Bước tới nội dung

BRDM-2

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
BRDM-2
BRDM-2 tại sự kiện War and Peace Show năm 2010.
LoạiXe thiết giáp trinh sát lội nước
Nơi chế tạoLiên Xô
Lược sử hoạt động
Phục vụ1962–nay
Sử dụng bởiXem Các nước vận hành
TrậnXem Lịch sử tham chiến
Lược sử chế tạo
Người thiết kếVsevolod Konstantinovich Rubtsov
Nhà sản xuấtGorkovsky Avtomobilny Zavod (GAZ) tại Nizhny Novgorod
Giai đoạn sản xuất1962–1989 (tại Liên Xô)
Số lượng chế tạoKhoảng 7.200 chiếc[1]
Các biến thểXem Các biến thể
Thông số
Khối lượng7 tấn (7,7 tấn Mỹ; 6,9 tấn Anh)[2]
Chiều dài5,75 m (18 ft 10 in)
Chiều rộng2,37 m (7 ft 9 in)[3]
Chiều cao2,31 m (7 ft 7 in)
Kíp chiến đấu4 (lái xe, chỉ huy, điện đài viên-quan sát viên, xạ thủ)

Phương tiện bọc thépThép hàn
10 mm (mặt trước tháp pháo)[4]
7 mm (mặt bên, mặt sau và nóc tháp pháo)[2]
14 mm (tấm giáp mũi thân xe)[2]
5 mm (mặt trước phía trên thân xe)[2]
7 mm (mặt trước phía dưới, mặt bên, mặt sau và nóc thân xe)[2]
2 mm (sàn trước thân xe)[2]
3 mm (sàn sau thân xe)[2]
Vũ khí
chính
Súng máy hạng nặng KPVT 14,5 mm (500 viên)[2]
Vũ khí
phụ
Súng máy đồng trục đa năng PKT 7,62×54mmR (2.000 viên)[2]
Động cơĐộng cơ xăng V-8 GAZ-41
140 mã lực (104 kW) tại 3.400 vòng/phút[1]
Công suất/trọng lượng18,2 mã lực/tấn (13,5 kW/tấn)
Hệ thống treoBánh lốp 4x4 (+ 4 bánh phụ hỗ trợ), nhíp lá với bộ giảm chấn thủy lực
Khoảng sáng gầm430 mm (17 in)[2]
Sức chứa nhiên liệu290 L (64 gal Anh; 77 gal Mỹ)[2]
Tầm hoạt động750 km (470 mi)
Tốc độĐường nhựa: 100 km/h (62 mph)
Dưới nước: 10 km/h (6,2 mph)[2]

BRDM-2 (Boyevaya Razvedyvatelnaya Dozornaya Mashina, tiếng Nga: Боевая Разведывательная Дозорная Машина, nghĩa là "Xe tuần tra/trinh sát bọc thép"[5]) là một lại xe trinh sát bọc thép lội nước của Liên Xô. Nó còn có tên định dang khác là BTR-40PB, BTR-40P-2GAZ 41-08. BRDM-2 được xuất khẩu rộng rãi cho nhiều quốc gia trên thế giới, ít nhất là 38 nước. Nó thay thế cho xe BRDM-1, BRDM-2 cải thiện khả năng lội nước và trang bị tốt hơn.

Lịch sử

[sửa | sửa mã nguồn]

Sau vài năm được Quân đội Liên Xô đưa vào sử dụng, những hạn chế và nhược điểm của BRDM-1 đã trở nên rõ ràng. Chiếc xe này không có tháp pháo, và để vận hành vũ khí, xạ thủ phải mở cửa nắp, khiến bản thân bị lộ diện trước hỏa lực của đối phương. Xe cũng không được trang bị hệ thống phòng chống NBC và mặc định không có các thiết bị nhìn đêm. Bên cạnh đó, phương tiện này còn thiếu các loại kính ngắm chuyên dụng, điều làm suy giảm đáng kể vai trò của nó với tư cách là một xe trinh sát. Những nhược điểm này đã thúc đẩy đội ngũ thiết kế chế tạo một loại phương tiện mới nhằm đáp ứng yêu cầu của chiến trường hiện đại.[1]

Cấu tạo

[sửa | sửa mã nguồn]
Các bánh bụng hỗ trợ xe vượt hào.
Các xe BRDM-2 của Ba Lan đang di chuyển với các tấm chắn bọc thép hạ xuống che kính chắn gió chống đạn.

BRDM-2 có kíp lái gồm 4 người: lái xe, phụ lái, chỉ huy và xạ thủ. Xe có hai cặp bánh bụng dẫn động bằng xích có thể hạ xuống bởi lái xe, cho phép xe vượt hào tương tự như phiên bản tiền nhiệm. Ngoài ra, xe còn trang bị hệ thống điều áp lốp trung tâm, dùng để điều chỉnh áp suất cho cả bốn lốp chính hoặc từng lốp riêng biệt ngay khi xe đang di chuyển để phù hợp với điều kiện địa hình.[1][2]

Về ngoại hình, nó khác với BRDM-1 ở phần thân xe lớn hơn và có dạng hình hộp. Xe vẫn giữ thiết kế mũi dạng thuyền của BRDM-1 cùng với khung gầm vốn được phát triển từ BTR-40 (dựa trên khung gầm xe GAZ-63 từ những năm 1940 và 1960). Tuy nhiên, khoang kíp lái hiện được đẩy ra phía trước và động cơ xăng V8 GAZ-41 mới (được phát triển từ động cơ của dòng xe limousine GAZ-13 Chaika)[6][7] được đặt ở phía sau. Nhờ thay đổi này, động cơ được bảo vệ tốt hơn nhiều trước hỏa lực đối phương. Khoang động cơ cũng được ngăn cách với khoang kíp lái bằng một vách ngăn bọc thép.

