản xuất cho các tên lửa tương lai.”[5]
Về sau, Ron Westrum trong cuốn Sidewinder cho rằng Liên Xô còn lấy được bản vẽ của Sidewinder từ đại tá Thụy Điển kiêm điệp viên Stig Wennerström, và đã đưa bản sao vào trang bị từ năm 1961, sao chép sát đến mức trùng cả số hiệu chi tiết.[6] Tuy Wennerström có rò rỉ thông tin về Sidewinder sau khi đàm phán mua cho Thụy Điển, nhưng các nguồn Liên Xô được biết đến đều không nhắc tới kênh này mà đều nêu rõ quả tên lửa do Trung Quốc thu được mới là nguồn gốc.[5]
Phát triển và sử dụng
[sửa | sửa mã nguồn]
Tên lửa Sidewinder nhanh chóng bị sao chép ngược thành K-13 (còn gọi là R-3 hay Object 300) và chỉ hai năm sau, vào 1960, đã được đưa vào trang bị hạn chế. Tiếp đó là bản nâng cấp K-13A (R-3S, Object 310),vào biên chế vào năm 1962. R-3S là phiên bản đầu tiên được sản xuất rộng rãi, dù thời gian ổn định của đầu tự dẫn rất dài, khoảng 22 giây so với 11 giây của bản gốc.[5][liên kết hỏng]
Phía phương Tây lần đầu thấy R-3S vào năm 1961 và đặt mật danh NATO AA-2A 'Atoll'.ự ly bắn tối thiểu của R-3S khoảng 1 km. Tất cả các biến thể K-13 giống Sidewinder về hình dáng, cùng đường kính 5 inch (127 mm). Các đợt kiểm tra những quả AA-2 do NATO thu được cho thấy nhiều chi tiết của AIM-9 có thể hoán đổi với AA-2, và tổ hợp lẫn vẫn hoạt động một cách bình thường.[1]
Năm 1962, bắt đầu phát triển phiên bản tự dẫn radar bán chủ động (SARH) dùng ở độ cao lớn, với tên gọi K-13R (R-3R hay Object 320) với tầm bắn 8 km,[cần dẫn nguồn] stương tự AIM-9C Sidewinder ít được sử dụng của Hải quân Mỹ (trang bị cho F-8 Crusader). Quá trình này kéo dài hơn, lần phóng thử đầu tiên vào năm 1963, nhưng đến năm 1967 mới vào biên chế, cùng với radar RP-22S yêu cầu đi kèm trên MiG-21S (sản xuất từ 1965). Tên lửa này tương thích với mọi biến thể MiG-21 về sau.[5][liên kết hỏng] Phiên bản này được NATO định danh AA-2B.
Ba biến thể huấn luyện cũng được phát triển. R-3U ("uchebnaya", huấn luyện) có thân tên lửa rỗng nhưng có bộ tự dẫn, giúp phi công làm quen ngắm bắn.R-3P ("prakticheskaya", thực hành) lF tên lửa hoàn chỉnh nhưng không có đầu đạn nổ. RM-3V ("raketa-mishen", tên lửa–mục tiêu) làm mục tiêu bay.[5][liên kết hỏng]
Các quốc gia sử dụng
[sửa | sửa mã nguồn]

Đang sử dụng
[sửa | sửa mã nguồn]
Angola[7]
Bulgaria[8]
Congo[9]
Cuba[10]
Ethiopia[11]
Guinée[12]
Libya[13][14]
Nigeria[15][16]
CHDCND Triều Tiên[17]
Perú[18] – Sử dụng trên Sukhoi Su-22 và Dassault Mirage 5[19]
Sudan[20][21]
Từng sử dụng
[sửa | sửa mã nguồn]
Afghanistan[22]
Algérie[22]
Azerbaijan[22]
Bangladesh[22]
Belarus[22]
Bulgaria[22]
Campuchia[22]
Trung Quốc − Sản xuất theo giấy phép[22]
Croatia[22]
Séc[22]
Tiệp Khắc[23] − Truyền lại cho các quốc gia kế tục.[22]
Đông Đức
Ai Cập[24]
Phần Lan[22]
Gruzia[22]
Guinée[22]
Hungary[22]
Ấn Độ − Sản xuất theo giấy phép.[22]
Indonesia[23]
Iraq[25]
Kazakhstan[22]
Lào[22]
Madagascar[22]
Mali[26]
Moldova[22]
Mông Cổ[22]
Mozambique[22]
North Yemen[27]
Poland[22]
Romania −Sản xuất theo giấy phép với tên gọi A-91[22]
Serbia and Montenegro[22]
Slovakia[22]
Somalia[28]
South Yemen[29]
Liên Xô − Truyền lại cho các quốc gia kế tục.[22]
Syria[30]
Uganda[23]
Ukraina[22]
Việt Nam[22]
Yemen[31]
Nam Tư[23] − Truyền lại cho các quốc gia kế tục.[22]
Zambia[22]
Chỉ đánh giá
[sửa | sửa mã nguồn]Tham khảo
[sửa | sửa mã nguồn]- Trích dẫn
- ^ a b "Sidewinder Room", U.S. Naval Museum of Armament and Technology, Naval Air Weapons Station China Lake
- ^ a b Khrushchev, Nikita Sergeevich; Khrushchev, Sergeĭ; Shriver, George; Shenfield, Stephen. Memoirs of Nikita Khrushchev: Statesman, 1953–1964. tr. 443–445.
