9K720 Iskander

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
9K720 Iskander
Alexandre
SS-26 Stone
OTRK IskanderM.jpg
Xe phóng Iskander
Loại Tên lửa đường đạn chiến dịch chiến thuật
Nguồn gốc  Nga
Lược sử hoạt động
Trang bị 2006[1]
Quốc gia sử dụng Lục quân Nga
Lược sử chế tạo
Nhà sản xuất KBM (Kolomna)
Thông số kỹ chiến thuật
Khối lượng 3800 kg[2]
Chiều dài 7,3 m
Đường kính 0,92 m

Đầu nổ nổ phá xuyên vỏ nhẹ HE, bom con, bom xuyên phá, bom nhiên liệu khí, EMP

Động cơ Chất nổ đẩy rắn một giai đoạn
Tầm hoạt động 480 km đối với Iskander-M
280 km đối với Iskander-E
Hệ thống điều khiển Quán tính, optical homing, and possibly GLONASS for Iskander-M
Inertial for Iskander-E
Độ chính xác 5 - 7 m (Iskander-M)
Cơ cấu phóng Mobile TEL

9K720 Iskander còn gọi Alexandre (tiếng Nga: Искандер) là tổ hợp tên lửa đạn đạo chiến dịch - chiến thuật do Nga chế tạo.

Iskander ra đời nhằm thay thế tên lửa OTR-23 Oka (SS-23 Spider). Đây là loại tên lửa đạn đạo tầm ngắn có khả năng tàng hình. Kỹ thuật tàng hình áp dụng ở Iskander là kỹ thuật plasma. Nó tạo ra một lớp mây trung tính về điện bao quanh đạn khiến cho các sóng radar bị mất khả năng phản hồi. Iskander còn được trang bị một hệ thống điều khiển thông minh cho phép đạn bay lượn linh hoạt. Iskander có tầm bắn tối đa là 480 km, độ chính xác cao. Nó có thể mang đầu đạn hạn nhân hoặc đầu đạn thường.

Trong thời kỳ George W. Bush cầm quyền, Hoa Kỳ có kế hoạch triển khai một hệ thống phòng thủ mang tên Lá chắn tên lửa bố trí tên lửa đánh chặn và radar cả ở những nước láng giềng của Nga như Hungary, Séc và Ba Lan. Phía Nga đã đe dọa đáp trả bằng cách triển khai các tổ hợp Iskander gần biên giới với các nước trên, khiến cho tình hình ngoại giao ở khu vực căng thẳng.[3]

Thiết kế[sửa | sửa mã nguồn]

Tổ hợp tên lửa chiến trường Iskander-E được thiết kế để phá hủy các loại vũ khí, khí tài, trung tâm thông tin - chỉ huy, máy bay chiến đấu trú đỗ tại sân bay, các trận địa phòng không và phòng thủ tên lửa, cũng như các mục tiêu trọng yếu khác của đối phương ở mọi thời điểm trong suốt chiều sâu chiến dịch và mọi điều kiện khí hậu thời tiết, đồng thời duy trì khả năng chiến đấu trước các loại vũ khí chế áp thông thường, vũ khí chính xác cao, vũ khí xạ-sinh-hoá, vũ khí phòng chống tên lửa và tác chiến điện tử của đối phương.[4]

Đây là loại tên lửa 1 tầng, nhiên liệu rắn, được điều khiển trong suốt quá trình bay. Nó có chiều dài 7,2m, đường kính thân đoạn lớn nhất là 0,95m. Iskander có 2 phiên bản, loại chuyên dùng cho xuất khẩu là Iskander-E, loại sử dụng trong quân đội Nga là Iskander-M. Phiên bản xuất khẩu có tầm phóng tối đa 280 km, tối thiểu 50km và mang đầu đạn 480 kg; phiên bản dùng trong nước có tầm bắn xa 480km và mang đầu đạn nặng 700 kg.

Tên lửa Iskander kết hợp nhiều phương thức dẫn đường và điều khiển như: dẫn đường bằng ảnh vệ tinh GPS/GLONASS và điều khiển quán tính trên đường bay. Khi chỉ dẫn đường và điều khiển bằng quán tính, sai số mục tiêu ở khoảng cách 280km là 30 mét, còn khi sử dụng điều khiển kết hợp cả ảnh vệ tinh và quán tính, sai số chỉ khoảng 2 mét[5].