Vị trí của lái xe và chỉ huy nằm ở phía trước xe, lái xe ngồi bên trái và chỉ huy ngồi bên phải. Cả hai ngồi sau lớp kính chắn gió chống đạn, đây là tầm nhìn chính ra chiến trường. Khi tác chiến, kính chắn gió có thể được bảo vệ bổ sung bằng các tấm chắn thép kép. Khi mở ra, các tấm chắn này giúp lái xe và chỉ huy không bị chói mắt bởi ánh nắng và đảm bảo kính không bị mờ do mưa hoặc tuyết. Chỉ huy và lái xe có các kính tiềm vọng để quan sát chi tiết hơn địa hình xung quanh. Chỉ huy được trang bị 6 kính tiềm vọng TNP-A (5 cái phía trước và 1 cái bên hông), một kính ngắm ban ngày TPKU-2B và một kính ngắm ban đêm TKN-1 (thiết bị nhìn đêm). Lái xe có 4 kính tiềm vọng TNP-A (tất cả ở phía trước), một trong số đó có thể được thay thế bằng thiết bị nhìn đêm TWN-2B. Xạ thủ ngồi trong tháp pháo khi chiến đấu, nhưng khi hành quân sẽ ngồi bên trong thân xe.

Xe BRDM-2 của Ba Lan với tấm chắn mở, đèn pha hồng ngoại, kính tiềm vọng TNP-A bên hông và tấm chắn sóng ở phía trước.[1]

Động cơ của xe mạnh hơn so với BRDM đời đầu (V8 140 mã lực thay vì 6 xi-lanh 90 mã lực). BRDM-2 trang bị một đèn pha hồng ngoại (IR) và bốn đèn lái hồng ngoại, cùng hệ thống lọc NBC áp suất dương tập trung. Đèn pha IR được đặt ngay phía trên kính tiềm vọng của chỉ huy. Xe cũng có đài vô tuyến R-123 và một ăng-ten ở phía bên phải thân xe, cạnh nắp cửa của chỉ huy để liên lạc. Ngoài ra, xe còn lắp một tời gắn trong ở phía trước thân xe với cáp dài 30 m và sức kéo 4 tấn. Tời này được sử dụng để tự cứu hộ khi sa lầy vào địa hình khó khăn. Một lốp dự phòng có thể được gắn trên nóc tháp pháo, một cách làm phổ biến của các kíp lái Ba Lan.[1][2]

Giống như phiên bản trước, BRDM-2 có khả năng lội nước. Động cơ xăng V8 GAZ-41 cung cấp năng lượng cho bộ đẩy phản lực nước (water-jet) dạng vòng, trang bị cánh quạt bốn lá ở đuôi xe; bộ phận này được che bằng một nắp thép khi di chuyển trên cạn. Nắp này cùng với tấm chắn sóng (trim board) được mở đồng thời bằng hệ thống thủy lực trước khi xe xuống nước. Động cơ phản lực nước cho phép xe di chuyển dưới nước với tốc độ 10 km/h trong khoảng 17 đến 19 giờ. Tấm chắn sóng, vốn được xếp gọn dưới mũi xe khi hành quân, sẽ được dựng lên ở phía trước thân xe trước khi xuống nước để tăng độ ổn định, sức nổi và ngăn nước tràn vào mũi xe. Khi ở vị trí hành quân, nó đóng vai trò như một lớp giáp bổ sung.

Xe BRDM-2 của Ba Lan đang ngắm bắn bằng súng máy.

Trang bị vũ khí của xe tương tự như xe xe bọc thép chở quân BTR-60PB; bao gồm một súng máy hạng nặng KPVT 14.5 mm cùng một súng máy đa năng đồng trục PKT 7.62 mm đóng vai trò vũ khí phụ. Cả hai được đặt trong một tháp pháo hình nón nhỏ BPU-1, gắn ở vị trí trung tâm phía trên các bánh bụng.[1]

Súng máy hạng nặng KPVT 14.5 mm có tốc độ bắn thực tế là 150 phát/phút và tốc độ bắn lý thuyết là 600 phát/phút. Tầm bắn hiệu quả trong điều kiện ban ngày là 2.000 m. Súng có khả năng xuyên giáp dày 20 mm ở khoảng cách 1.000 m và 30 mm ở khoảng cách 500 m. Ngoài ra, nó cũng có thể bắn các mục tiêu trên không với tầm bắn chiến thuật là 1.400 m. Loại đạn sử dụng bao gồm các dòng 14.5 mm API-T, I-T, HE-T và MDZ.

Súng máy đồng trục PKT 7.62 mm có tầm bắn hiệu quả ban ngày là 1.000 m khi xe đứng yên và từ 400 m đến 500 m khi xe đang di chuyển. Súng thường bắn theo loạt từ 2 đến 10 viên, tốc độ bắn thực tế đạt 250 phát/phút và tốc độ bắn lý thuyết là 650 phát/phút. Khi tác chiến ban ngày, xạ thủ sử dụng kính ngắm PP-61AM với góc nhìn 23 độ và độ phóng đại x2.6.[1]

Tháp pháo BPU-1 khá đặc biệt vì nó không có cửa nắp ở phía trên. Trái với quan niệm phổ biến, tháp pháo BPU-1 ban đầu được thiết kế dành riêng cho BRDM-2, sau đó mới được áp dụng cho xe BTR-60PB của Liên Xô, SKOT-2A của Ba Lan và OT-64A của Tiệp Khắc. Tháp pháo cho phép điều chỉnh góc cao vũ khí trong khoảng từ −5 đến +30 độ. Ở phía bên trái tháp pháo có một cửa lấy khí nằm trên nóc thân xe. Ngoài ra, có hai cửa lấy khí dạng lá chớp ở phần trước của nóc khoang động cơ và bốn cửa nhỏ hơn ở phía sau. Cả hai bên hông xe đều được bố trí các khối kính quan sát ở vị trí trung tâm.