- ^ Newsweek, volume 52, p. 41.
- ^ Center for the Study of Chinese Military Affairs (U.S.). The Chinese Air Force: Evolving Concepts, Roles, and Capabilities. National Defense University Press. tr. 277.
- ^ a b c d e "AA-2 Atoll". Federation of American Scientists. FAS.org. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 6 tháng 1 năm 2012.
- ^ Westrum, Ron (2013). Sidewinder: Creative Missile Development at China Lake. Naval Institute Press. tr. 206. ISBN 978-1591149811.
- ^ IISS 2024, tr. 472.
- ^ IISS 2024, tr. 78.
- ^ IISS 2024, tr. 483.
- ^ IISS 2024, tr. 429.
- ^ IISS 2024, tr. 492.
- ^ IISS 2024, tr. 497.
- ^ Cooper 2018, tr. 16
- ^ IISS 2024, tr. 371.
- ^ Cooper và đồng nghiệp 2011, tr. 90
- ^ IISS 2024, tr. 511.
- ^ IISS 2024, tr. 284.
- ^ IISS 2024, tr. 449.
- ^ Chenel, Bernard; Liébert, Michel; Moreau, Eric (2014). Mirage III/5/50 en service à l'étranger. Le Vigen, France: Editions LELA Presse. tr. 168. ISBN 978-2-914017-76-3.
- ^ Cooper và đồng nghiệp 2011, tr. 130
- ^ IISS 2024, tr. 522.
- ^ a b c d e f g h i j k l m n o p q r s t u v w x y z aa ab ac ad ae Lennox, Duncan, biên tập (1997). "AA-2 'Atoll' (R-3, R-13, R-131)". Jane's Air-Launched Weapons (ấn bản thứ 35). Surrey: Jane's Information Group.
- ^ a b c d e "Arms transfer database". SIPRI. Stockholm International Peace Research Institute. Truy cập ngày 8 tháng 9 năm 2024.
- ^ Cooper, Tom; Emran, Abdallah (2019). 1973: The First Nuclear War. Warwick, UK: Helion & Company Publishing. tr. 29. ISBN 978-1-911628-71-2.
- ^ Cooper 2018, tr. 14
- ^ Cooper và đồng nghiệp 2011, tr. 47
- ^ Cooper 2017, tr. 40
- ^ Cooper và đồng nghiệp 2011, tr. 104
- ^ Cooper 2017, tr. 38
- ^ Cooper 2018, tr. I
- ^ Cooper 2017, tr. 54
- Tài liệu
- Cooper, Tom (2017). Hot Skies Over Yemen, Volume 1: Aerial Warfare Over the South Arabian Peninsula, 1962-1994. Solihull, UK: Helion & Company Publishing. ISBN 978-1-912174-23-2.
- Cooper, Tom (2018). MiG-23 Flogger in the Middle East, Mikoyan i Gurevich MiG-23 in Service in Algeria, Egypt, Iraq, Libya and Syria, 1973-2018. Warwick: Helion & Company Publishing. ISBN 978-1-912-390328.
- Cooper, Tom; Weinert, Peter; Hinz, Fabian; Lepko, Mark (2011). African MiGs, Volume 2: Madagascar to Zimbabwe. Houston: Harpia Publishing. ISBN 978-0-9825539-8-5.
- Gordon, Yefim (2004). Soviet/Russian Aircraft Weapons Since World War Two. Hinckley, England: Midland Publishing. ISBN 1-85780-188-1.
- International Institute for Strategic Studies (2024). The Military Balance 2024 (bằng tiếng Anh). Taylor & Francis. ISBN 978-1-040-05115-3.