BMP-1
| BMP-1 | |
|---|---|
BMP-1 thuộc Quân đội Nhân dân Việt Nam. | |
| Loại | Xe chiến đấu bộ binh |
| Nơi chế tạo | |
| Lược sử hoạt động | |
| Phục vụ | 1966 - nay |
| Sử dụng bởi | Xem Các quốc gia sử dụng |
| Lược sử chế tạo | |
| Người thiết kế | Pavel Isakov[1] |
| Năm thiết kế | 1961 - 1965 |
| Nhà sản xuất | Kurgan Engineering Works (KMZ) (USSR)[1] ZTS Dubnica nad Váhom (Tiệp Khắc) Military Motorization Works No. 5 (Ba Lan) See also Production history section for details. |
| Giai đoạn sản xuất | 1966 - 1983 (Liên Xô) ? - 1988 (Ba Lan) |
| Số lượng chế tạo | Hơn 20 nghìn xe các phiên bản khác nhau (Liên Xô)[2] Hơn 3000 xe (Trung Quốc)[3] 1.994 (Tiệp Khắc) 274 (Ba Lan) Khoảng 800 (Ấn Độ)[4] |
| Các biến thể | BMP-1, BMP-2, MLI-84, Boragh. |
| Thông số (Ob'yekt 765Sp3) | |
| Khối lượng | 13,2 tấn[5][6] |
| Chiều dài | 6,735 m[5] |
| Chiều rộng | 2,94 m[5] |
| Chiều cao | 2,068 m (1,881 m không kể tháp pháo)[5][6] |
| Kíp chiến đấu | 3 (chỉ huy, lái xe và pháo thủ) + 8 binh lính |
Vũ khí chính | Pháo 73 mm áp suất thấp 2A28 "Grom" (40 viên đạn)[5] Bệ phóng ATGM 9S428 cho 9M14 Malyutka (4 + 1 tên lửa)[5][6][7] |
Vũ khí phụ | Súng máy đồng trục PKT (2.000 rounds) |
| Động cơ | Động cơ diesel 6 xi-lanh, 4 kỳ, dạng chữ V UTD-20 phun nhiên liệu trực tiếp, làm mát bằng nước, đa nhiên liệu, dung tích 15,8 lít. 300 hp (224 kW) at 2.600 rpm[5][6] |
| Công suất/trọng lượng | 22.7 hp/tonne (17.0 kW/tonne) |
| Hệ thống treo | Thanh xoắn độc lập kèm giảm chấn thủy lực trên bánh lăn số 1 và số 6. |
| Khoảng sáng gầm | 370 mm [5][6] |
| Sức chứa nhiên liệu | 462 l (122 gal)[6] |
| Tầm hoạt động | 600 km (đường nhựa)[8] 500 km (đường đất)[6] |
| Tốc độ | 65 km/h (trên đường) 45 km/h (đường đất) 7-8 km/h (dưới nước)[6][7] |
BMP-1 là một xe chiến đấu bộ binh bánh xích lội nước của Liên Xô, biên chế từ năm 1966 đến nay. BMP là viết tắt của Boyevaya Mashina Pyekhoty 1 (tiếng Nga: Боевая Машина Пехоты 1; БМП-1),nghĩa là “xe chiến đấu bộ binh, mẫu sản xuất số 1”.[9] BMP-1 là xe chiến đấu bộ binh (IFV) sản xuất hàng loạt đầu tiên của Liên Xô.[6][10] Trước khi biết đúng định danh, NATO gọi nó là M-1967, BMP và BMP-76PB.[11][12]
Giới lãnh đạo quân sự Liên Xô hình dung các cuộc chiến tương lai sẽ diễn ra với vũ khí hạt nhân, hóa học và sinh học. Một thiết kế mới như BMP, kết hợp tính năng của xe bọc thép chở quân và xe tăng hạng nhẹ, sẽ cho phép bộ binh tác chiến trong khu vực bị ô nhiễm từ khoang bọc thép có che chắn bức xạ, và chiến đấu bên ngoài ở khu vực không ô nhiễm. Nó sẽ tăng tính cơ động cho tiểu đội bộ binh, yểm trợ hỏa lực cho họ, và cũng có thể tác chiến phối hợp với xe tăng chủ lực.[13]
BMP-1 lần đầu được thử lửa trong Chiến tranh Yom Kippur 1973, khi được Ai Cập và Syria sử dụng. Từ các bài học rút ra ở cuộc chiến này và kinh nghiệm đầu tiên trong Chiến tranh Afghanistan, một biến thể có năng lực tác chiến cải tiến đã được phát triển: BMP-2, được chấp nhận trang bị vào tháng 8 năm 1980.
Năm 1987, BMP-3, một phương tiện tái thiết kế triệt để với hệ vũ khí hoàn toàn mới được biên chế với số lượng hạn chế vào Quân đội Liên Xô.
Phát triển
[sửa | sửa mã nguồn]Chiến thuật bộ binh cơ giới của Hồng quân trong thập niên 1950 về cơ bản giống thời Thế chiến II, trong đó các xe thiết giáp chở quân được dùng như “taxi chiến trường”. Chúng giữ bộ binh luôn ở gần xe tăng trong khi cơ động, nhưng khi chạm địch thì cho bộ binh xuống trước rồi rút về khu vực an toàn hơn.[13] Điều này tương phản với học thuyết xe chiến đấu bộ binh của Đức thể hiện ở chiếc Schützenpanzer Lang HS.30, nơi phương tiện phải ở cùng đội hình với xe tăng và tiêu diệt các mục tiêu nhẹ hơn, vừa giảm gánh cho xe tăng vừa yểm trợ các tiểu đội bộ binh của mình.