Giáp xe được cấu tạo từ thép hàn, đủ khả năng chống lại các loại vũ khí cá nhân và mảnh văng đạn pháo nhỏ; nhưng không đủ để bảo vệ trước các mảnh pháo lớn hoặc đạn súng máy cỡ .50 (12.7 mm), vốn có thể xuyên thủng lớp giáp tối đa 14 mm của BRDM-2. Lốp xe của BRDM-2 không được bọc thép và đặc biệt dễ bị tổn thương bởi hỏa lực các loại.[1][2]

Xe có ba lô sản xuất khác nhau với thiết kế khe tản nhiệt trên nắp động cơ khác biệt. Phiên bản sản xuất muộn có các lỗ thông hơi dạng nấm, tháp pháo được sửa đổi nhẹ và có thể nâng góc bắn lên đến +60 độ. Những chiếc BRDM-2 thuộc lô sản xuất cuối cùng được bổ sung thêm kính tiềm vọng trên tháp pháo và thiết bị dẫn đường TNA-2.[1][4]

Nhược điểm

[sửa | sửa mã nguồn]
Phiên bản diệt tăng của BRDM-2.

BRDM-2 tồn tại những nhược điểm thường thấy trên các dòng xe thiết giáp khác của Liên Xô, bao gồm thiết kế công thái học kém, mức độ bảo vệ kíp lái thấp và tiêu hao nhiên liệu cao. Vấn đề công thái học đã được khắc phục trong các phiên bản hiện đại hóa của Ba Lan như BRDM-2M-96 và các dòng kế tiếp (BRDM-2M-96i, "Szakal", "Żbik", "Szakal Plus"), bằng cách loại bỏ các bánh bụng để tạo thêm không gian cho kíp lái hoặc chở thêm hai binh sĩ. Giải pháp này cũng được áp dụng trên bản BRDM-2SMD của Morozov.[1]

BRDM-2 còn có một nhược điểm "chết người" mang tính đặc trưng: vì cách duy nhất để ra vào xe là thông qua các cửa nắp phía trước, việc thoát khỏi xe khi đang chiến đấu gần như là không thể. Kíp lái khi thoát ra sẽ ngay lập tức rơi vào tầm bắn của đối phương lẫn hỏa lực từ chính xe của mình, do cửa nắp nằm ngay trước tháp pháo. Nhược điểm này đã được giải quyết trong các bản hiện đại hóa của Ba Lan (dòng M-96 và M-97), Cộng hòa Séc (LOT-B và OKV-P) và Ukraine (BRDM-2SMD) bằng việc bổ sung các cửa hông. Các phiên bản M-97 "Żbik-B" và M-98 "Żbik-A" của Ba Lan còn có thêm cửa nắp trên nóc tháp pháo để kíp lái có thêm lối thoát.

Phiên bản tiền nhiệm BRDM-1 không gặp phải vấn đề này; mẫu BRDM-1 đời 1957 không có nóc, còn các mẫu sau đó có cửa nắp phía sau cho phép kíp lái thoát ra từ phía sau xe. Việc BRDM-2 thiếu cửa nắp như vậy là hệ quả của việc đặt động cơ ở phía sau, khác với thiết kế động cơ đặt trước của BRDM-1.[1]

BRDM-2 đôi khi bị nhầm lẫn với các dòng xe trinh sát lội nước D-442 FUGD-944 PSzH của Hungary, vốn cũng có động cơ đặt sau. Điểm phân biệt là các dòng xe của Hungary sử dụng bộ đẩy phản lực nước kép, trong khi BRDM-2 chỉ sử dụng một bộ đẩy đơn dạng hình tam giác.[1]

Các biến thể

[sửa | sửa mã nguồn]

Giống như BRDM đời đầu, BRDM-2 cũng tồn tại nhiều phiên bản khác nhau.