Hệ thống định vị có khả năng liên kết thu thập các thông tin mục tiêu từ tất cả các phương tiện trinh sát trên không, mặt đất và vệ tinh. Thời gian để hệ thống triển khai chiến đấu chỉ mất 2 phút, và chỉ 10 giây sau khi phóng là nó đã hoàn tất các nội dung công việc phức tạp, bao gồm: xác định điểm phóng, tính toán tham số đường bay, đầu dẫn quang học rà soát xong các thông tin địa hình, địa vật. Đầu dẫn quang học của tên lửa (đoạn cuối phối hợp thêm ảnh vệ tinh hoặc các phương tiện truyền dẫn số liệu trinh sát trên không, trên mặt đất) có thể hoạt động tốt trong điều kiện đêm tối và nhiễu điện từ dày đặc.

Iskander có đầu đạn dạng chùm, đầu đạn mẹ chứa 54 đầu đạn con, có thể mang 10 loại đầu đạn khác nhau: đầu đạn phá; đầu đạn xuyên thép để chống xe thiết giáp; đầu đạn cassette có lắp các bộ phận tự tìm mục tiêu để chống xe tăng; đầu đạn xuyên boong ke, hầm ngầm; đầu đạn cháy chống bộ binh; đầu đạn xung điện từ (để phá vỡ, đốt cháy các công trình điện, điện tử, các hệ thống máy tính…) Loại Iskander-M mà quân đội Nga sử dụng còn có thể trang bị cả đầu đạn hạt nhân.

Không chỉ có tầm bắn xa và độ chính xác cao, Iskander còn có khả năng tàng hình để tăng khả năng xuyên qua hệ thống phòng không đối phương. Ngoài lớp sơn phủ bên ngoài bằng vật liệu phức hợp đặc biệt, Iskander còn có kết cấu ngoại hình rất độc đáo: sau khi phóng nó nhanh chóng vứt bỏ các bộ phận lồi ra bên ngoài như: mấu, móc, khớp (để kết nối cơ học với hệ thống phóng) làm cho tên lửa tròn nhẵn hơn, giảm diện tích phản xạ làm các loại radar không thể phát hiện được. Hơn nữa, trong quá trình bay, nó liên tục cơ động đổi hướng so với hướng phóng ban đầu. Trong giai đoạn cuối của hành trình bay, khi Iskander tiến vào phạm vi đánh chặn của lên lửa phòng không như MIM-104 Patriot PAC-3 (khoảng 30-35 km), Iskander có khả năng thực hiện các động tác thay đổi quỹ đạo bay đột ngột để tránh né, đồng thời có thể tạo ra 10 đầu đạn giả bằng công nghệ phản xạ kim loại đa diện, trong khi vẫn giữ được vận tốc siêu âm khoảng 2.100 m/s (gấp 6 lần vận tốc âm thanh). Do vậy, khả năng đánh chặn được Iskander là rất khó.

Hệ thống Iskander có khả năng tác chiến tốt trong những điều kiện khí hậu khắc nghiệt, nhiệt độ trong khoảng ±50oC, xe phóng có thể triển khai tại mọi địa hình đầm lầy, bãi bồi, cát lún. Mỗi quả tên lửa Iskander có vòng đời khoảng 10 năm (vòng đời cơ bản, chưa tính nâng cấp), hoạt động liên tục trong 3 năm mà không cần bảo dưỡng lớn.

Trong phiên bản Iskander-K, tổ hợp được trang bị hai tên lửa hành trình tầm xa 3M-54 Klub cho phép tiêu diệt không chỉ những cơ sở hạ tầng trên mặt đất của đối phương mà còn cả những mục tiêu trên biển. Nếu được cải tiến, tầm bắn 480 km như hiện nay có thể được nâng lên đến hàng nghìn km.