Các xe thiết giáp chở quân hiện có hầu như không cung cấp bảo vệ trước vũ khí hạt nhân hay hóa học, vì hoặc là hở nóc, hoặc không thể làm kín đủ mức. Hơn nữa, bộ binh phải rời xe mới sử dụng được vũ khí của họ.[13]
Yêu cầu đối với BMP được đề ra vào cuối thập niên 1950, nhấn mạnh tốc độ, hỏa lực tốt và khả năng để toàn bộ quân trong tiểu đội bắn từ trong xe. Hỏa lực phải yểm trợ trực tiếp cho bộ binh đã xuống xe trong tiến công và phòng ngự, đồng thời có thể tiêu diệt các phương tiện bọc thép hạng nhẹ tương đương.[14] Phương tiện cần bảo vệ kíp xe trước hỏa lực súng máy cỡ .50 và pháo tự động cỡ 20–23 mm ở mặt trước, cũng như trước mảnh đạn nhẹ ở cự ly 500–800 m.[15]
Hỏa lực bao gồm sự kết hợp sáng tạo giữa pháo 73 mm 2A28 Grom và giá phóng cho tên lửa dẫn đường chống tăng 9M14 Malyutka (AT-3A Sagger A). Pháo được dự định tiêu diệt xe bọc thép địch và các điểm bắn ở tầm tới 700 mét (770 yd). Tên lửa dùng để tấn công mục tiêu ở cự ly từ 500 đến 3.000 mét (550 đến 3.280 yd).[15]
Yêu cầu được gửi tới các viện thiết kế khác nhau trong khoảng 1959–1960. Có một câu hỏi là BMP nên là loại bánh lốp hay xích, vì vậy đã thử nghiệm nhiều cấu hình khác nhau, kể cả thiết kế lai giữa bánh lốp và xích.[16]
Mẫu xích Ob'yekt 764 (mật danh Object 764) đã được chọn vì thiết kế động cơ đặt phía trước cho phép bố trí và rời khỏi xe nhanh chóng qua hai cửa sau. Nguyên mẫu ban đầu được chế tạo năm 1964, tiếp theo là Ob'yekt 765 cải tiến vào năm 1965, mẫu này được Quân đội chấp nhận vào năm 1966 dưới ký hiệu BMP-1.[17] Sư đoàn Cận vệ Bộ binh Cơ giới 120 là đơn vị đầu tiên trong Liên Xô thử nghiệm các nguyên mẫu của xe chiến đấu bộ binh mới ("objekt 765") trong giai đoạn tháng 1–11 năm 1965, dưới quyền chỉ huy của Thiếu tá Vasiliy Samodelov. Sản xuất quy mô nhỏ bắt đầu vào năm 1966.[16]
Mô tả
[sửa | sửa mã nguồn]
BMP-1 là phương tiện lội nước bằng xích, với khung gầm đặt động cơ ở phía trước thiết kế cho việc đó. Thân xe bằng thép hàn với phần mũi sắc, dốc về phía trước có bề mặt nổi gờ rõ rệt, tháp pháo dạng nón cụt phẳng đặt ở trung tâm và khoang chở quân ở phía sau.[18]
Vị trí của lái xe
[sửa | sửa mã nguồn]Người lái ngồi phía trước bên trái thân xe. Khi nắp chui đóng, anh ta quan sát qua ba khối kính tiềm vọng TNPO-170.[19] Khối quan sát trung tâm có thể thay bằng ống nhòm nhìn đêm chủ động TVNO-2 để sử dụng ban đêm hoặc trong điều kiện tầm nhìn kém, hoặc thay bằng kính tiềm vọng kéo dài TNPO-350B khi bơi với tấm chắn sóng dựng lên.[7][19] BMP là xe bọc thép Liên Xô đầu tiên dùng cơ cấu lái kiểu càng đơn giản.[20]
Vị trí của trưởng xe
[sửa | sửa mã nguồn]Vị trí của chỉ huy nằm phía sau chỗ lái xe và được trang bị đèn pha hồng ngoại OU-3GA2 hoặc OU-3GK có tầm hiệu quả khoảng 400 mét (440 yd).[21] Thiết bị quan sát hai chế độ ngày/đêm TKN-3B phóng đại 5x/4.2x được ghép đồng bộ với đèn hồng ngoại. Hai khối kính tiềm vọng có hệ thống sưởi và làm sạch.[22][23] Vị trí của trưởng xe được trang bị đài liên lạc R-123M.
Tháp pháo
[sửa | sửa mã nguồn]
BMP-1 có tháp pháo hình nón trang bị hệ thống hút khói và truyền động quay điện kèm dự phòng quay tay.[12] Pháo chính có vùng chết phía trên nắp chui của chỉ huy (khoảng hướng 10 đến 11 giờ); trong vùng này nòng pháo phải nâng cao để vượt qua đèn hồng ngoại, tránh làm hỏng nó. Khi pháo quay về phía sau, nó chắn không cho mở các nắp trên nóc khoang chở quân. Dáng thấp của tháp pháo khiến nó trở thành mục tiêu khó bị bắn trúng. Cùng kiểu tháp này cũng được dùng trên BMD-1.
Vị trí của pháo thủ
[sửa | sửa mã nguồn]Vị trí của pháo thủ được đặt tại bên trsi của pháo chính. Xạ thủ có kính ngắm đơn 1PN22M1 khuếch đại 6×/6.7× cho cả ngày/đêm, bốn kính tiềm vọng cho ban ngày, và đèn chiếu hồng ngoại OU-3GK có thể tháo rời hoặc đèn ánh sang trắng sáng trắng).[23] Kính 1PN22M1 có tầm tối đa 400 mét (440 yd) vào ban đêm, 900 mét (980 yd) khi sử dụng cùng đèn hồng ngoại.[6][18][23] Kính được đánh dấu thang số theo kích thước biểu kiến của một xe tăng cao 2,7 mét (8,9 ft) ở các cự ly khác nhau.
Kính ngắm ban đầu được thay bằng 1PN22M2,có thêm thang cho đạn OG-15V HE-Frag dùng cho Ob'yekt 765Sp3, sản xuất từ tháng 7/1974. Kính mới có hai thang ngày cho hai loại đạn — một thang cho khoảng cách 200 đến 1.600 mét (220 đến 1.750 yd) và thang kia cho khoảng cách 400 đến 1.300 mét (440 đến 1.420 yd).[23]
Hỏa lực
[sửa | sửa mã nguồn]- Pháo chính

Vũ khí chính là pháo nòng trơn bán tự động 73 mm 2A28 "Grom" có áp lực thấp. Nó được nạp từ băng đạn 40 viên đặt quanh vòng tháp.[24] Tốc độ bắn cơ bản 8–10 viên/phút. Khi dùng bộ nạp tự động, pháo tự hạ về góc +3°30' để nạp lại sau mỗi phát; pháo cũng có thể nạp tay khi cần. Một số đơn vị đã bỏ bộ nạp tự động khi nhận xe mới, nhưng vẫn giữ băng chuyền cơ khí chứa đạn. Đạn nổ mảnh (HE) được đưa vào sử dụng từ năm 1974 chỉ có thể nạp tay từ băng chuyền.[17]
Pháo 2A28 'Grom' bắn cùng loại đạn PG-15V như súng không giật SPG-9 nhưng với thuốc phóng ít hơn. Đầu xuyên PG-15V (HEAT) có thể xuyên thủng 280 đến 350 mm (11 đến 14 in) giáp thép, đủ sức xuyên giáp trước của một số xe tăng chủ lực của NATO vào thập niên 70 như M60A1 của Mỹ, Chieftain của Anh hoặc Leopard 1 của Đức.[24] Đạn PG-9 cải tiến có thể xuyên tới 400 mm (16 in) giáp. Trên điều kiện chiến trường, tầm bắn hiệu quả tối đa 500 m (550 yd).[25]
Nhược điểm của BMP-1 là góc nâng pháo nhỏ (chỉ 15°).[26][27]
Đạn nổ OG-15V được trang bị từ năm 1974.[17] Đầu nổ có khối lượng chất nổ gấp đôi so với đầu PG-15V chống tăng, dùng cho bộ binh hoặc mục tiêu mềm.[24]
Một súng máy đồng trục 7,62 mm PKT được gắn bên phải pháo chính[24] và BMP-1 mang 2.000 viên cho khẩu súng này.[28]
Pháo 2A28 'Grom' và súng máy PKT đồng trục không bắn chính xác khi xe chuyển động trên địa hình gồ ghề vì tháp không được trang bị hệ thống ổn định pháo.[24]
- Tên lửa
Gắn trên pháo chính là giá phóng ATGM có thể bắn 9M14 Malyutka (NATO: AT-3A Sagger A), 9M14M Malyutka-M (AT-3B Sagger B) và 9M14P Malyutka-P (AT-3C Sagger C). Tất cả nhằm tiêu diệt xe tăng chủ lực và các xe chiến đấu bộ binh ở cự ly 500 đến 3.000 m (550 đến 3.280 yd). Nhưng tên lửa này có thể xuyên tới 400 mm (16 in) giáp thép (tiêu chuẩn NATO theo bấy giờ).[17] Tên lửa 9M14P chỉ có thể dùng ở chế độ thủ công, giống tên lửa đời cũ, không có lợi thế dẫn bắn bán tự động.