Thiết bị triển khai cọc cảnh báo trên xe BRDM-2RKh.
Xe BRDM-2UM tại Bảo tàng Yad La-Shiryon, Israel, 2005.
Xe diệt tăng 9P122 "Malyutka" với giá phóng được nâng lên, mang theo 6 tên lửa chống tăng có điều khiển 9M14M "Malyutka-M".
Xe 9P133 của Ba Lan tại Trung tâm Truyền thống Lực lượng Thiết giáp Ba Lan ở Żagań.
Xe 9P137 "Flejta" tại Bảo tàng Pháo binh Saint Petersburg.
Xe 9P148 "Konkurs" tại Bảo tàng Pháo binh Saint Petersburg.
Xe 9P31 Strela-1 tại Bảo tàng Pháo binh Saint Petersburg.
Xe tác chiến tâm lý ZS-82 (xe loa) tại Minsk trong cuộc biểu tình ở Belarus năm 2020.
  • BRDM-2 – Phiên bản trinh sát cơ bản, phân biệt bởi tháp pháo tương tự như loại gắn trên xe BTR-60PB. Tháp pháo hình nón trang bị hai súng máy (14.5 mm và 7.62 mm), điểm đặc biệt là không có cửa nắp ở phía trên. Phiên bản này có kíp lái 4 người: chỉ huy, xạ thủ, lái xe và phụ lái (kiêm xạ thủ). Xe cũng trang bị hệ thống dẫn đường trên cạn cung cấp tọa độ đọc được. Các lô sản xuất muộn có lỗ thông hơi dạng nấm trên nóc khoang động cơ. Phiên bản sản xuất cuối cùng có thêm hai kính tiềm vọng trên tháp pháo (một trên nóc, một bên trái) và thiết bị dẫn đường TNA-2. Nó còn được biết đến với các ký hiệu khác như BTR-40PB, BTR-40P-2GAZ 41-08.[8]
    • BRDM-2 phiên bản không trang bị súng máy hạng nặng KPVT 14.5 mm.[8]
    • BRDM-2RKh (khimicheskaya razvedivatel’naya mashina) – Xe trinh sát phóng xạ - hóa học với hai thiết bị rải KZO-2 hình chữ nhật để cắm cọc và cờ cảnh báo quanh khu vực bị nhiễm độc. Các thiết bị này nằm ở các góc sau của thân xe, thường được che bằng vải bạt và khi cần sẽ được dựng thẳng đứng ở đuôi xe. Các thiết bị chuyên dụng bao gồm máy dò khí tự động GSA-12, máy đo liều lượng phóng xạ DP-5V, máy đếm Geiger DP-3B, thiết bị tẩy độc DK-4K và các thiết bị phát hiện bán tự động PPKhR, VPKhR. Xe vẫn giữ nguyên vũ khí nguyên bản. Phiên bản này được sử dụng bởi trung đội phòng hóa cấp trung đoàn, đại đội phòng hóa cấp sư đoàn và tiểu đoàn trinh sát cấp sư đoàn. Các ký hiệu khác bao gồm BRDM-2RKhA, BTR-40P-2RKhBTR-40PB-RKh[4][8][8]
      • BRDM-2RKhb – Phiên bản cải tiến có thể trinh sát sinh học nhờ các thiết bị chuyên dụng bao gồm máy đếm Geiger DP-5B và máy dò sol khí sinh học ASP. BRDM-2RKhb không có các lỗ súng bộ binh. Phiên bản này trang bị hai súng máy đa năng PKT 7.62 mm thay cho súng máy hạng nặng KPVT 14.5 mm và súng máy đồng trục PKT 7.62 mm, thường chỉ mang theo một thiết bị rải KZO-2. Nó còn được ký hiệu là BRDM-2RKhB.
    • BRDM-2UM (mashina upravleniya) – Xe chỉ huy không có tháp pháo; xe mang theo máy phát điện 1 kW và các đài vô tuyến bổ sung (hai đài R-123 và một đài R-107, hoặc theo các nguồn khác là một đài R-105M, một đài R-108M và một đài R-130M). Hai bên thân xe phía trên có đế ăng-ten lớn. Ngược lại với các nhận định phổ biến ở phương Tây, đây thực tế là một biến thể rất hiếm, chủ yếu được chế tạo để xuất khẩu.
    • 9P122 "Malyutka" – Xe diệt tăng trang bị 6 tên lửa 9M14M "Malyutka-M" (NATO: AT-3B Sagger B) trên giá phóng có thể nâng hạ và có nắp che phía trên. Tổng cộng xe mang theo 14 tên lửa. Phiên bản này trang bị cho các đơn vị chống tăng cấp trung đoàn và sư đoàn của các sư đoàn bộ binh cơ giới, các trung đoàn chống tăng của quân đoàn hợp thành (CAA), và các trung đoàn hoặc lữ đoàn chống tăng thuộc sư đoàn pháo binh của một phương diện quân. Kíp lái gồm 2 người.
      • 9P133 "Malyutka" – Phiên bản cải tiến với kính ngắm 9S446 lớn hơn thay cho loại 9S414 nguyên bản. 9P133 có thể phóng các loại tên lửa uy lực hơn là 9M14P "Malyutka-P" (AT-3C Sagger C) và 9M14P1, xe mang theo từ 16 đến 18 quả. Nó sử dụng hệ thống điều khiển bán tự động (SACLOS). Xe cũng có thêm kính chắn gió phía trước giữa vị trí của lái xe và bệ gắn kính ngắm.
    • 9P124 – Xe mang tên lửa chống tăng với 4 tên lửa 9M17M "Skorpion-M" (AT-2B Swatter B) điều khiển bằng vô tuyến trên giá phóng có thể nâng hạ. Trong thân xe mang thêm 4 tên lửa dự phòng. Nó sử dụng hệ thống điều khiển thủ công (MCLOS). 9P124 có kíp lái 2 người. Nó còn được biết đến với ký hiệu BRDM-3.[4][8]
      • 9P137 "Flejta" – Phiên bản cải tiến sử dụng hệ thống 9K8 "Flejta", cho phép sử dụng tên lửa 9M19P điều khiển bán tự động (SACLOS) thay vì thủ công. Giá phóng có 5 ray thay vì 4.
    • 9P148 "Konkurs" – Xe diệt tăng trang bị 5 tên lửa điều khiển qua dây dẫn 9M113 "Konkurs" (AT-5 Spandrel). Bệ phóng tên lửa AT-5 cũng có thể bắn được tên lửa 9M111 "Fagot" (AT-4 Spigot). Phiên bản 9P148 sản xuất đời đầu chỉ có thể bắn đạn 9M113 "Konkurs". Kíp lái nạp đạn cho bệ phóng thông qua một cửa nắp nhỏ nằm ngay phía sau bệ. Xạ thủ điều khiển tên lửa qua kính ngắm gắn ở phía trước bên phải xe. 9P148 có thể mang tổng cộng 10 quả 9M111 và 10 quả 9M113 hoặc 14 quả 9M113. Từ năm 1996, một số xe 9P148 của Nga được lắp kính ngắm nhiệt ngày/đêm 1PN66 cải tiến. Tại phương Tây, nó từng bị ký hiệu sai là BRDM-3.[8]
      • 9P148 "Konkurs" với đế ăng-ten dạng roi gắn ở lỗ súng hông (pistol port) bên phải. Đây là mẫu sản xuất tiêu chuẩn.
    • 9P31 – Xe phóng cho tên lửa đất đối không 9M31, thuộc hệ thống tên lửa phòng không tầm thấp tự hành 9K31 Strela-1 (NATO: SA-9 "Gaskin"). Hệ thống phóng SAM với 4 ống phóng thay thế cho tháp pháo súng máy trên nóc xe, có khả năng quay 360 độ và nâng hạ trong phạm vi giới hạn. Hệ thống được hạ xuống khi hành quân. Xe không có các bánh bụng. Xe mang theo tổng cộng 8 tên lửa. Kíp lái giảm xuống còn 3 người (chỉ huy, lái xe và xạ thủ).
      • 9P31 với các giá nạp đạn dự phòng nằm ở phía trên hai bên thân xe.[8]
      • 9P31 trang bị hệ thống dò radar thụ động 9S12 (FLAT BOX A) với ba cảm biến lắp quanh xe (một cạnh bệ phóng, một ở trung tâm nóc động cơ và một giữa các kính chắn gió), mang lại khả năng bao quát 360 độ. Hệ thống này không phát ra năng lượng radar nhưng có thể phát hiện sóng vô tuyến từ máy bay, giúp cảnh báo về máy bay đang tới và hỗ trợ bắt mục tiêu bằng hệ thống quang học. Chiến thuật điển hình là phóng hai tên lửa vào mỗi mục tiêu để tăng khả năng tiêu diệt.[1][8]
    • ZS-82 (zvukoveshchatel'naya stantsiya) – Xe tác chiến tâm lý với dàn loa lớn đặt trên tháp pháo không trang bị vũ khí.[8]
    • TM-1 – Xe thiết giáp trinh sát BRDM-2 được hoán cải thành xe cứu hỏa và cứu nạn. Xe có thiết bị cảnh báo bằng hình ảnh trên nóc tháp pháo không vũ khí.[8]
    • ATM-1 "Ingul" – Xe vận tải cứu hộ dân sự không có tháp pháo.