Một hệ thống tên lửa chiến thuật Iskander-M bao gồm tổng cộng 51 xe: 12 xe bệ phóng, 12 xe tải vận chuyển hàng hóa, 11 xe chỉ huy và binh sĩ, 14 xe hậu cần, đầu đạn thay thế, 1 xe kỹ thuật và bảo trì, 1 xe xử lý thông tin dẫn đường chính xác cho tên lửa và chuyên chở các thiết bị khác.[6]

Lịch sử chiến đấu[sửa | sửa mã nguồn]

Với tầm bắn xấp xỉ 500 km, mỗi tên lửa trong tổ hợp có thể mang đầu đạn bình thường (sức công phá tương đương các loại vũ khí hạt nhân, nhưng không gây ô nhiễm phóng xạ) hoặc đầu đạn liên hoàn gồm 54 đơn vị nổ với các chức năng khác nhau như xuyên phá, nổ phá sát thương, nổ phá hủy diệt công trình, v.v.[7]

Năm 2008 Nga đã tung 4 tổ hợp Iskander-M tấn công vào các căn cứ của Gruzia. Tại Gori, 1 quả tên lửa Iskander đã đánh trúng một tiểu đoàn xe tăng của Gruzia, phá hủy liền một lúc 28 xe tăng[8]

Cấu hình[sửa | sửa mã nguồn]

• Các xe mang phóng tự hành 9P78E

• Các xe chở đạn 9T250E

• Xe chỉ huy

• Xe đảm bảo tham số phóng

• Xe bảo dưỡng kỹ thuật

• Xe hỗ trợ khác [4]

Đặc điểm[sửa | sửa mã nguồn]

• Có khả năng tác chiến cao trong môi trường đối kháng chủ động của đối phương

• Tên lửa có hệ số sẵn sàng chiến đấu cao trong quá trình chuẩn bị phóng và vận hành tin cậy trong hành trình tới mục tiêu

• Cập nhật tự động phần tử bắn, nhiệm vụ và tham số phóng cho xe mang phóng trước khi tới vị trí triển khai

• Khả năng di chuyển và cơ động chiến lược cao do thiết kế tương thích với nhiều loại hình phương tiện vận chuyển khác nhau.

• Kênh chỉ huy-thông tin tác chiến đồng bộ giữa các phân đội chiến đấu trong tổ hợp;

• Vận hành dễ dàng và tuổi thọ phục vụ cao

Tất cả các xe trang bị trong hệ thống Iskander-E đều là xe việt dã bánh hơi hoạt động trên mọi địa hình và có khả năng cơ động cao. Đạn tên lửa là loại một tầng dùng thuốc phóng rắn, dẫn quán tính trong suốt đường đạn với đầu dò quang tuyến dùng cho pha cuối, mang theo đầu nổ liền khối dạng chùm đạn, phá mảnh hoặc xuyên phá.[4]

Các phiên bản[sửa | sửa mã nguồn]

  • Iskander-M: phiên bản dành riêng cho quân đội Nga, 2 bệ phóng tên lửa trên xe bệ phóng, tầm bắn khoảng 500 km, đầu đạn nặng 700 kg.
  • Iskander-K: phiên bản cái tiến có sử dụng tên lửa hành trình. Tên lửa hành trình R-500 có thể đạt tầm bắn đến 2.000 km.
  • Iskander-E: phiên bản xuất khẩu, có tầm bắn bị cắt giảm còn 280 km, khối lượng đầu đạn bị cắt giảm còn 480 kg nhằm đáp ứng những yêu cầu về kiểm soát công nghệ chế tạo tên lửa, chống sao chép.

Thông số kỹ thuật (Iskander-E)[sửa | sửa mã nguồn]

  • Tầm bắn (km):
    • Tối đa: 280
    • Tối thiểu: 50
  • Bán kính vòng đồng xác suất trúng đích (mét):
    • Tự dẫn quán tính: 30-70
    • Kèm với đầu dò quang học: 5-7
  • Trọng lượng đạn tên lửa chờ phóng (kg): 3.800
  • Trọng lượng đầu nổ (kg): 480
  • Số tên lửa trên mỗi xe phóng (quả): 2
  • Khung gầm: xe việt dã bánh hơi
  • Thời gian triển khai (phút):
    • Từ vị trí bắn: 4
    • Từ sau chặng hành quân: 16
    • Dải nhiệt độ hoạt động (oC): ±50
  • Giá bán ước tính:
    • Tổ hợp hoàn chỉnh: US$ 30.000.000
    • Đạn tên lửa: US$ 5.000.000 [4]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]