S-25 Berkut
| S-25 Berkut (Tên định danh NATO: SA-1 Guild) | |
|---|---|
Tên lửa S-50 | |
| Loại | Tên lửa đất đối không |
| Nơi chế tạo | |
| Lược sử hoạt động | |
| Phục vụ | 1955−1986 |
| Sử dụng bởi | Soviet Union |
| Lược sử chế tạo | |
| Người thiết kế | Lavochkin OKB |
| Năm thiết kế | 1950 |
| Giai đoạn sản xuất | 1954−1959 |
| Số lượng chế tạo | 32.000[1] |
| Thông số | |
| Chiều dài | 12 m (39 ft) |
| Đường kính | 700 mm (28 in) |
| Đầu nổ | Đầu đạn nổ mảnh |
| Trọng lượng đầu nổ | 250 kg (550 lb) |
| Cơ cấu nổ | Ngòi nổ cận đích và va chạm |
| Động cơ | Tên lửa đẩy nhiên liệu lỏng |
| Sải cánh | 2,7 m (8 ft 10 in) |
| Tầm hoạt động | 32–40 km (20–25 mi) |
| Trần bay | 20 km (12 mi) |
| Tốc độ | Mach 2.5 |
| Hệ thống lái | Dẫn đường có điều khiển |
| Tham khảo | [2][3] |
S-25 Berkut (tiếng Nga: С-25 «Беркут»; "Berkut" nghĩa là đại bàng vàng) là một tổ hợp tên lửa đất đối không chiến lược đầu tiên của Liên Xô. Tên định danh NATO là SA-1 Guild. Vào đầu thập niên 1950, nó được thử nghiệm tại Kapustin Yar. Hệ thống này được triển khai thành nhiều vòng phòng thủ quanh Moskva từ năm 1955 và đạt tình trạng sẵn sàng chiến đấu vào tháng 6 năm 1956. Tuy nhiên, nó không phát hiện, bám bắt hay đánh chặn được lần duy nhất máy bay trinh sát U-2 bay qua thủ đô Moskva vào ngày 5 tháng 7 năm 1956.[4][5] Tổ hợp này chỉ được sử dụng để bảo vệ Moskva, các hệ thống cơ động khác như S-75 (SA-2 Guideline) sẽ được sử dụng trong hầu hết các vai trò khác.Trong suốt thời gian phục vụ dài, hệ thống được nâng cấp nhiều lần, và cuối cùng được thay thế bởi S-300P vào năm 1982. Các tên gọi khác gồm R-113 (radar bắt bám mục tiêu), B-200 (radar dẫn bắn tên lửa), A-11/A-12 (anten cho B-200), V-300 (một hệ thống SAM); S-25 là viết tắt của Systema 25.
Bối cảnh
[sửa | sửa mã nguồn]Sau khi Thế chiến II kết thúc, Liên Xô bắt đầu củng cố phòng không thủ đô Moskva trước nguy cơ tấn công hạt nhân từ máy bay ném bom chiến lược của Mỹ và Anh. Dưới thời Joseph Stalin, họ khởi động chương trình tên lửa dựa trên công nghệ quân sự Đức thu được, đồng thời hiện đại hóa sâu rộng pháo phòng không.[1]
Đến năm 1958, một nghiên cứu của Lục quân Hoa Kỳ kết luận rằng Moskva sở hữu mạng lưới phòng không dày đặc nhất thế giới lúc bấy giờ. Bên cạnh việc nâng cấp pháo cao xạ (tích hợp hệ thống điều khiển hỏa lực và ngòi nổ cận đích) và theo đuổi một chương trình máy bay tiêm kích đánh chặn quy mô lớn, Stalin đặc biệt quan tâm tới tên lửa đất đối không, xuất phát từ thực tế là pháo cao xạ và máy bay tiêm kích đã không mấy hiệu quả trong việc làm giảm thiểu các trận oanh tạc của Đồng Minh vào Đức.[1]
Năm 1950, chương trình Berkut (“Đại bàng vàng”) được khởi động dưới sự chỉ đạo của Sergey Beria (con trai Lavrenty Beria) và Thiếu tướng Pavel N. Kuksenko thuộc Cục Đặc biệt số 1 (SB-1).[a] Sau khi Stalin qua đời năm 1953 và xảy ra đấu tranh quyền lực, cả S. Beria và Kuksenko đều bị miễn nhiệm; Alexander A. Raspletin được bổ nhiệm làm giám đốc duy nhất của chương trình. Đồng thời, chương trình được đổi tên thành S-25 nhằm xóa dấu vết liên hệ với Lavrenty Beria (mật danh “Berkut” vốn ghép từ tên Beria và Kuksenko).[1][6]
History
[sửa | sửa mã nguồn]Tháng 8/1950, Stalin ra lệnh xây dựng vòng phòng không quanh Moskva có khả năng chặn 1.000 máy bay ném bom từ mọi hướng,[6] yêu cầu này được giữ nguyên cả sau khi ông qua đời.[1]