Afghanistan

[sửa | sửa mã nguồn]
  • BRDM-2 được cải tiến thành xe hỏa lực bổ trợ tự chế với một cụm ống phóng rocket 57 mm và giá treo lấy từ máy bay hoặc trực thăng, gắn ngược trên nóc tháp pháo. Đây là sản phẩm tự chế của Alexander Metla vào năm 1987.[8]

Azerbaijan

[sửa | sửa mã nguồn]
  • Bộ Quốc phòng Azerbaijan đã dẫn đầu nỗ lực phát triển một biến thể nội địa của BRDM-2 với tên gọi ZKDM. Bố cục của xe đã được thay đổi hoàn toàn so với mẫu BRDM-2 cũ: các cửa sổ nhỏ bị loại bỏ và phần trước thân xe được lắp lớp giáp mới. Lái xe ngồi phía trước bên trái, chỉ huy ngồi bên phải. Nóc xe có hai cửa sập ngay phía sau vị trí của chỉ huy và lái xe. Mỗi bên thân xe có một cửa ra vào duy nhất, có được nhờ việc loại bỏ các bánh bụng ở hai bên. Động cơ phản lực nước đơn ở đuôi xe cũng bị lược bỏ. Động cơ xăng nguyên bản được thay thế bằng động cơ diesel D-245.30E2 mới công suất 150 hp, giúp tăng tốc độ tối đa trên đường nhựa lên 100 km/h. ZKDM sử dụng công nghệ thân xe dạng chữ V (V-hull) để tăng khả năng sống sót cho xe và kíp lái bằng cách làm chệch hướng luồng nổ hướng lên từ mìn hoặc thiết bị nổ tự chế (IED). Thân xe ZKDM cung cấp mức độ bảo vệ chống lại đạn xuyên cháy B-32 lõi thép cứng. ZKDM có tổng trọng lượng 7.300 kg với kíp lái 3 người (chỉ huy, lái xe và xạ thủ). Xe trang bị tháp pháo mới điều khiển từ xa, vũ khí bao gồm một pháo hai nòng GSh-23 cỡ 23 mm, một súng máy PKT 7.62 mm, một súng phóng lựu AGS-17 cỡ 30 mm, bốn ống phóng rocket cỡ 57 mm hoặc 80 mm và hai ống phóng lựu đạn khói mỗi bên. Xạ thủ điều khiển tháp pháo từ xa thông qua hệ thống điều khiển hỏa lực. Vũ khí có góc nâng +15º, góc hạ −30º và tháp pháo có thể quay đủ 360º. Các trang bị tiêu chuẩn của ZKDM bao gồm kính ngắm ngày/đêm BPK-2-42, hệ thống quan sát TV với tầm xa tối đa 1.000 m và hệ thống định vị vệ tinh GPS/GLONASS.[9]
  • Alesiya – Phiên bản BRDM-2 sửa đổi dùng cho mục đích dân sự như một xe tải bọc thép lội nước.[8]
  • BRDM-2MB1 – Phiên bản nâng cấp với động cơ diesel D245.30E2 công suất 155 hp, cho tầm hoạt động 900 km. Việc hoán cải được thực hiện bởi Nhà máy sửa chữa số 140 tại Borisov.[10]
  • Cayman (Kaiman) – Bản nâng cấp sâu của BRDM-2, loại bỏ tháp pháo và bắt đầu phục vụ từ năm 2017.[11] Xe đã được xuất khẩu sang Bờ Biển Ngà và Angola.[12] Cayman sử dụng động cơ diesel D-245.30E2, vận tốc tối đa trên đường nhựa 110 km/h, tốc độ bơi 8 km/h và tầm hoạt động 1.000 km. Xe có thể trang bị súng máy trung liên Kalashnikov 7.62 mm, súng máy hạng nặng NSVT Utyos 12.7 mm, súng phóng lựu tự động AGS-17 cỡ 30 mm, trạm vũ khí điều khiển từ xa Adunok hoặc các thiết bị thông tin liên lạc. Phía Belarus tuyên bố chiếc xe này được chế tạo hoàn toàn mới từ đầu. Trọng lượng chiến đấu của xe là 8,5 tấn.[13]

