9M14 Malyutka

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
9M14 Malyutka, B-72
AT-3 Sagger.jpg
Tên lửa 9M14M
Loại Tên lửa chống tăng
Nguồn gốc  Soviet Union
Lược sử hoạt động
Trang bị 1961-nay
Quốc gia sử dụng Liên Xô và các quốc gia khác
Sử dụng trong Chiến tranh Yom Kippur, Chiến tranh Việt Nam, Chiến tranh Liban 2006
Lược sử chế tạo
Nhà thiết kế Phòng thiết kế chế tạo máy (KBM, Kolomna)
Năm thiết kế Thập niên 1960
Giai đoạn sản xuất 1961
Các biến thể 9M14M, 9M14P1, Malyutka-2, Malyutka-2F
Thông số kỹ chiến thuật
Khối lượng 10.9 kg (9M14M)
11.4 kg (9M14P1)
12.5 kg (Malyutka-2)
~12 kg (Malyutka-2F)
Chiều dài 860 mm
1005 mm khi sẵn sàng chiến đấu (Malyutka-2)
Chiều rộng 393 mm (sải cảnh)
Đường kính 125 mm

Tầm bắn hiệu quả 500-3000 m
Đầu đạn 2.6 kg (9M14M, 9M14P1)
3.5 kg (Malyutka-2, Malyutka-2F)

Tốc độ 115 m/s (9M14M, 9M14P1)
130 m/s (Malyutka-2, Malyutka-2F) [1]
Hệ thống điều khiển MCLOS

Tổ hợp tên lửa chống tăng mang vác 9M14 Malyutka hay còn có tên khác là 9K11 (tên đầy đủ trong tiếng Nga là Протитанковий керованийракетний комплекс "Малютка") (tên ký hiệu của NATOAT-3 Sagger, tên gọi ở Việt NamB-72) là loại tên lửa chống tăng, dẫn hướng bằng dây MCLOS của Liên Xô. Nó là loại tên lửa vác vai có điều khiển được sử dụng rộng rãi nhất. Trong thời gian từ 1962 - 1970, số tên lửa được sản xuất và đưa vào sử dụng đã đạt đến đỉnh cao nhất là 25.000 quả mỗi năm. Nhiều phiên bản sao chép của AT-3 Sagger nhưng được chế tạo với tên gọi khác nhau ở một số nước.

Phát triển[sửa | sửa mã nguồn]

Sự ra đời và phát triển của loại tên lửa này được bắt đầu từ tháng 7 năm 1961, với sự trợ giúp của chính phủ trong dự án cho hai đội thiết kế: Tula và Kolomna. Các yêu cầu được đặt ra gồm:

  • Có thể đặt lên xe hay mang trên người
  • Có tầm bắn khoảng 3000 m
  • Có thể xuyên được lớp vỏ thép dày 200 mm với góc tới 60°
  • Có khối lượng lớn nhất là 10 kg.

Việc thiết kế được dựa trên các mẫu tên lửa chống tăng của phương Tây trong những năm 1950, như Entac của PhápCobra của Thụy sỹ. Cuối cùng, mẫu thử được phát triển bởi Phòng thiết kế máy Kolomna đã được chọn, đây cũng là phòng thiết kế đã chế tạo ra tổ hợp chống tăng 3M6 Shmel (AT-1 Snapper). Các cuộc thử nghiệm đầu tiên đã được hoàn thành vào tháng 12 năm 1962 và được chấp nhận đưa vào trang bị vào tháng 9 năm 1963.

Trước đây, các tên lửa vác vai của Liên Xô đã được triển khai như là một phần của trung đội chống tăng. Mỗi trung đội có hai tiểu đội Malyutka, mỗi tiểu đội có hai tổ. Mỗi tổ có hai dàn phóng. Ngoài ra một người lính còn được trang bị RPG-7. Tên lửa có thể được trang bị cho xe BMP-1, BMD-1BRDM-2.

Mô tả[sửa | sửa mã nguồn]

Tên lửa có thể được bắn từ một ống phóng vác vai (9P111), hoặc từ một xe có trang bị dàn phóng (BMP-1, BRDM-2) hay các máy bay trực thăng (Mi-2, Mi-8, Mi-24, Soko Gazelle). Khi tên lửa còn đặt trong ống bằng sợi 9P111, sẽ mất khoảng 5 phút để chuẩn bị cho việc phóng tên lửa.