Theo tiêu chuẩn, BMP-1 mang theo 4 tên lửa với ray phóng[17] (hai quả trong thân xe và hai quả trong tháp pháo). Về lý thuyết có thể mang thêm tên lửa thứ năm trên giá phóng. Tên lửa được nạp lên giá thông qua một cửa chữ nhật nhỏ trên nóc tháp phía sau giá phóng. Mỗi quả 9M14M nặng 10,9 kg (24 lb), 9M14P nặng 11,4 kg (25 lb).Những tên lửa này chỉ có thể bắn vào ban ngày do thiếu kính ngắm ban đêm. Thiết bị dẫn bắn trên BMP-1 có mã 9S428.[17]
Mặt dù có ưu điểm như chống nhiễu và thiết bị điều khiển đơn giản, tên lửa chống tăng dẫn đường bằng dây cung có khá nhiều hạn chế như tốc độ bay thấp, độ phản hồi chậm cũng như không thể nạp tên lửa mới cho đến khi quả trước đã chạm mục tiêu và khoảng cách tối thiểu rất dài, khoảng (500 m (550 yd)).[12] Việc sử dụng tên lửa khi xe chuyển động đòi hỏi xạ thủ rất thành thạo.
Những BMP-1 còn trong biên chế Nga mà chưa được hiện đại hóa lên chuẩn BMP-1P hiện có thể sử dụng tển lửa 9M14-2 Malyutka-2 (NATO: AT-3D Sagger D) phát triển năm 1995, có đầu nổ hình nón kép hoặc đầu nổ nhiệt áp.[11][29]
BMP-1 từng là mối đe dọa lớn với các xe bọc thép chở quân, xe chiến đấu bộ binh hạng nhẹ và thậm chí là xe tăng chủ lực của NATO nhờ pháo chính và tên lửa của nó. Tuy nhiên, vũ khí chống tăng khỏe không thể cung cấp hỏa lực để chống lại các mục tiêu không bọc giáp, bộ binh và công sự nhẹ, đặc biệt trong tác chiến đồi núi do góc nâng pháo thấp. Sự xuất hiện của BMP-2 được trang bị pháo tự động 30 mm 2A42 đa dụng đã khắc phục vấn đề nghiêm trọng này.
Khả năng cơ động
[sửa | sửa mã nguồn]Động cơ diesel sáu xy lanh bốn thì UTD-20 300 mã lực (220 kilôwatt) được đặt tại chính giữa của khoang trước, ngay sau bộ truyền động với bộ tản nhiệt ở bên phải và két nước ở bên trên.[30] Hộp số là hộp số cơ khí với năm số tiến và một số lùi.[7] Hệ thống đánh lái làm giảm đáng kể sự mệt mỏi của người lái, đặc biệt khi so với hệ thống lái bằng cần bẩy thông thường để điều khiển các phương tiện bánh xích khác. BMP rất nhanh và cơ động, mặc dù mũi xe dài có thể gây khó khăn khi vượt chiến hào. Thùng nhiên liệu có sức chứa tối đa 462 lít (102 gal Anh). Động cơ có thể chuyển đổi giữa các loại nhiên liệu và dùng dầu DL (mùa hè) hay DZ (mùa đông). Nó cũng có thể sử dụng dầu hỏa TS-1.[31]
The BMP-1 có tốc độ tối đa tên đường nhựa là 65 kilômét trên giờ (40 mph), và khoảng 45 kilômét trên giờ (28 mph) trên đường đất.[6][11]
BMP-1 có thể leo chướng ngại cao 70 xentimét (28 in), và vượt qua hào rộng 2,5 mét (8,2 ft). Nó có thể vượt dốc ngang 25° và leo dốc đứng 35° slopes.[6][32][23]
Bánh chủ động đặt ở phía trước, kèm sáu bánh chịu tải, dùng hệ thống treo thanh xoắn.[18] BMP-1 có áp suất lên mặt đất khoảng 0.6 kg/cm2 (8.5 psi) và có thể đi qua các vùng đầm lầy và tuyết.Tầm hoạt động, tốc độ off-road và khả năng chạy xuyên quốc lộ cho phép nó theo kịp các xe tăng chủ lực cơ động cao.
Khoang chứa lính
[sửa | sửa mã nguồn]
Khoang chở lính nằm ở phía sau của xe, có thể chở được 8 lính. Có bốn lỗ châu mai mỗi bên và một lỗ trên cửa xe bên trái. Các lỗ thoát khí và tấm chắn vỏ đạn được đặt tại mỗi vị trí đặt súng.[33]
Binh sĩ được ngồi tại hai hàng ghế ở dọc trục giữa xe và quay mặt ra hai bên. Ắc quy, hệ thống điện và thùng nhiên liệu 330 L (73 gal Anh; 87 gal Mỹ) đặt tại giữa hai hàng ghế, với các công cụ đặt bên dưới.[33] Có bốn cửa nóc hình chữ D ở trên nóc thân, có thể mở từ bên trong xe. Cửa sau của xe được làm kín khí và chứa nhiên liệu.[33]
Không gian trong xe khá hạn chế. Có khá ít không gian cho trang bị cá nhân, dẫn đến việ trang bị thường phải đặt bên ngoài tháp pháo, đôi khi khiến tốc độ quay tháp pháo bị giảm. Ghế ngồi thường được cho là thiếu thoải mái.[33]
Ở cả BMP-1 và BMP-2, đạn dược được đặt gần, thậm chí trong khoang chở lính, vốn có thể dân đến nổ đạn.
Khả năng lội nước
[sửa | sửa mã nguồn]

BMP-1 lội nước bằng chính dải xích, được hỗ trợ bởi các tấm hướng dòng thủy động lực trên che xích phía trên. Tốc độ bơi tối đa 8 kilômét trên giờ (5,0 mph). Hình dạng thân và một số chi tiết (bánh chịu tải rỗng, tay đòn bánh có khoang khí) giúp tăng lực nổi. BMP-1 có thể vượt chướng ngại nước với dòng chảy đến 1,2 mét trên giây (2,7 mph) và sóng cao đến 25 xentimét (9,8 in). điều kiện khó hơn cần có công binh hỗ trợ.[6]
Trước khi xuống nước, phải dựng tấm chắn sóng ở mũi để ngăn nước tràn lên boong; khi gập xuống vị trí hành quân, nó cũng tăng giáp phía trước. Cửa sau khoang chở quân phải đóng kín trước khi xuống nước. Trước khi xuống nước, phải có đủ 8 lính bộ binh ở khoang sau hoặc chèn tải trọng tương đương; nếu không, do xe vốn nặng đầu, cân bằng sẽ bị phá vỡ và có thể chìm.
