BMP-1

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
BMP-1
BMP-1 03.jpg
BMP-1 tại Căn cứ không quân Bolling (Hoa Kỳ), 1/10/1986.
Loại Xe chiến đấu bộ binh
Nguồn gốc  Liên Xô
Lược sử hoạt động
Trang bị 1966 - nay
Quốc gia sử dụng Liên Xô, Nga, Ba Lan, Ai Cập, Syria, Trung Quốc, Afghanistan, Ấn Độ, Iraq, Đức, Hy Lạp, Thụy Điển, Việt Nam...
Lược sử chế tạo
Nhà thiết kế Pavel Isakov[1]
Năm thiết kế 1961 - 1965
Nhà sản xuất Kurgan Engineering Works (KMZ) (USSR)[1]
ZTS Dubnica nad Váhom (Czechoslovakia)
Military Motorization Works No. 5 (Poland)
See also Production history section for details.
Giai đoạn sản xuất 1966 - 1983 (Liên Xô)
 ? - 1988 (Ba Lan)
Số lượng chế tạo Hơn 20 nghìn xe các phiên bản khác nhau (Liên Xô)[2]
Hơn 3000 xe (Trung Quốc)[3]
1.994 (Tiệp Khắc)
274 (Ba Lan)
Khoảng 800 (Ấn Độ)[4]
Các biến thể BMP-1, BMP-2, MLI-84, Boragh.
Thông số kỹ chiến thuật (Ob'yekt 765Sp3)
Khối lượng 13,2 tấn[5][6]
Chiều dài 6.735 m[5]
Chiều rộng 2,94 m[5]
Chiều cao 2.068 m (1.881 m không kể tháp)[5][6]
Kíp chiến đấu 3 (commander, driver and gunner) + 8 passengers

Vũ khí chính 73 mm 2A28 "Grom" low pressure smoothbore short-recoil semi-automatic gun (40 rounds)[5]
9S428 ATGM launcher for 9M14 Malyutka (4 + 1 rounds)[5][6][7]
Vũ khí phụ 7.62 mm PKT coaxial machinegun (2.000 rounds)
Động cơ UTD-20, 6-cylinder 4-stroke V-shaped airless-injection water cooled multifuel 15.8 liter diesel
300 hp (224 kW) at 2.600 rpm[5][6]
Công suất/trọng lượng 22.7 hp/tonne (17.0 kW/tonne)
Hệ thống treo individual torsion bar with hydraulic shock absorbers on the 1st and 6th road wheels
Khoảng sáng gầm 370 mm [5][6]
Sức chứa nhiên liệu 462 l (122 gal)[6]
Tầm hoạt động 600 km (road)[8]
500 km (off-road)[6]
Tốc độ 65 km/h (trên đường)
45 km/h (off-road)
7-8 km/h (dưới nước)[6][7]

BMP-1 (Боевая Машина Пехоты-1, Boyevaya Mashina Pekhoty-1) là xe chiến đấu bộ binh lội nước bọc thép do Liên Xô thiết kế và chế tạo từ thập niên 1960 và tham chiến lần đầu trong Chiến tranh Yom Kippur. Đây là xe chiến đấu bộ binh đầu tiên trên thế giới.[6][9]

Bố trí bên trong BMP-1

Xe được thiết kế để giúp binh sỹ núp bên trong lớp thép dày và bắn đối phương qua 9 lỗ châu mai trên thân xe. Tháp xe được trang bị một súng chính 73 mm nòng trơn, 1 đại liên 7,62mm đồng trục, và 1 bệ phóng tên lửa chống tăng AT-3 Sagger ngay phía trên súng chính. Xe chạy bằng động cơ diesel 6 silander và bánh xích. Kíp xe gồm 3 người (xa trưởng, lái xe và xạ thủ). Xe có thể mang tới 8 chiến sỹ bộ binh với vũ khí cá nhân (thường là PKM) bên trong.