Tên lửa được dẫn hướng đến mục tiêu bởi người điều khiển, người này sử dụng cần lái tay cầm nhỏ (9S415) để điều khiển; do đó đòi hỏi người điều khiển phải có một số kỹ năng, kinh nghiệm nhất định mới sử dụng hiệu quả loại tên lửa này. Việc điều chỉnh hướng bay của người điều khiển được truyền đến tên lửa theo 3 sợi dây nhỏ nối ở phía đuôi của tên lửa. Tên lửa lao vào không trung ngay sau khi được phóng ra, điều này giúp tên lửa tránh đâm vào các chướng ngại vật hay mặt đất. Trong khi bay tên lửa xoay 8,5 vòng/giây - ban đầu quá trình quay được tạo ra bởi động cơ của tên lửa, và được duy trì bằng một góc nhỏ của các cánh. Tên lửa sủ dụng một con quay hồi chuyển nhỏ để định hướng cho chính nó tương đối với mặt đất; và do đó tên lửa mất một khoảng thời gian để đạt được hướng bay đến mục tiêu ổn định, lúc này tầm bay tối thiểu khoảng 500–800 m. Đối với các mục tiêu có cự ly dưới 1000 m, người bắn có thể dẫn hướng cho tên lửa bằng mắt thường; với mục tiêu trên 1000 m người bắn phải sử dụng kính ngắm 9Sh16, có độ phóng đại 8 lần, và tầm nhìn là 22.5 độ.

Một ụ pháo của BMP-1 có trang bị tên lửa Sagger
Một máy bay trực thăng chiến đấu có trang bị tên lửa Malyutka.

Khả năng tên lửa trung mục tiêu với những ước tính ban đầu dao động trong khoảng 90% đến 60%, kinh nghiệm cho thấy khả năng này vào khoảng 25% và 20% tùy thuộc tình hình và kỹ năng của người thao tác. MCLOS đòi hỏi kỹ năng của người thao tác: một báo cáo cho biết phải bắn mô phỏng khoảng 2.300 lần thì mới có thể thao tác thành thạo tên lửa cũng như bắn mô phỏng 50 đến 60 lần một tuần để duy trì mức độ kỹ năng.

2 nhược điểm lớn nhất của hệ thống vũ khí này là tầm bắn cực tiểu khoảng 500–800 m (mục tiêu gần hơn thì tên lửa không hiệu quả) và thời gian cần để tên lửa đạt tầm bắn tối đa là khoảng 30 giây, khoảng thời gian này đủ cho mục tiêu có thể cơ động thoát được, hay có thể trốn sau những chướng ngại vật, bắn lựu đạn tạo màn khói hay bắn phản lại phía tên lửa.

Phiên bản mới của tên lửa này đã khắc phục được những nhược điểm trên bằng cách sử dụng hệ dẫn hướng SACLOS cũng như nâng cấp hệ thống động cơ nhằm tăng tốc độ bay trung bình.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Chiến tranh Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Tên lửa AT-3 Sagger (hay B-72 theo cách gọi của Việt Nam) đã được sử dụng rất thành công bởi các chiến sỹ của Quân đội Nhân dân Việt Nam trong Chiến tranh Việt Nam những năm 1972. Nó cũng được sử dụng thành công ở một số cuộc chiến tranh khác.[2]

Vào ngày 23 tháng 4-1972, trung đoàn tăng số 20 của Quân lực Việt Nam Cộng hòa mới được tổ chức không lâu (được trang bị xe tăng M48 Patton) đã bị các đơn vị của Quân đội Nhân dân Việt Nam trang bị các tên lửa dẫn hướng chống tăng 9M14M Malyutka phá hủy.[3] Một xe tăng M48A3 Patton và một xe M113 Armored Cavalry Assault Vehicle (ACAV) bị 9M14M tiêu diệt, ngoài ra một xe M113 khác cũng bị hư hại.[4] Trước đó 2 ngày, 1 chiếc M41 đã bị AT-3 phá hủy trong trận Đắk Tô - Tân Cảnh, 1972, đây có thể coi là lần đầu tiên AT-3 được sử dụng trong thực chiến.

Chiến tranh Yom Kippur[sửa | sửa mã nguồn]

Tên lửa 9M14 đã được quân đội Ai CậpSyria sử dụng thành công trong cuộc chiến tranh năm 1973 này. Các nguồn của Liên Xô cho biết tên lửa 9M14 đã tiêu diệt 800 xe tăng của Israel trong chiến tranh, dù một số nguồn nói rằng con số này lên tới 1.063 xe - nhưng con số 1.063 xe có thể bao gồm những xe tăng ngừng hoạt động trong vòng khoảng 24 giờ.[2]

Quân đội Israel tiến hành một nghiên cứu và đi đến kết luận những con số trên là phóng đại. Sau khi phân tích cuộc chiến, Israel tuyên bố chỉ có 150 xe tăng bị phá hủy bởi tên lửa 9M14. Phần lớn tổn thất xe tăng của Israel là do RPG-7 (loại vũ khí này đã được bộ binh Ai Cập sử dụng khéo léo trong chiến đấu tầm gần) và một phần nhỏ do xe bị cháy. Ngoài ra có trường hợp sau khi xe quay trở về căn cứ trên thân xe vẫn dính tên lửa 9M14 nhưng không bị hư hại do đầu đạn tên lửa trục trặc và không phát nổ. (Xem Flight International, 7 tháng 3, 1974.)