BMP-1 vượt tốt sông, hồ, nhưng không được thiết kế cho đổ bộ đường biển.
Các quốc gia sử dụng
[sửa | sửa mã nguồn]
Afghanistan –350 xe BMP-1 đặt mua năm 1979 từ Liên Xô và bàn giao trong giai đoạn 1979–1990 (một số xe có thể từng phục vụ trong quân đội Liên Xô trước đó).[34] Năm 1992 có 550 BMP-1 và BMP-2 đang biên chế.[35] Từ sau 2002, Nga bàn giao thêm từ 60 đến 80 xe BMP-1 và BMP-2. Sau khi Taliban tiếp quản chính quyền và tài sản quân sự Afghanistan vào tháng 8 năm 2021, các xe này được Quân đội Tiểu vương quốc Hồi giáo sử dụng trong vụ đụng độ Afghanistan–Iran năm 2023.[36]
Albania –Hơn 17 chiếc BMP-1 mua từ kho xe của Đông Đức năm 1995
Algérie – Từ 690 đến 800 chiếc BMP-1 đặt mua năm 1978 từ Liên Xô và bàn giao 1979–1984. Năm 1996 có 684 BMP-1 đang biên chế.[37] Algeria ký hợp đồng với Nga hiện đại hóa 400 chiếc BMP-1 vào năm 2006.[cần dẫn nguồn]
Angola –21 xe BMP-1 đặt mua năm 1993 từ Belarus, bàn giao năm 1993 (các xe trước đó phục vụ trong quân đội Liên Xô rồi Belarus, bán qua một công ty Bulgaria). 29 xe BMP-1 đặt mua năm 1993 từ Bulgaria, bàn giao năm 1993 (trước đó thuộc biên chế Bulgaria). 35 chiếc BMP-1 đặt mua năm 1993 từ Nga, bàn giao năm 1993 (trước đó thuộc Liên Xô rồi Nga). 183 xe BMP-1 đặt mua năm 1993 từ Nga, bàn giao 1993–1994.[34] Năm 1998 bàn giao thêm 65 chiếc từ Nga. Năm 1999 bàn giao 7 chiếc từ Belarus.[38][39] Hiện có 150 chiếc đang biên chế.[40]
Armenia – 150 xe BMP đang biên chế năm 1993. 212 BMP-1 năm 1994; 159 năm 1995 và 1996; 125 năm 1997–2000; 80 năm 2001–2006. 8 BMP-1K trong giai đoạn 1994–2000; 7 chiếc giai đoạn 2001–2006. 20 BRM-1 trong giai đoạn 1994–2000; 12 chiếc giai đoạn 2001–2006.[41]
Azerbaijan – 102 BMP-1 năm 1992; 172 năm 1993; 104 năm 1994; 135 năm 1995; 119 năm 1996; 114 năm 1997–1998; 95 năm 1999; 44 năm 2000–2004; và 6 chiếc năm 2006, trong đó có 2 chiếc đặt mua năm 2004 từ Ukraine và bàn giao năm 2005.[34]BRM-1: 13 chiếc năm 1992; 12 năm 1993; 34 năm 1994; 33 năm 1995–1998; 23 năm 1999; và 21 chiếc giai đoạn 2000–2006.[41]
Cộng hòa Artsakh – Vận hành một số lượng không xác định với pháo ZU-23-2.[42]
Belarus – Ban đầu thừa hưởng 938 BMP-1 từ Liên Xô cũ năm 1991. Có 461 chiếc biên chế năm 1995, 98 chiếc năm 2000 và 109 chiếc vào các năm 2003 và 2005.[43] Ngoài ra có 161 BRM-1 biên chế các năm 1995, 2000, 2003 và 2005.[43]
Brunei[37]
Bulgaria – 90 BMP-1P đang biên chế tính đến 2025.[44][45] Tổng cộng mua 560 chiếc, trong đó 100 chiếc đặt mua năm 1995 từ Nga và bàn giao năm 1996 (các xe này trước đó thuộc biên chế Nga).[34]
Campuchia – 8 BVP-1 từ Slovakia, 30 BMP-1 từ KPRAF (Quân đội Nhân dân Cách mạng Campuchia) cũ và 61 BMP-1 từ Cộng hòa Séc. [46]
Trung Quốc – Sản xuất hơn 3.000 xe Type 86 và các biến thể trên nền tảng này.[3] Có 1.000 Type 86 biên chế vào các năm 2003 và 2005.[47] Hiện khoảng 1.000 chiếc đang phục vụ.[48]
Bờ Biển Ngà – Đặt mua 13 chiếc năm 2002 từ Belarus và bàn giao giai đoạn 2002–2003.[34][3]
Cuba – Đặt mua 200 chiếc năm 1978 từ Liên Xô và bàn giao 1981–1988. Năm 1989 đặt mua thêm 200 chiếc, bàn giao năm 1990. Hiện đã nâng cấp lên biến thể BMP-1P với ATGM mới và thiết bị nhìn đêm cải tiến.[34]
Cộng hòa Dân chủ Congo – Đặt mua 20 chiếc năm 2005 từ Ukraine, bàn giao năm 2006.[34][3]
Ai Cập – Bàn giao 80 chiếc trong giai đoạn tháng 7- 8 năm 1973, 150 chiếc trong 8–9/1973. Sau chiến tranh, Ai Cập nhận thêm 30–50 chiếc. Có 200 chiếc biên chế năm 1996. 200 chiếc này được lắp động cơ diesel của Pháp và mang định danh BMP-1S.[37]
Guinea Xích Đạo – Đặt mua 20 chiếc năm 2006 từ Cộng hòa Séc, bàn giao năm 2007.[34][3]
Eritrea – Nhận một số xe từ Ethiopia.[49] Hiện có 15 chiếc đang biên chế.[50]
Ethiopia – Đặt 70 chiếc cùng 1.000 tên lửa chống tăng điều khiển 9M14M Malyutka năm 1977 từ Liên Xô, bàn giao 1977–1978.[34] Có 20 chiếc biên chế năm 1995.