Do thời gian gấp, S-25 tận dụng mạnh công nghệ và nhân lực Đức Quốc xã, đồng thời có cải tiến của các nhà khoa học Liên Xô. Nguyên mẫu radar B-200 đầu tiên hoàn tất năm 1951 nhưng chưa đạt yêu cầu; nguyên mẫu thứ hai hoàn tất vào tháng 6 năm 1952 và thử nghiệm trong gia đoạn 24/6–20/9/1952. Những thử nghiệm dẫn bắn đầu tiên được gắn trên máy bay thay vì trên tên lửa.[1]
Lần phóng thử V-300 đầu tiên diễn ra 25/6/1951 tại bãi thử Kapustin Yar. 50 quả được bắn thử trước khi radar B-200 sẵn sàng vào cuối năm 1952. Between September 1952 and May 1953, 81 missiles were fired as the designers began integrating the missile and fire control systems. Từ tháng 9/1952 đến tháng 5/1953, các kỹ sư đã bắn thử 81 quả tên lửa khi bắt đầu tích hợp tên lửa với hệ thống điều khiển hỏa lực. Bài thử hệ thống hoàn chỉnh đầu tiên diễn ra ngày 25/5/1953: một chiếc Tupolev Tu-4 bị V-300 bắn hạ ở độ cao 7 km (4,3 mi). Bản Berkut đầu tiên hoàn tất phát triển vào 6/1953; bản sản xuất của V-300 được bắn thử năm 1954, có thể tấn công đồng thời 20 mục tiêu.[1] Phiên bản hạt nhân của V-300 với đầu đạn 10 kt được thử vào tháng 1/1957 để chống lại đội hình máy bay dày đặc.[5]
Trận địa phóng được Nikita Khrushchev đặt biệt danh là Moskovskiy chastokol (“hàng rào Moskva”), bắt đầu năm 1953 và hoàn tất dần đến 1958. Tình báo Hoa Kỳ ước tính hạ tầng S-25 trong giai đoạn 1953–1955 đã tiêu thụ lượng bê tông tương đương sản lượng của cả một năm. Sản xuất loạt tên lửa V-300 bắt đầu vào năm 1954 tại Nhà máy Hàng không số 82 (Tushino); đến năm 1959 đã chế tạo khoảng 32.000 quả. Quy mô dự án lớn và gần Moskva khiến phương Tây nắm được từ sớm (1953); các kỹ thuật viên Đức được hồi hương sau khi Stalin qua đời cũng cung cấp nhiều thông tin. NATO đặt mật danh hệ thống là SA-1 “Guild”.[1]
Hệ thống trực chiến từ năm 1955.[5] Trong suốt vòng đời, S-25 trải qua nhiều đợt nâng cấp để cải thiện hiệu suất; hệ thống không bắn hạ được máy bay do thám Mỹ nào.[2] Dù đã cũ, đến 1986 Cơ quan Tình báo Quốc phòng Mỹ (DIA) vẫn ước tính lực lượng V-PVO có 2.200 bệ phóng hoạt động trên tổng 3.200. Hệ thống sau đó được thay thế bởi S-300 (NATO: SA-10 “Grumble”).[3]
Mô tả
[sửa | sửa mã nguồn]S-25 được phát triển dựa trên tên lửa Wasserfall của Đức. Giống thiết kế gốc, nó dùng động cơ nhiên liệu lỏng nạp bởi bơm tua-bin; khung thân có cánh ổn định và cánh mũi để điều khiển trong khi bay.[2] Hệ thống được thiết kế để bảo vệ khu vực Moskva trước 1.000 máy bay ném bom chiến lược.[1][6]
Radar B-200 (tình báo phương Tây đặt mật danh “Yo-Yo” vì cách bố trí bất thường) có thể bám bắt đồng thời tới 20 máy bay ném bom, đồng thời theo dõi và dẫn tên lửa, khiến hệ thống tiên tiến hơn nhiều so với Wasserfall.[1][6] Tên lửa V-300 được trang bị ngòi nổ cận đích để kích nổ đầu đạn ở giai đoạn cuối đánh chặn.[1][2]
Theo Hogg, V-300 có tầm bắn xiên 40 km (25 mi), còn Isby đưa các thông số: tầm bắn hiệu quả 32–40 km (20–25 mi), trần bắn 20 km (12 mi), và tốc độ tối đa Mach 2,5 (3.062,6 km/h).[2][3] Gruntman cho biết toàn hệ thống có thể đồng thời đánh 1.120 mục tiêu ở cự ly 35–45 km (22–28 mi) bay ở độ cao 3–25 km (1,9–15,5 mi).[5]
Theo Isby, các radar trong S-25 gồm:[3]
- B-200 (định danh NATO: "Yo-Yo") radar điều khiển hỏa lực, băng tần E, tầm hoạt động 150 km (93 mi).