Bosnia và Herzegovina

[sửa | sửa mã nguồn]
  • BRDM-2 phiên bản xe diệt tăng được hoán cải thành xe bọc thép chở quân (APC).[8]

Các quốc gia vận hành

[sửa | sửa mã nguồn]
Bản đồ các quốc gia vận hành BRDM-2
  Hiện tại
  Trước đây

Các quốc gia hiện đang vận hành

[sửa | sửa mã nguồn]
  •  Algeria: 60 chiếc BRDM-2 và 64 xe 9P122 "Malyutka".[14]
  •  Angola: 600 chiếc[15]
  • Xe thiết giáp BRDM-2 của Armenia trong lễ duyệt binh tại Yerevan, 2016.
     Armenia: 120 chiếc [16]:171
  •  Azerbaijan: 29 chiếc[cần dẫn nguồn]
  •  Belarus: Biến thể Caiman đang phục vụ.[16]:175–176
  •  Benin: 14 chiếc[17]
  •  Bosnia và Herzegovina: 8 xe 9P122 Malyutka và 9 xe 9P133 Malyutka.[16]
  •  Burundi: 30 chiếc[18]
  •  Campuchia: 200 chiếc
  •  Cameroon: 31 chiếc
  •  Cape Verde: 10 chiếc[19]
  •  Cộng hòa Trung Phi: Hơn 20 chiếc được Nga bàn giao vào tháng 10–11 năm 2020.[20][21][22]
  •  Chad: ~100 chiếc[23]
  •  Cộng hòa Congo[24]
  •  Cuba: 100 chiếc BRDM-2 được lực lượng đặc nhiệm sử dụng và 50 chiếc được hiện đại hóa với súng cối 120 mm
  •  Djibouti: 2 chiếc[25]
  •  Ai Cập: 300 chiếc[26] bao gồm BRDM-2, BRDM-2UM và 100 chiếc được Ba Lan hiện đại hóa lên chuẩn BRDM-2M96i.
  •  Guinea Xích đạo: 6 chiếc[27]
  •  Eritrea[28]
  •  Ethiopia[29]
  •  Georgia: 17 chiếc[30]
  •  Guinea: 4 chiếc được Ukraine bàn giao năm 1998.[12][31]
    Một chiếc BRDM-2 của Bulgaria rời khỏi tàu USNS Red Cloud (T-AKR 313) tại Vịnh Souda, Hy Lạp, trên đường trở về Bulgaria sau khi hoàn thành nhiệm vụ tại Iraq. 26 tháng 5, 2005.
  •  Guinea-Bissau: 10 chiếc[32]
  •  Iraq: Quân đội Iraq sử dụng một số lượng BRDM-2 trang bị súng máy hạng nặng phòng không ZPU-2 nòng kép cỡ 14.5 mm (Xem phần về Iraq để biết thêm chi tiết).[8] Ukraine đã bàn giao 13 xe thiết giáp trinh sát BRDM-2 cho Quân đội Iraq vào năm 2006.[31] Quân đội chính quy Iraq từng vận hành 1.300 xe thiết giáp trinh sát thuộc dòng BRDM-1 và BRDM-2 cùng các biến thể dựa trên chúng.
  •  Bờ Biển Ngà: 13 chiếc được Belarus bàn giao từ năm 2002 đến 2003.[31]
  •  Kyrgyzstan: 9 xe BRDM-2MS hiện đại hóa do Nga viện trợ vào tháng 4 năm 2019.[34]
  •  Lào: Ít nhất 10 xe BRDM-2MS hiện đại hóa được Nga cung cấp từ cuối năm 2018 đến tháng 1 năm 2020.[35][36]
  •  Lesotho: 2 chiếc[17]
  •  Libya: 350 chiếc;[1] được một công ty Cộng hòa Séc tân trang lại vào năm 2013.[37][38]
  •  Madagascar: ~35 chiếc[39]
  •  Maldives
  •  Mali: Hơn 20 chiếc[40][41] – ban đầu được Liên Xô và Bulgaria bàn giao 64 chiếc nhưng nhiều chiếc đã bị phá hủy trong chiến đấu
  •  Moldova: 27 chiếc
  •  Mongolia: 120 chiếc bao gồm BRDM-2 và BRDM-2Rkh[43]
  •  Myanmar: 33 xe BRDM-2MS nhận vào đầu năm 2020.[44] Các xe bổ sung được bàn giao vào đầu năm 2022.[45]
  •  Namibia: Tổng cộng 12 chiếc đang phục vụ trong Lực lượng Phòng vệ Namibia, đa số được thừa hưởng trực tiếp từ PLAN hoặc là các mẫu xe chiếm được từ chính quyền Tây Nam Phi trước đây.[46]
  •  Bắc Triều Tiên
  •  Palestine: 45 chiếc BRDM-2 được Nga bàn giao cho Cảnh sát Chính quyền Palestine năm 1995,[47] sau đó bị Hamas thu giữ sau Trận Gaza vào tháng 6 năm 2007.
  • Các Đơn vị Bảo vệ Nhân dân (YPG)[48]
  •  Peru: 20 chiếc thuộc phiên bản sản xuất muộn và 12 xe phóng tên lửa 9P133 ATGM.
  •  Ba Lan: 265 chiếc BRDM-2; 87 chiếc BRDM-2 R5 đang phục vụ tính đến năm 2024.[49] Khoảng 110 chiếc được hiện đại hóa lên chuẩn BRDM-2M-96 và BRDM-2M-96i, 37 chiếc lên chuẩn BRDM-2M-97 "Żbik-B" và 1 chiếc lên chuẩn BRDM-2M-98 "Żbik-A", 54 chiếc lên chuẩn BRDM-2M-96ik "Szakal", 27 xe diệt tăng 9P133 "Malyutka" và 18 xe 9P148 "Konkurs", cùng hàng chục xe chỉ huy và xe trinh sát NBC tính đến năm 2011.[1][50][51]
  • Một chiếc BRDM-2 của Nga được hoán cải thành phương tiện vận tải lội nước dân sự.
     Nga: Hơn 1.000 chiếc tính đến năm 2011.[52] Khoảng 2.080 chiếc tính đến năm 2013.[53]
  •  Serbia: 30 xe BRDM-2MS, 46 xe BRDM-2[54]>[55][56]
  •  Somalia
  •  Sudan: 60 chiếc được Belarus bàn giao từ năm 2003 đến 2004 (39 chiếc năm 2003 và 21 chiếc năm 2004).[31]
  •  Syria: 950 chiếc
  •  Tajikistan: Khoảng 22 xe BRDM-2MS hiện đại hóa (do Nga viện trợ năm 2019 và 2021)[57][58][59]
  •  Tanzania: 40 chiếc bàn giao trong năm 1978–1979,[12] khoảng 10 chiếc còn hoạt động vào năm 2019[60]
  •  Turkmenistan: 30 chiếc[61]
  •  Ukraine[62]
  •  Việt Nam: 200 chiếc
  •  Yemen[63]
  •  Zambia
  •  Zimbabwe