Gruzia – Ban đầu thừa hưởng 667 chiếc từ Liên Xô cũ năm 1991. Đặt 15 chiếc năm 2007 từ Ukraine, bàn giao năm 2008.[34]80 BMP-1/BMP-2 bị phía Abkhazia tuyên bố chiếm giữ và 80 chiếc tương tự do quân Nam Ossetia tuyên bố chiếm giữ.[51]Số lượng biên chế: 51 (1992 & 1995), 67 (2000), 68 (2002), 65 (2005), 40 (2007),[49] 149 in 2008[52] 149 (2008) và 79 (BMP-1P & BMP-1U) năm 2011. Có 11 BRM-1K biên chế các năm 2000, 2002, 2005 và 1 chiếc năm 2008.[52]
Abkhazia – 80 xe BMP-1 và BMP-2 được Quân đội Abkhazia tiếp nhận.[51]
Nam Ossetia – 80 xe BMP-1 và BMP-2 được Quân đội Nam Ossetia tiếp nhận và biên chế năm 2007.[51]
Hy Lạp – 129 BMP-1 đang biên chế tính đến 2025.[53] Năm 2019 còn 200 chiếc trong biên chế, ước tính 140 chiếc hoạt động tốt.[54] Ban đầu đặt 501 BMP-1A1 Ost từ Đức năm 1991 và giao 1992–1994.[34] Hy Lạp đề nghị viện trợ 500 chiếc cho Iraq nhưng chỉ 100 được tiếp nhận (36 giao năm 2005 và 64 năm 2006).[3] Năm 2006 có 377 BMP-1A1 Ost trong biên chế.[3] Cuối 2014, BMP-1A1 Ost được lắp pháo phòng không ZU-23-2 thay tháp tiêu chuẩn; sau thử nghiệm chấp nhận, kế hoạch chuyển đổi 72 xe, số còn lại loại biên[55] Ngày 31/5/2022, thông báo Hy Lạp–Đức[56] thông báo Đức sẽ cấp Marder 1A3 đổi số BMP-1 tương đương Hy Lạp chuyển cho Ukraine hỗ trợ cuộc xâm lược 2022; 40 BMP-1 đã viện trợ và đang phục vụ trong Quân đội Ukraine.[57]
Guinée - Tiếp nhận 2 chiếc năm 2005.[58]Hezbollah – Số lượng không rõ BMP-1 trước đó thuộc Quân đội Syria) dùng trong Nội chiến Syria.[59]
Ấn Độ – Đặt mua 350–700 chiếc năm 1982 từ Liên Xô, giao 1983–1989.[34] Sản xuất/hoàn thiện trong nước 450–100 chiếc. Biên chế: 800 (1990), ~600 (1995), >350 (2000), ~600 (2002), 600 (2005), 700 (2008).[60] Đang trong quá trình loại biên.[61]
Iran – 200 chiếc kèm 2000 ATGM 9M14M Malyutka đặt năm 1981 từ Syria, giao 1982–1983. 400 chiếc kèm 4000 Malyutka đặt năm 1986 từ Liên Xô, giao 1986–1989 (xe sản xuất tại Tiệp Khắc).[34] A number of Type 86s were also bought from PRC.[48] Mua thêm một số Type 86 từ Trung Quốc.[16] Biên chế >150 BMP-1/Type 86 (1990), 300 (1995), 300 (2000), 350 (2002), khoảng 210 (2005 & 2008).[62] Có 200 BMP-1 trong biên chế năm 1996.[37] Iran cũng sản xuất 80 chiếc dựa trên Boragh giai đoạn 2001–2008[34] (toàn bộ dây chuyền khởi động 1997). Biên chế 40 APC Boragh (2000 & 2002) và 140 (2005 & 2008).[62]
Iraq – Đặt mua 200 chiếc năm 1973 từ Liên Xô và bàn giao giai đoạn 1974–1975. Đặt mua 750 chiếc năm 1981 từ Liên Xô và bàn giao giai đoạn 1981–1987 (các xe được sản xuất tại Tiệp Khắc).[34] Mua thêm một số Type 86 từ Trung Quốc. Có 1.500 BMP-1/BMP-2 trong biên chế năm 1990, khoảng 900 năm 1995, khoảng 1.000 năm 2000 và khoảng 900 năm 2002.[63] Đặt 100 BMP-1A1 Ost từ Hy Lạp năm 2005 (nhận 36 chiếc năm 2005 và 64 chiếc năm 2006; Hy Lạp đề nghị viện trợ 500 chiếc nhưng Iraq chỉ nhận 100) và 110 chiếc đặt năm 2006 từ Ukraine, bàn giao năm 2007.[34][3] Hiện Lục quân Iraq vận hành 434 BMP-1[64] (bao gồm cả BMP-1A1 Ost).
Kazakhstan – Có 300 chiếc năm 1995 và 2000, 350 năm 2002 và khoảng 210 năm 2005. Ngoài ra có 40 xe chở quân Boragh năm 2000 và 2002, khoảng 140 xe Boragh năm 2005.[65]
Kyrgyzstan – Có 349 chiếc trong biên chế năm 1995 và 274 chiếc năm 2000 và 2005. Ngoài ra có 28 BRM-1 năm 1995 và 113 chiếc năm 2000 và 2005.[66]
Libya – Đặt 800 chiếc năm 1979 từ Liên Xô, bàn giao giai đoạn 1979–1982.[34] Có 800 chiếc năm 1986, 750 năm 1996.[37][67] Hiện có 740 chiếc trong biên chế.[68]
Mông Cổ – Đặt 400 chiếc kèm 3.000 tên lửa chống tăng 9M14M Malyutka năm 1981 từ Liên Xô, bàn giao 1982–1985.[34] Có 400 chiếc năm 1996,[37] 310 chiếc năm 2003[69]
Maroc – 50 chiếc.[cần dẫn nguồn]
Moldova – Có 210 BMP-1 và BMP-2 trong biên chế năm 1994.[cần dẫn nguồn]
Mozambique – 40 chiếc năm 2003.[cần dẫn nguồn]
Myanmar – Mua hơn 50 chiếc từ Trung Quốc.[48][71]
CHDCND Triều Tiên – Đặt 100 chiếc năm 1972 từ Liên Xô (bàn giao 1972–1973). Đặt 122 chiếc năm 1984 từ Liên Xô (bàn giao 1985–1991).[34] Năm 1985 có 1.110 phương tiện gồm Korshun (tên Triều Tiên cho BMP-1[34]), VTT-323, Type 63 (YW-531), BTR-40, BTR-50, BTR-60 và BTR-152.[72] Có 200 Korshun trong biên chế năm 1996.[37]
Ba Lan – 916 BMP-1 đang hoạt động tính đến 2025.[53] Đặt 1.409 BWP-1 năm 1969 từ Liên Xô, bàn giao 1972–1979.[34] Mua thêm 22 xe trinh sát BWR-1D (BRM-1K) năm 1987 từ Liên Xô[73] và 16 BWR-1S (BPzV hiện đại hóa) từ Cộng hòa Séc đầu thập niên 1990. Số lượng BWR-1D và BWR-1S không đổi. Có 1.409 BWP-1 năm 1994,[49] 1.367 (1998),[74] 1.366 (1/1/1999 và 1/1/2000),[75][76] 1.332 (1/1/2002),[77] 1.328 (1/1/2003),[78] 1.321 (2004)[79] và 1.307 đầu 2006[80](Bộ Quốc Phòng Ba Lan công bố ngày 8/1/2006 có 1.298 BWP-1[81]). Nửa đầu 2008: 1.306 BWP-1, 33 BWP-1D, 5 MP-31 và 6 ZWDSz-2 trong biên chế.[82] Năm 2022 có 800 BWP-1 hoạt động. Sẽ được thay thế bằng BWP Borsuk (IFV bánh xích mới).[53] Một phần được viện trợ cho Ukraine trong cuộc xâm lược của Nga.[83]
Rwanda – Số lượng không rõ.[84]
Nga – 2.200 BMP-1/BMP-2/BMP-3 năm 1995 và 12.700 năm 2000, 2002, 2009.[85] 1.543 đang trực chiến và hơn 9.057 dự bị năm 2008.[86][87] Khoảng 750 trực chiến và hơn 10.000 dự bị năm 2009.[86]
Slovakia – Có 105 BVP-1 trong biên chế năm 2024.[53] Sẽ thay thế bằng BOV 8×8. 17 chiếc được hiện đại hóa lên chuẩn BVP-M.[53]Ban đầu thừa hưởng từ Tiệp Khắc (1992): 383 BVP-1, 120 BPzV “Svatava” và 207 OT-90.[49] Có 311 BVP-1 năm 1995 và 300 năm 1996.[37] Năm 2009 có 308 BVP-1, 71 BPzV “Svatava” và 205 OT-90. Cũng có BRM-1K trong biên chế.[88]
Sri Lanka – Đặt 12 chiếc năm 1994 từ Ukraine, bàn giao năm 1994.[34] Hiện có 13 chiếc trong biên chế.[89]
Sudan – 24 chiếc, bao gồm 1 chiếc do Belarus bàn giao năm 2004.[3]
Syria – Syria nhận 150–170 BMP-1 trước Chiến tranh Yom Kippur tháng 10/1973. 2.300 chiếc đặt mua năm 1977 từ Liên Xô và bàn giao giai đoạn 1977–1989.[34] Có 2.250 chiếc đang biên chế vào các năm 1990 và 1995, 2.300 vào 1996,[37] 2.250 vào 2000 và 2001, 2.600 vào 2003 và 2.100 vào 2005.[90]
Tajikistan – 40 chiếc thừa kế từ Liên Xô cũ năm 1991. 9 chiếc đang biên chế vào 2000 và 2005.[91] Hiện có 11 chiếc đang sử dụng.