- P-14 (định danh NATO: "Tall King") radar ảnh giới, băng tần A, tầm bắn 550 km (340 mi).
- A-100[1] (định danh NATO: "Gage") radar chỉ thị mục tiêu, băng tần E, tầm hoạt động 300 km (190 mi) range.
- Radar chỉ thị mục tiêu "Patty Cake" ,băng tần D/E tầm hoạt động 200 km (120 mi).
Cấu hình đầy đủ gồm hai vành đai quanh Moskva: vành trong 24 trận địa phóng, vành ngoài 32 trận địa.[5] Mỗi trận địa biên chế gồm 30 sĩ quan và 450 quân nhân, có 60 bệ phóng (xe bán rơ-moóc TEL), hai radar B-200 (một bao quát phương vị, một bao quát góc tà), hầm chỉ huy với máy tính điều khiển hỏa lực analog BESM và 20 bàn điều khiển dẫn bắn, khu hành chính/ăn ở/kỹ thuật và trạm biến áp.[1]
Zaloga ước tính có ~32.000 tên lửa V-300 được sản xuất trong giai đoạn 1954–1959; Isby nêu tổng cộng 3.200 bệ phóng được chế tạo.[1][3]
Quốc gia sử dụng
[sửa | sửa mã nguồn]
Nga − Hiện được sử dụn như mục tiêu bay cho các loại tên lửa phòng không khác.[7][8] Tên lửa mục tiêu Strizh (hệ thống S-25M) vẫn trong biên chế vào năm 2011. Đã bắn hơn 11.000 tên lửa.[9]
Từng sư dụng
[sửa | sửa mã nguồn]Ghi chú
[sửa | sửa mã nguồn]- ^ Theo Gruntman, SB-1 được tái tổ chức thành Cục Thiết kế số 1 (KB-1) vào năm 1950, trong khi Zaloga cho rằng cơ quan này được đổi tên thành Cục Thiết kế số 1 của Bộ Máy móc Nông nghiệp (Ministerstva selkokhozyaystvennogo mashinostroeniya, một tên bình phong ngay sau chiến tranh cho ngành công nghiệp quốc phòng Liên Xô, được sử dụng đến giữa thập niên 1950) sau khi Lavrentiy Beria mất quyền lực năm 1953.
Tham khảo
[sửa | sửa mã nguồn]- ^ a b c d e f g h i j k l m n Zaloga, Steven J. "Defending the Kremlin: The First Generation of Soviet Strategic Air Defense Systems 1950‐60". The New York Military Affairs Symposium. Truy cập ngày 2 tháng 5 năm 2025.
- ^ a b c d e Hogg 2000, tr. 212.
- ^ a b c d e f Isby 1988, tr. 365.
- ^ Gruntman, Mike (2015). Intercept 1961 : the birth of Soviet missile defense (ấn bản thứ 1). Reston, VA. ISBN 9781624103490.
{{Chú thích sách}}: Quản lý CS1: địa điểm thiếu nhà xuất bản (liên kết) - ^ a b c d e Gruntman 2016, tr. 885.
- ^ a b c d Gruntman 2016, tr. 884.
- ^ "Сверхзвуковые ракеты-мишени" [Aerial targets are the second life of anti-aircraft missiles]. www.buran.ru. Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 5 năm 2000.
- ^ "-25". Truy cập ngày 14 tháng 11 năm 2014.
- ^ "Воздушные мишени – вторая жизнь зенитных ракет". Bản gốc lưu trữ 25 tháng 10 2011. Truy cập 14 tháng 11 2014.
Tài liệu
[sửa | sửa mã nguồn]- Gruntman, Mike (tháng 4 năm 2016). "Intercept 1961: From Air Defense SA-1 to Missile Defense System A [Scanning our Past]". Proceedings of the IEEE. 104 (4): 883–890. doi:10.1109/JPROC.2016.2537023. ISSN 1558-2256.
- Hogg, Ian V. (2000). Twentieth-Century Artillery. London and New York, NY: Friedman/Fairfax Publishers in association with Amber Books. ISBN 978-1-58663-299-1.
- Isby, David C. (1988). Weapons and Tactics of the Soviet Army . London: Jane's Publishing Company Limited. ISBN 978-0-7106-0352-4.