Tham khảo

[sửa | sửa mã nguồn]
  1. 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 "Samochód opancerzony BRDM-2", Militarium.net (bằng tiếng Ba Lan), Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 9 năm 2011, truy cập ngày 21 tháng 9 năm 2011
  2. 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 Kennedy, Gary L. (ngày 6 tháng 4 năm 2009). "BRDM-2 Armored Scout Car". Gary's Combat Vehicle Reference Guide. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 2 năm 2008. Truy cập ngày 21 tháng 9 năm 2011.
  3. Notes on the Soviet Ground Forces, quyển 70735, Ministry of Defence, OCLC 506052583
  4. 1 2 3 4 "BRDM-2 Armored Reconnaissance Vehicle". Federation of American Scientists. Bản gốc lưu trữ ngày 26 tháng 2 năm 2008. Truy cập ngày 21 tháng 9 năm 2011.
  5. "Soderzhaniye" [Mục lục] (PDF). Military Parade (bằng tiếng Nga). Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 11 tháng 5 năm 2005. Truy cập ngày 20 tháng 4 năm 2026.
  6. "Обзор бронемашины БРДМ-2 / ГАЗ-41 / "Барадак"". Truy cập ngày 5 tháng 12 năm 2024.
  7. "Советские V8. ГАЗовские ЗМЗ -13, -53, -14, -505, -500 серий". Drive2. Truy cập ngày 9 tháng 6 năm 2024.
  8. 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 "BRDM-2 Series". JED The Military Equipment Directory. Truy cập ngày 21 tháng 9 năm 2011.
  9. ""Ronaldo" – Bản hiện đại hóa BRDM-2 của Azerbaijan". Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 12 năm 2015. Truy cập ngày 6 tháng 12 năm 2015.
  10. "BRDM-2MB1 – Hiện đại hóa BRDM-2 – OJSC "Nhà máy sửa chữa số 140"". 140 Repair Plant (bằng tiếng Nga). Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 1 năm 2010. Truy cập ngày 21 tháng 9 năm 2011.
  11. "Công nghiệp quốc phòng Belarus ra mắt xe bọc thiết giáp Caiman 4x4 dựa trên BRDM-2 của Liên Xô". Army Recognition. ngày 23 tháng 7 năm 2015. Truy cập ngày 20 tháng 4 năm 2026.
  12. 1 2 3 "Trade Registers". Stockholm International Peace Research Institute. Truy cập ngày 21 tháng 5 năm 2023.
  13. "Xe bọc thép "Cayman" bàn giao cho lực lượng đổ bộ đường không Vitebsk — Cổng thông tin quân sự Bộ Quốc phòng Cộng hòa Belarus". Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 2 năm 2019. Truy cập ngày 19 tháng 2 năm 2019.
  14. "Algerian Army Land Forces Equipment". Army Recognition. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 5 năm 2009. Truy cập ngày 20 tháng 4 năm 2026.
  15. The Military Balance 2021, tr. 448.
  16. 1 2 3 International Institute for Strategic Studies (ngày 15 tháng 2 năm 2023). The Military Balance 2023 (ấn bản thứ 1). Routledge. ISBN 978-1032508955.
  17. 1 2 International Institute for Strategic Studies (ngày 15 tháng 2 năm 2022). The Military Balance 2022 (ấn bản thứ 1). London: Routledge. ISBN 978-1032279008.
  18. The Military Balance 2021, tr. 453.
  19. The Military Balance 2021, tr. 455.
  20. "Russia to deliver BRDM-2 4x4 armored vehicles to Central African Republic".
  21. "ЦАМТО / Новости / Россия направила в ЦАР новую партию БРДМ-2". armstrade.org.
  22. "ЦАМТО / Новости / В Минобороны рассказали o поставках БРДМ-2 в ЦАР". armstrade.org.
  23. The Military Balance 2021, tr. 457.
  24. The Military Balance 2021, tr. 458.
  25. The Military Balance 2021, tr. 462.
  26. "Egyptian Army Land Forces Equipment". Army Recognition. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 5 năm 2009. Truy cập ngày 20 tháng 4 năm 2026.
  27. The Military Balance 2021, tr. 463.
  28. The Military Balance 2021, tr. 464.
  29. The Military Balance 2021, tr. 465.
  30. "Armament of the Georgian Army". Geo-army.ge. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 3 năm 2012. Truy cập ngày 27 tháng 2 năm 2012.
  31. 1 2 3 4 "BRDM-2". Deagel.com. ngày 10 tháng 3 năm 2011. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 4 năm 2008. Truy cập ngày 21 tháng 9 năm 2011.
  32. The Military Balance 2021, tr. 471.
  33. Alan Kirkuki (ngày 16 tháng 2 năm 2013). "Peshmerga Kurdistan (KRG) army BRDM-2 – 8.2012". youtube.com. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 4 năm 2015.
  34. Fediushko, Dmitry (ngày 30 tháng 4 năm 2019). "Russia donates Mi-8MT helos, BRDM-2M vehicles to Kyrgyzstan". Jane's 360. Moscow. Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 4 năm 2019. Truy cập ngày 30 tháng 4 năm 2019.