Turkmenistan – 538 BMP-1/BMP-2 đang biên chế năm 1995, 930 chiếc vào 2000 và 2005. Có 51 BRM-1 năm 1995 và 12 chiếc vào 2000 và 2005.[92] Hiện có 156 BMP-1 đang sử dụng.
Ukraina – Khoảng 2.525 chiếc đang biên chế năm 1994,[49] 1,325 in 1995, 1,011 in 2000 and 1,008 in 2005. 1.325 năm 1995, 1.011 năm 2000 và 1.008 năm 2005. Ngoài ra có 490 BRM-1K năm 1995 và 458 vào 2000 và 2005.[93] Một số BMP-1 được nâng cấp lên chuẩn BMP-1U, một số khác chuyển đổi thành xe cứu kéo bọc thép (ARV).[94] Ukraina cũng nhập khẩu BVP-1 từ Séc.[95]
Uruguay – 10 chiếc đặt năm 1995 từ Cộng hòa Séc và bàn giao năm 1996 (xe đã từng phục vụ trong quân đội Séc).[34][96] 5 chiếc đặt năm 1996 và bàn giao 1998.[34] Từ 3 đến 5 chiếc đặt năm 1996 và bàn giao 1999 (xe đã qua sử dụng của Séc)[96]
Uzbekistan – Hiện có 180 BMP-1 đang sử dụng. Có 6 BRM-1 vào 2000 và 2005.[97]
Việt Nam – SIPRI báo cáo chuyển giao 150 BMP-1 & 150 BMP-2 (trong đó số BMP-2 thực tế nhỏ hơn số liệu báo cáo).[34]
Yemen – 150 chiếc đang biên chế năm 1996.[37]
Tham khảo
[sửa | sửa mã nguồn]- ^ a b Zaloga, Steven J.; Sarson, Peter (1994). BMP Infantry Fighting Vehicle 1967–94. New Vanguard (bằng tiếng Anh). Osprey Publishing. ISBN 978-1-85532-433-6.
- ^ "Боевые бронированные машины - Военный паритет: мобильная МБР Тополь, основной боевой танк Т-90, истребитель МиГ-29, ракета Булава, ракеты средней дальности". Военный паритет (Military Paritet) (bằng tiếng Nga). Truy cập ngày 9 tháng 11 năm 2025.
- ^ a b c d e f g h i "BMP-1". Deagel. Deagel.com. Truy cập ngày 6 tháng 1 năm 2012.
- ^ "Army Equipment". GlobalSecurity.org (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 9 tháng 11 năm 2025.
- ^ a b c d e f g h Malyshev S. (2002) (in Russian). Tanks in Russia. Boyevaya Mashina Pekhoty BMP-1 (1964-2000). Russian Motor Books. ISBN 5-09-873406-4.
- ^ a b c d e f g h i j k l m Боевая машина пехоты БМП-1 [Infantry Fighting Vehicle BMP-1]. Otvaga (bằng tiếng Nga). Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 12 năm 2007.
- ^ a b c d Foss, Chris (2005). Jane's Armour and Artillery 2005–2006. Jane's Information Group. ISBN 0-7106-2686-X.
- ^ "BMP-1 specs". GlobalSecurity.org. Truy cập ngày 9 tháng 11 năm 2025.
- ^ "Contents: Infantry Combat Vehicles" (PDF). Military Parade. tr. 28. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 14 tháng 6 năm 2007.
- ^ "BMP-1 Fighting Vehicle". FAS.org. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 12 năm 2014. Truy cập ngày 24 tháng 12 năm 2014.
- ^ a b c "BMP-1". Warfare.be. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 1 năm 2016. Truy cập ngày 14 tháng 3 năm 2019.
- ^ a b c "BMP-1 Infantry Fighting Vehicle". A Brief Guide to Russian Armored Fighting Vehicles. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 3 năm 2001.
- ^ a b c Zaloga & Sarson (1994), tr. 6.
- ^ Hull, Markov & Zaloga (1999), tr. 239.
- ^ a b Zaloga & Sarson (1994), tr. 7.
- ^ a b Zaloga & Sarson (1994), tr. 7–8.
- ^ a b c d e f Fedoseev, Semyon (2001). "BMP-1". Tekhnika I Vooruzhenie (bằng tiếng Nga) (4): 4–12.
- ^ a b c "BMP-1". Moscow Institute of Physics and Technology, Center for Arms Control, Energy and Environmental Studies. Bản gốc lưu trữ 4 tháng 8 2009. Truy cập 13 tháng 12 2009.
- ^ a b Zaloga & Sarson (1994), tr. 18.
- ^ Hull, Markov & Zaloga (1999), tr. 249.
- ^ Hull, Markov & Zaloga (1999), tr. 246.
- ^ Zaloga & Sarson (1994), tr. 18-19.
- ^ a b c d e "BMP-1 [ZSRR]". Pancerni.net (bằng tiếng Ba Lan). ngày 3 tháng 3 năm 2016. Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 14 tháng 3 năm 2019.