Chiến tranh biên giới Việt-Trung[sửa | sửa mã nguồn]

Trong chiến tranh biên giới Việt-Trung năm 1979, ít nhất một xe tăng của Quân giải phóng Trung Quốc đã bị tiêu diệt bởi tên lửa chống tăng của Việt Nam. Có thể là do hệ thống Malyutka gây ra. Vụ nổ do đầu nổ của tên lửa gây ra đã gây ra vụ nổ thứ hai ơ nơi chứa đạn dược khiến toàn bộ xe tăng bị phá hủy và cả tổ lái đều chết.

Trong thập niên 1980, đã có ít nhất một trường hợp các đơn vị của Việt Nam bắn tên lửa 9M14 vào các vị trí của Trung Quốc. Trong một trường hợp như vậy một lính Trung Quốc đã bị giết.

Các kiểu[sửa | sửa mã nguồn]

Một hộp điều khiển 9S415 dùng cho tên lửa Sagger
  • AT-3 Sagger
    • AT-3A Sagger A 9M14 Malyutka dẫn hướng bằng dây MCLOS Trang bị năm 1963, tầm bắn 2,5 km, xuyên được 400mm thép cán RHA.
    • AT-3B Sagger B 9M14M Malyutka-M dẫn hướng bằng dây MCLOS Trang bị năm 1973, cải tiến động cơ, giảm thời gian bay đạt tầm bắn tối đa. Trọng lượng 11 kg. Tầm bắn tăng lên 3 km.
    • AT-3C Sagger C 9M14P Malyutka-P dẫn hướng bằng dây SACLOS
      • 9M14P Tăng khối lượng đầu nổ, xuyên được 460 mm thép cán RHA, Trang bị năm 1969
      • 9M14P1 Tăng khối lượng đầu nổ, xuyên được 520 mm thép cán RHA, cải tiến chống giáp ERA.
      • 9M14MP1
      • 9M14MP2
    • AT-3D Sagger D dẫn hướng bằng dây SACLOS Trang bị thập niên 1990. Trọng lượng 13 kg. Tầm bắn 3 km. Tốc độ tăng lên 130 m/s.
      • 9M14-2 Malyutka-2 đầu đạn HEAT (lượng nổ mạnh chống tăng) xuyên được 800 mm 3.5 kg thép cán RHA. Trang bị 1992. Trọng lượng 12.5 kg.
      • 9M14-2M Malyutka-2M đầu đạn HEAT nối tiếp 4.2 kg tăng khả năng chống giáp ERA. Trọng lượng 13.5 kg. Tốc độ 120 m/s.
      • 9M14-2P Malyutka-2P
      • 9M14-2F Malyutka-2F đầu đạn thermobaric 3.0 kg. Có thể dùng chống bộ binh và xe cộ.
      • 9M14P-2F
      • 9M14-2T Malyutka-2T do công ty Yugoimport SDPR của Serbia chế tạo, dẫn hướng SACLOS đầu đạn HEAT nối tiếp 4.4 kg xuyên được 1.000 mm thép cán RHA, tăng khả năng chống giáp ERA. Trọng lượng 13.7 kg. Tốc độ 120 m/s
  • HJ-73 Hongjian Hồng Tiễn-73 Trung Quốc
  • RAAD Iran
    • RAAD
    • I-RAAD tăng khả năng chống giáp ERA
  • Susong-Po Bắc Triều Tiên
  • POLK Slovenia sản xuất dựa trên AT-3C
  • Kun Wu 1 Đài Loan

Quốc gia sử dụng[sửa | sửa mã nguồn]

 Afghanistan
 Albania
 Algérie
 Angola
 Armenia
 Bangladesh
 Bosna và Hercegovina
 Bungary
Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa
 Croatia
 Cuba
 Thổ Nhĩ Kỳ
 Tiệp Khắc
Flag of Egypt.svg Ai Cập
 Ethiopia
Hezbollah
 Hungary
 Iran
 Iraq
Flag of India.svg Ấn Độ
 Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Triều Tiên
 Libya
 Mozambique
 Peru
 Ba Lan
 România
 Serbia
 Slovenia
 Syria
 Uganda
 Việt Nam
 Zambia

Ghi chú[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]