  35. Gibson, Neil; Fediushko, Dmitry (ngày 22 tháng 1 năm 2019). "Laotian military parades Russian- and Chinese-made equipment". Jane's 360. London, Moscow. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 1 năm 2019. Truy cập ngày 24 tháng 1 năm 2019.
  36. "Janes | Latest defence and security news".
  37. "$52m Czech Deal with Libyan Military". ngày 13 tháng 6 năm 2013. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 10 năm 2014. Truy cập ngày 4 tháng 11 năm 2014.
  38. "Czech firms arrange deal to sell armoured vehicles to Libya". Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 2 năm 2014.
  39. The Military Balance 2021, tr. 473.
  40. "Malian Army Land Ground Armed Forces". Army Recognition. Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 1 năm 2013. Truy cập ngày 11 tháng 2 năm 2013.
  41. "ЦАМТО / / ВС Мали приняли на вооружение крупную партию новой бронетехники". armstrade.org.
  42. Tiraspol Hostel (ngày 13 tháng 4 năm 2014). "Transnistria Army Tanks in center of Tiraspol!" (bằng tiếng Ý). Tiraspol Hostel. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 5 năm 2018. Truy cập ngày 7 tháng 8 năm 2017.
  43. "Armies of the World: Armed Forces of Foreign States for 2001: M". Soldiering.ru (bằng tiếng Nga). Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 5 năm 2013. Truy cập ngày 19 tháng 12 năm 2012.
  44. "Мьянма получила модернизированные БРДМ-2МС". ngày 8 tháng 2 năm 2020.
  45. "Arms being sent to Myanmar from Russia". Myanmar Witness (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 1 tháng 2 năm 2022.
  46. "Namibia - Security Information". Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 8 năm 2009. Truy cập ngày 9 tháng 10 năm 2009.
  47. Micheletti, Eric; Palmade, Jérôme (2000). "L'Autorité Palestinienne et la nouvelle Intifada" [The Palestinian Authority and the New Intifada]. Israel-Palestine – L'Appel aux Armes [Israel-Palestine – The Call to Arms] (bằng tiếng Pháp). Số RAIDS Special Issue No. 2. Paris: Histoire & Collections. tr. 54–56.
  48. Mitzer, Stijn; Oliemans, Joost (ngày 29 tháng 10 năm 2021). "Kurdish Armour: Inventorising YPG Equipment In Northern Syria". Oryx Blog.
  49. International Institute for Strategic Studies: The Military Balance 2024
  50. Lỗi chú thích: Thẻ <ref> không hợp lệ; không có nội dung trong ref có tên Militarium.net 2
  51. Lỗi chú thích: Thẻ <ref> không hợp lệ; không có nội dung trong ref có tên Altair
  52. "Russian Army Equipment". GlobalSecurity.org. Bản gốc lưu trữ ngày 26 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 21 tháng 9 năm 2011.
  53. "BRDM-2". Russian Military Analysis. Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 9 năm 2013. Truy cập ngày 26 tháng 9 năm 2013.
  54. "Serbian MoD inducts BRDM-2MS reconnaissance vehicles donated by Russia". Army Recognition. ngày 5 tháng 9 năm 2019. Truy cập ngày 20 tháng 4 năm 2026.
  55. "Serbia presents BRDM-2Ms gifted by Russia | Jane's 360".
  56. "ЦАМТО / / Минобороны России передало военную технику российского производства вооруженным силам Сербии". armstrade.org.
  57. "Russia supplies military technical assets to Tajikistan of more than 320 million rubles". Ministry of Defence of the Russian Federation. ngày 29 tháng 10 năm 2019. Truy cập ngày 20 tháng 4 năm 2026.
  58. "Russia donates USD5 million worth of defence hardware to Tajikistan". Jane's Defence Weekly. ngày 30 tháng 10 năm 2019. Truy cập ngày 20 tháng 4 năm 2026.
  59. "ЦАМТО / / Минобороны РФ передало вооруженным силам Таджикистана боевые разведывательные машины". armstrade.org.
  60. International Institute for Strategic Studies (2019). "Chapter Nine: Sub-Saharan Africa". The Military Balance. Quyển 119. tr. 438–502. doi:10.1080/04597222.2019.1561035. S2CID 219623900.
  61. "Turkmenistan - Army Equipment". GlobalSecurity.org. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 4 năm 2015. Truy cập ngày 21 tháng 9 năm 2011.
  62. Lỗi chú thích: Thẻ <ref> không hợp lệ; không có nội dung trong ref có tên ukrainian losses
  63. Cooper, Tom (2018). Hot Skies Over Yemen, Volume 2: Aerial Warfare Over the South Arabian Peninsula, 1994-2017. Warwick, UK: Helion & Company Publishing. tr. 25. ISBN 978-1-911628-18-7.
  • Gau L-R., Plate J., Siegert J. (2001) Deutsche Militärfahrzeuge – Bundeswehr und NVA. Motorbuch Verlag. ISBN 3-613-02152-8

Liên kết ngoài

[sửa | sửa mã nguồn]