- ^ a b c d e Zaloga & Sarson (1994), tr. 22.
- ^ Hull, Markov & Zaloga (1999), tr. 248.
- ^ "БМП-1 – боевая машина пехоты" (bằng tiếng Nga). army.lv. Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 11 năm 2017. Truy cập ngày 12 tháng 11 năm 2017.
- ^ "БМП-2 (объект 675), история, характеристики". dokwar.ru. Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 11 năm 2017. Truy cập ngày 12 tháng 11 năm 2017.
- ^ Zaloga & Sarson (1994), tr. 40.
- ^ ПТРК 9К11/9К14 "Малютка". btvt.narod.ru (bằng tiếng Nga). Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 4 năm 2011. Truy cập ngày 14 tháng 3 năm 2019.
- ^ Zaloga & Sarson (1994), tr. 17.
- ^ Вооружение БМП-1 [Armament of BMP-1]. Russarms.com (bằng tiếng Nga). Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 2 năm 2009.
- ^ Lỗi chú thích: Thẻ
<ref>sai; không có nội dung trong thẻ ref có tênMilitarium.net - ^ a b c d Zaloga & Sarson (1994), tr. 19-20.
- ^ a b c d e f g h i j k l m n o p q r s t u v w x y z "SIPRI Arms Transfers Database". Armstrade.sipri.org. Stockholm International Peace Research Institute (SIPRI). Truy cập ngày 6 tháng 1 năm 2012.
- ^ "История России. Всемирная, мировая история – Афганистан в конце XX в". Istorya.ru (bằng tiếng Nga). Truy cập ngày 6 tháng 1 năm 2012.
- ^ "РОССИЯ И АФГАНИСТАН ВЫПОЛНЯЮТ ДОГОВОРЕННОСТИ, ЗАКЛЮЧЕННЫЕ МЕЖДУ ВОЕННЫМИ ВЕДОМСТВАМИ ДВУХ СТРАН В КАБУЛЕ В 2002 Г". Defense Express News (bằng tiếng Nga). Defense-ua.com. ngày 29 tháng 1 năm 2003. Truy cập ngày 6 tháng 1 năm 2012.
- ^ a b c d e f g h i j "Pancerni.net 2". Pancerni.abajt.pl. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 10 năm 2008. Truy cập ngày 6 tháng 1 năm 2012.
- ^ "Россия и Ангола подписали документ о военно-техническом сотрудничестве". Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 9 năm 2010.
- ^ [1][liên kết hỏng]
- ^ "Angolan army". Army Recognition. armyrecognition.com. Truy cập ngày 6 tháng 1 năm 2012.
- ^ a b "Международный Контроль Над Обычными Вооружениями И Неконтролируемое Оружие" (PDF). Armscontrol.ru (bằng tiếng Nga). Truy cập ngày 6 tháng 1 năm 2012.
- ^ Mitzer, Stijn; Oliemans, Joost. "A Caucasian Contraption: Armenia's BMP-1-ZUs". Oryx. Truy cập ngày 23 tháng 11 năm 2023.
- ^ a b "Belarus Army Equipment". GlobalSecurity.org. GlobalSecurity.org. Truy cập ngày 6 tháng 1 năm 2012.
- ^ IISS 2025
- ^ "Bulgarian army". Army Recognition. armyrecognition.com. Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 7 năm 2009. Truy cập ngày 6 tháng 1 năm 2012.
- ^ "Cambodian army". Army Recognition. armyrecognition.com. Truy cập ngày 6 tháng 1 năm 2012.
- ^ "People's Liberation Army". GlobalSecurity.org. GlobalSecurity.org. Truy cập ngày 6 tháng 1 năm 2012.
- ^ a b c "Type 86 Infantry Fighting Vehicle". SinoDefence.com. SinoDefence.com. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 1 năm 2012. Truy cập ngày 6 tháng 1 năm 2012.
- ^ a b c d e World Defence Almanac
- ^ International Institute for Strategic Studies (2021). The Military Balance. tr. 464. ISBN 978-1032012278.
- ^ a b c "АБХАЗИЯ.ORG :: Статьи : Почему Грузия проиграет будущую войну". Abkhaziya.org (bằng tiếng Nga). Truy cập ngày 6 tháng 1 năm 2012.
- ^ a b "Georgia Army". GlobalSecurity.org. GlobalSecurity.org. Truy cập ngày 6 tháng 1 năm 2012.
- ^ a b c d e International Institute for Strategic Studies: The Military Balance 2025
- ^ Λάζος, Ευθύμιος (ngày 6 tháng 9 năm 2019). "Τεθωρακισμένα οχήματα στον ΕΣ: Προβλήματα παλαιότητας και επιχειρησιακής απαξίωσης". Defence Review (bằng tiếng Hy Lạp). Truy cập ngày 9 tháng 5 năm 2022.
- ^ Theodore L Valmas (ngày 11 tháng 12 năm 2014). "Greece trials ZU-23-2 armed BMP-1P infantry fighting vehicle". IHS Jane's Defence Weekly. Truy cập ngày 13 tháng 12 năm 2014.
- ^ "Germany announces new deal with Greece to send tanks to Ukraine". POLITICO (bằng tiếng Anh). ngày 31 tháng 5 năm 2022. Truy cập ngày 8 tháng 2 năm 2023.
- ^ GEOPOLITIKI (ngày 1 tháng 6 năm 2022). "Greece sends BMP-1's to Ukraine in exchange for German Marder 1A3's - GEOPOLITIKI" (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 8 tháng 2 năm 2023.
- ^ The Military Balance 2021, tr. 470.
- ^ Sex, Zachary; Abi-Chahine, Bassel (2021). Modern Conflicts 2 – The Lebanese Civil War, From 1975 to 1991 and Beyond. Modern Conflicts Profile Guide. Quyển II. AK Interactive. tr. 218. EAN 8435568306073
- ^ "Indian Army Equipment". GlobalSecurity.org. GlobalSecurity.org. Truy cập ngày 6 tháng 1 năm 2012.
- ^ "Land Forces Site – BMP-1". Bharat Rakshak. Bharat Rakshak. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 9 năm 2009. Truy cập ngày 6 tháng 1 năm 2012.
- ^ a b "Iranian Ground Forces Equipment". GlobalSecurity.org. GlobalSecurity.org. Truy cập ngày 6 tháng 1 năm 2012.
- ^ "Iraqi Ground Forces Equipment". GlobalSecurity.org. GlobalSecurity.org. Truy cập ngày 6 tháng 1 năm 2012.
- ^ Shapir, Yiftah S., Middle East Military Balance, Tel Aviv University, 6, 7 "Archived copy" (PDF). Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 24 tháng 8 năm 2008. Truy cập ngày 19 tháng 12 năm 2007.
{{Chú thích web}}: Quản lý CS1: bản lưu trữ là tiêu đề (liên kết) - ^ "Kazak Ground Forces Equipment". GlobalSecurity.org. GlobalSecurity.org. Truy cập ngày 6 tháng 1 năm 2012.
- ^ "Kyrgyz Army Equipment". GlobalSecurity.org. GlobalSecurity.org. Truy cập ngày 6 tháng 1 năm 2012.
