Bước tới nội dung

2S1 Gvozdika

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
2S1 Gvozdika
2S1
2S1 tại bảo tàng pháo binh Saint-Petersburg
LoạiPháo tự hành
Nơi chế tạo Liên Xô
Lược sử hoạt động
Sử dụng bởi Liên Xô
 Việt Nam
Lược sử chế tạo
Người thiết kếNhà máy máy kéo Kharkiv
Năm thiết kế1956–1961
Giai đoạn sản xuất1971–1991
Số lượng chế tạo10,000+
Thông số
Khối lượng16 tấn
Chiều dài7,62 m
Chiều rộng2,85m
Chiều cao2,73 m
Kíp chiến đấu4

Phương tiện bọc thép7–20 mm (0,28–0,79 in)
Vũ khí
chính
Pháo 2A18 122 mm (4,8 in) howitzer
Động cơYaMZ-238N diesel
220 kW (300 hp)
Hệ thống treoThanh xoắn
Tầm hoạt động500 km (310 mi)
Tốc độĐường nhựa: 60 km/h (37 mph)
Đường đất: 30 km/h (19 mph)
Bơi: 4,5 km/h (2,8 mph)

2S1 Gvozdika (tiếng Nga: 2С1 "« Гвоздика "," Hoa cẩm chướng '), cũng được gọi là SU-122 trong biên chế của Việt Nam, là một loại lựu pháo tự hành của Liên Xô dựa trên cơ sở xe tăng hạng nhẹ PT-76 nhưng thay vào đó là pháo 2A18 122mm, thật ra khung gầm của 2S1 lại là xe bọc thép chở quân MT-LB, chỉ có kết cấu thiết kế của 2S1 dựa trên xe tăng PT-76 mà thôi. Nó được Cục Tên lửa và Pháo binh thuộc Bộ quốc phòng Liên Xô (GRAU) đặt tên là 2S1 Gvozdika.[1]

Sản xuất

[sửa | sửa mã nguồn]

Phiên bản 2S1 đầu tiên ra đời năm 1969. Nó trang bị tại Liên Xô năm 1970 và nước đầu tiên ngoài Liên Xô sử dụng 2S1 là Ba Lan, nó được đưa vào sử dụng trong quân đội Ba lan vào năm 1974. Quân đội Mỹ và NATO gọi nó là pháo M1974. Các mẫu pháo M1974 vẫn được các nước Bungari, Ba LanNga sản xuất.[2]

Lịch sử và tính năng

[sửa | sửa mã nguồn]

Nguyên mẫu của nó được hoàn thành năm 1969 và được trang bị cho Quân đội Liên Xô vào năm 1970. 2S1 được các nước trong khối xã hội chủ nghĩa tiếp nhận vào năm 1974.Do có khung gầm dựa trên loại xe bọc thép lội nước MT-LB nên 2S1 cũng có thể lội nước với tốc độ chậm 4,5 km/h.

Với pháo 122mm nó có nhiệm vụ tiêu diệt và chế áp lực lượng cơ động, các hỏa điểm của bộ binh, phá hủy các loại công sự dã chiến, vượt qua các bãi mìn, các chướng ngại vật (hàng rào thép gai), đấu lại các loại pháo, súng cối và phương tiện bọc thép của đối phương.[1]

Các quốc gia sử dụng

[sửa | sửa mã nguồn]
2S1

Các quốc gia còn sử dụng

[sửa | sửa mã nguồn]

Các nước từng sử dụng

[sửa | sửa mã nguồn]

Các cuộc xung đột

[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích

[sửa | sửa mã nguồn]
  1. ^ a b "Bản sao đã lưu trữ". Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 24 tháng 6 năm 2012.
  2. ^ a b http://giaoduc.net.vn/Giao-duc-Quoc-phong/Xem-bich-kich-phao-122-mm-2S1-Gvozdika-cua-Nga-na-dan-that-P1/133310.gd
  3. ^ IISS 2024, tr. 343.
  4. ^ IISS 2024, tr. 471.
  5. ^ IISS 2024, tr. 178.
  6. ^ IISS 2024, tr. 180.
  7. ^ Cordesman, Anthony H. (ngày 7 tháng 2 năm 2003). Iraqi Armed Forces on the Edge of War (PDF) (Báo cáo). Center for Strategic and International Studies. tr. 6. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 9 tháng 2 năm 2010. Truy cập ngày 16 tháng 7 năm 2015.
  8. ^ International Institute for Strategic Studies (tháng 2 năm 2016). The Military Balance 2016. Quyển 116. Routledge. tr. 491. ISBN 9781857438352.
  9. ^ "Bản sao đã lưu trữ". Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 24 tháng 6 năm 2012.