2S1 Gvozdika
| 2S1 Gvozdika | |
|---|---|
2S1 tại bảo tàng pháo binh Saint-Petersburg | |
| Loại | Pháo tự hành |
| Nơi chế tạo | |
| Lược sử hoạt động | |
| Sử dụng bởi | |
| Lược sử chế tạo | |
| Người thiết kế | Nhà máy máy kéo Kharkiv |
| Năm thiết kế | 1956–1961 |
| Giai đoạn sản xuất | 1971–1991 |
| Số lượng chế tạo | 10,000+ |
| Thông số | |
| Khối lượng | 16 tấn |
| Chiều dài | 7,62 m |
| Chiều rộng | 2,85m |
| Chiều cao | 2,73 m |
| Kíp chiến đấu | 4 |
| Phương tiện bọc thép | 7–20 mm (0,28–0,79 in) |
Vũ khí chính | Pháo 2A18 122 mm (4,8 in) howitzer |
| Động cơ | YaMZ-238N diesel 220 kW (300 hp) |
| Hệ thống treo | Thanh xoắn |
| Tầm hoạt động | 500 km (310 mi) |
| Tốc độ | Đường nhựa: 60 km/h (37 mph) Đường đất: 30 km/h (19 mph) Bơi: 4,5 km/h (2,8 mph) |
2S1 Gvozdika (tiếng Nga: 2С1 "« Гвоздика "," Hoa cẩm chướng '), cũng được gọi là SU-122 trong biên chế của Việt Nam, là một loại lựu pháo tự hành của Liên Xô dựa trên cơ sở xe tăng hạng nhẹ PT-76 nhưng thay vào đó là pháo 2A18 122mm, thật ra khung gầm của 2S1 lại là xe bọc thép chở quân MT-LB, chỉ có kết cấu thiết kế của 2S1 dựa trên xe tăng PT-76 mà thôi. Nó được Cục Tên lửa và Pháo binh thuộc Bộ quốc phòng Liên Xô (GRAU) đặt tên là 2S1 Gvozdika.[1]
Sản xuất
[sửa | sửa mã nguồn]Phiên bản 2S1 đầu tiên ra đời năm 1969. Nó trang bị tại Liên Xô năm 1970 và nước đầu tiên ngoài Liên Xô sử dụng 2S1 là Ba Lan, nó được đưa vào sử dụng trong quân đội Ba lan vào năm 1974. Quân đội Mỹ và NATO gọi nó là pháo M1974. Các mẫu pháo M1974 vẫn được các nước Bungari, Ba Lan và Nga sản xuất.[2]
Lịch sử và tính năng
[sửa | sửa mã nguồn]Nguyên mẫu của nó được hoàn thành năm 1969 và được trang bị cho Quân đội Liên Xô vào năm 1970. 2S1 được các nước trong khối xã hội chủ nghĩa tiếp nhận vào năm 1974.Do có khung gầm dựa trên loại xe bọc thép lội nước MT-LB nên 2S1 cũng có thể lội nước với tốc độ chậm 4,5 km/h.
Với pháo 122mm nó có nhiệm vụ tiêu diệt và chế áp lực lượng cơ động, các hỏa điểm của bộ binh, phá hủy các loại công sự dã chiến, vượt qua các bãi mìn, các chướng ngại vật (hàng rào thép gai), đấu lại các loại pháo, súng cối và phương tiện bọc thép của đối phương.[1]
Các quốc gia sử dụng
[sửa | sửa mã nguồn]
Các quốc gia còn sử dụng
[sửa | sửa mã nguồn]
Algeria – 140 tính đến 2024 [3]
Angola− 9+ tính đến 2024[4]
Armenia– 9 tính đến 2024[5]
Azerbaijan − 68 tính đến 2024[6]
Bosnia và Herzegovina - 5
Belarus - 246
Bulgaria - 506
Cuba
Croatia - 10
Eritrea - 20
Ethiopia
Finland - 72
Georgia 48
Ấn Độ -110
Iran
Iraq-Số lượng khônng xác định [7]
Kazakhstan - 10
Kurdistan [8]
Libya
Ba Lan - 533
Nam Ossetia
Serbia - 72
Slovakia - 49
Syria - 400
Nga - 622 [2]
Ukraine - 638
Uruguay - 6
Uzbekistan
Việt Nam[9]
Yemen
Các nước từng sử dụng
[sửa | sửa mã nguồn]Các cuộc xung đột
[sửa | sửa mã nguồn]- Chiến tranh Chechnya lần thứ nhất
- Chiến tranh Nam Ossetia 2008
- Chiến tranh vùng Vịnh (lần 1-2)
- Chiến tranh Kosovo
- Chiến tranh Chechnya lần thứ hai
- Nội chiến Libya (2011)
Chú thích
[sửa | sửa mã nguồn]- ^ a b "Bản sao đã lưu trữ". Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 24 tháng 6 năm 2012.
- ^ a b http://giaoduc.net.vn/Giao-duc-Quoc-phong/Xem-bich-kich-phao-122-mm-2S1-Gvozdika-cua-Nga-na-dan-that-P1/133310.gd
- ^ IISS 2024, tr. 343.
- ^ IISS 2024, tr. 471.
- ^ IISS 2024, tr. 178.
- ^ IISS 2024, tr. 180.
- ^ Cordesman, Anthony H. (ngày 7 tháng 2 năm 2003). Iraqi Armed Forces on the Edge of War (PDF) (Báo cáo). Center for Strategic and International Studies. tr. 6. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 9 tháng 2 năm 2010. Truy cập ngày 16 tháng 7 năm 2015.
- ^ International Institute for Strategic Studies (tháng 2 năm 2016). The Military Balance 2016. Quyển 116. Routledge. tr. 491. ISBN 9781857438352.
- ^ "Bản sao đã lưu trữ". Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 24 tháng 6 năm 2012.