- ^ "Libyan Army Equipment". GlobalSecurity.org. GlobalSecurity.org. Truy cập ngày 6 tháng 1 năm 2012.
- ^ "Libyan army". Army Recognition. armyrecognition.com. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 2 năm 2010. Truy cập ngày 6 tháng 1 năm 2012.
- ^ "Армии стран мира : Вооруженные силы иностранных государств на 2001 год : М". Soldiering.ru (bằng tiếng Nga). Truy cập ngày 18 tháng 12 năm 2012.
- ^ "The Struggle For Relevance: Transnistria's Fighting Vehicles". Oryx. Truy cập ngày 28 tháng 9 năm 2023.
- ^ Armoured Vehicles, Deagel (ngày 1 tháng 1 năm 2003). "BMP-1". Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 12 năm 2020. Truy cập ngày 10 tháng 12 năm 2020.
- ^ "Equipment Holdings – Korean People's Army". GlobalSecurity.org. GlobalSecurity.org. Truy cập ngày 6 tháng 1 năm 2012.
- ^ "MON". Ministerstwo Obrony Narodowej (Poland). Wp.mil.pl. Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 4 năm 2008. Truy cập ngày 6 tháng 1 năm 2012.
- ^ "disarmament.un.org".
- ^ "disarmament.un.org 2".
- ^ "disarmament.un.org 3".
- ^ "disarmament.un.org 4".
- ^ "disarmament.un.org 5".
- ^ "Wojsko Polskie AD 2004". Militarium. Militarium.net. ngày 4 tháng 9 năm 2008. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 2 năm 2011. Truy cập ngày 6 tháng 1 năm 2012.
- ^ "Wojsko Polskie AD 2006". Militarium. Militarium.net. ngày 6 tháng 9 năm 2008. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 2 năm 2011. Truy cập ngày 6 tháng 1 năm 2012.
- ^ "Ministerstwo Obrony Narodowej". Ministerstwo Obrony Narodowej (Poland). Mon.gov.pl. ngày 8 tháng 1 năm 2006. Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 2 năm 2012. Truy cập ngày 6 tháng 1 năm 2012.
- ^ "Uzbrojenie Wojska Polskiego w 2008 r". Militarium. Militarium.net. ngày 18 tháng 8 năm 2008. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 9 năm 2009. Truy cập ngày 6 tháng 1 năm 2012.
- ^ Oryx. "Answering The Call: Heavy Weaponry Supplied To Ukraine". Oryx. Truy cập ngày 26 tháng 5 năm 2022.
- ^ "Rwandan army". Army Recognition. armyrecognition.com. Truy cập ngày 6 tháng 1 năm 2012.
- ^ Russian Army Equipment. Globalsecurity.org. Retrieved 6 January 2012.
- ^ a b "Warfare.ru". Warfare.ru. Warfare.ru. ngày 5 tháng 9 năm 2010. Truy cập ngày 6 tháng 1 năm 2012.
- ^ "A Brief Guide to Russian Armored Fighting Vehicles". ngày 6 tháng 3 năm 2001. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 3 năm 2001.
- ^ "Slovak army". Army Recognition. armyrecognition.com. Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 8 năm 2009. Truy cập ngày 6 tháng 1 năm 2012.
- ^ "Sri Lankan army". Army Recognition. armyrecognition.com. Truy cập ngày 6 tháng 1 năm 2012.
- ^ Syria – Army Equipment. Globalsecurity.org. Retrieved 6 January 2012.
- ^ Tajik-Army Equipment. Globalsecurity.org. Retrieved 6 January 2012.
- ^ Turkmen-Army Equipment. Globalsecurity.org. Retrieved 6 January 2012.
- ^ Ground Forces Equipment – Ukraine. Globalsecurity.org. Retrieved 6 January 2012.
- ^ "Ukrainian army". Army Recognition. armyrecognition.com. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 6 năm 2009. Truy cập ngày 6 tháng 1 năm 2012.
- ^ "Ukraine imports ex-Czech BVP-1 IFVs | April 2020 News Defense Global Security army industry | Defense Security global news industry army 2020 | Archive News year". www.armyrecognition.com.
- ^ a b "Czech/web" (PDF). Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 2 tháng 10 năm 2008.
- ^ Uzbek-Army Equipment. Globalsecurity.org. Retrieved 6 January 2012.
Tài liệu
[sửa | sửa mã nguồn]- Боевая машина пехоты БМП-1. Памятка экипажу по эксплуатации (Infantry Fighting Vehicle BMP-1. Service Instruction for a Crew) (bằng tiếng Nga). The Ministry of Defence of USSR. 1974.
- Боевая машина пехоты БМП-1. Техническое описание и инструкция по эксплуатации (Infantry Fighting Vehicle BMP-1. Technical Description and Service Instruction) (bằng tiếng Nga). The Ministry of Defence of USSR. 1979.
- Fedoseev, S. L. (2001). Иллюстрированный справочник. Боевые машины пехоты (Illustrated Guide. Infantry Fighting Vehicles) (bằng tiếng Nga). Astrel', AST. ISBN 5-17-008788-8.
- Foss, Christopher F. (2005). Jane's Armour and Artillery 2005–2006. Jane's Information Group. ISBN 978-0-7106-2686-8.
- Grau, Lester W. (tháng 1 năm 1997). "Russian-Manufactured Armored Vehicle Vulnerability in Urban Combat: The Chechnya Experience". Red Thrust Star. US Army.
- Holyavskiy G.L. (2001). Энциклопедия бронетехники. Гусеничные боевые машины (Encyclopedia of Armoured Vehicles. Tracked Fighting Vehicles) (bằng tiếng Nga). Harvest. ISBN 985-13-0035-7.
- Hull, Andrew W.; Markov, David R.; Zaloga, Steven J. (1999). Soviet/Russian Armor and Artillery Design Practices: 1945 to Present. Darlington Productions. ISBN 1-892848-01-5.
- Karpenko, A. V. (1996). Обозрение отечественной бронетанковой техники (1905–1995 г.г.) (Overview of Native Armoured Vehicles, 1905–1995) (bằng tiếng Nga). Nevskiy Bastion.
- Malyshev, S. (2002). Боевая машина пехоты БМП-1 (1964–2000) (Infantry Fighting Vehicle BMP-1, 1964–2000) (bằng tiếng Nga). Russian Motor Books.
- Szulc, Tomasz (tháng 1 năm 2000). "Modernizacje bojowego wozu piechoty BMP-1 cz.I". Nowa Technika Wojskowa (bằng tiếng Nga). ISSN 1230-1655.
- Tsouras, P. G. (1994). Changing Orders: The Evolution of the World's Armies, 1945 to the Present. Facts On File, Inc. ISBN 0-8160-3122-3.
- Witkowski, Igor (1993). Lekkie i średnie opancerzone wozy bojowe (bằng tiếng Nga). WiS. ISBN 83-86028-02-5.
- Zaloga, S.; Sarson, P. (1994). BMP Infantry Fighting Vehicle, 1967–94. New Vanguard 14. Osprey Publishing. ISBN 978-1-85532-433-6.