BMP-1 chỉ có thể giữ vận tốc tối đa của nó (70 km/h) trong một thời gian ngắn bởi vì kết cấu truyền động và việc rung xóc không cho phép. Nó cũng không thể bắn pháo 73mm lẫn súng máy đồng trục một cách chính xác khi đang hành tiến qua địa hình ghồ ghề. Chiếc xe cũng phải dừng khi muốn nạp đạn cho AT-3 hay lock mục tiêu cho nó. Tên lửa AT-3 không hề dễ dàng đế nạp và người ta cũng không thể nạp đạn mới cho nó khi đang trong điều kiện NBC.[10]

Các phiên bản[sửa | sửa mã nguồn]

Chếc BMP đã trở thành nền tảng để sản xuất ra các mẫu xe khác nhau tùy mục đích. Mỗi phiên bản mang năm nó ra đời làm tên. Nhiều chiếc BMP hiện nay sử dụng những loại vũ khí hiện đại hơn, như ATGM semi-auto AT-3c/SAGGER hay loại mới hơn AT -4/SPIGOT, AT-5/SPANDREL.

• BMP Model 1966 – Mẫu BMP nguyên thủy (hay còn gọi là BMP-A)

• BMP-1 (BMP M1976) – Phiên bản phổ biến nhất của BMP-1 xuất hiện năm 1970

• BMP-1K [BMP M1974] - Mẫu xe chỉ huy, khác BMP-1 ở chỗ có thêm hệ thống radio và anten

• BMP-1P [BMP M1981] – BMP-1 có AT-4 Spigot thay vì AT-3 Sagger. Phiên bản này có một tháp pháo hai người với 1 khẩu 30mm tự động. Hệ thống AT-4/SPIGOT hay AT-5/SPANDREL sẽ được gắn trên đỉnh tháp pháo (còn AT-3 là gắn phía trên nòng pháo). So với mẫu BMP-1 thì nó có ít hơn một khe bắn mỗi bên hông nhưng lại có thêm một khe bắn súng máy bên trái hông xe. Xích xe BMP M1981 cũng được chỉnh sửa.

• BMP-1PK – Phiên bản xe chỉ huy của BMP-1P

• BMP KShM [BMP 1978] – Gắn các loại an-ten to hơn và nhiều radio hơn mẫu M1978. Tháp pháo không có vũ khí và xe được dùng làm xe chỉ huy cấp trung, sư đoàn.

• PRP-3 (BMP-SON – Còn có tên là BMP M1975) – Sử dụng trong các đơn vị pháo binh.[10]

Nâng cấp BMP-1[sửa | sửa mã nguồn]

Một số gói nâng cấp dành cho BMP-1:

Gói 1: Cài đặt súng phóng lựu liên thanh AG-17. Thay thế Malyutka ATGM với tên lửa 9M14M bằng loại Konkurs ATGM với tên lửa 9M13M (tăng khả năng xuyên giáp lên 1.6 lần). Thay thế xích và bánh xích của loại BMP-2 nhằm nâng cao gấp đôi tuổi thọ hoạt động.

Gói 2: Lắp khoang chiến đấu của BMP-2 vào BMP-1. Lắp xích và bánh xích của loại BMP-2 nhằm nâng cao gấp đôi tuổi thọ hoạt động. Lắp cái chắn bùn của BMP-2 vào BMP-1

Gói 3: Lắp module chiến đấu Kliver gồm ATGM Kornet, pháo tự động 30mm 2A72, súng máy 7.62mm.[10]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă Zaloga S., Sarson P. (1994). BMP Infantry Fighting Vehicle, 1967-94. New Vanguard 14. Osprey Publishing. ISBN 978-1-85532-433-6.
  2. ^ Боевые бронированные машины - Военный паритет: мобильная МБР Тополь, основной боевой танк Т-90, истребитель МиГ-29, ракета Булава, ракеты средней дальности
  3. ^ BMP-1
  4. ^ Army Equipment
  5. ^ a ă â b c d đ e Malyshev S. (2002) (in Russian). Tanks in Russia. Boyevaya Mashina Pekhoty BMP-1 (1964-2000). Russian Motor Books. ISBN 5-09-873406-4.
  6. ^ a ă â b c d đ e ê “Боевая машина пехоты БМП-1” (bằng tiếng Nga). Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 12 năm 2007. 
  7. ^ a ă Chris Foss.. Jane's Armour and Artillery 2005-2006. Jane's Information Group. ISBN 0-7106-2686-X.
  8. ^ Global Security
  9. ^ BMP-1 fas.org BMP-1
  10. ^ a ă â loại tăng thiết giáp của Liên Xô và Nga