ZSU-23-4 Shilka

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
ZSU-23-4 "Shilka"
ZSU-23-4-Camp-Pendleton.jpg
Loại Cao xạ tự hành
Nguồn gốc  Liên Xô
Lược sử hoạt động
Trang bị 1962-nay
Lược sử chế tạo
Năm thiết kế 1957-1962
Nhà sản xuất Xưởng cơ khí Mytishchi (MMZ)
Giai đoạn sản xuất 1964-1982
Số lượng chế tạo Khoảng 6.500[1]
Thông số kỹ chiến thuật
Khối lượng 19 tấn[2][3]
Chiều dài 6,535 m[3]
Chiều rộng 3,125 m[3]
Chiều cao 2,576 m (3.572 m gồm cả radar)[2][4]
Kíp chiến đấu 4 (chỉ huy, người lái, xạ thủ, vận hành radar)

Bọc giáp thép hàn, tháp pháo dày 9,2 mm, thân dày 15 mm[5]
Vũ khí chính 4 khẩu pháo tự động 23 mm 2A7 (súng phòng không tự động 4 nòng AZP-23 "Amur"), 2000 viên đạn
Động cơ động cơ diesel 4 thì 6 cylinder V-6R 19,1 lít
280 hp (209 kW) với 2.000 rpm[6]
Công suất/trọng lượng 14,7 hp/tấn (11,0 kW/tấn)
Hệ thống treo individual torsion bar with hydraulic shock absorbers of 1st, 5th left and 6th right road wheels
Khoảng sáng gầm 400 mm[3]
Sức chứa nhiên liệu 515 l[8]
Tầm hoạt động 450 km (trên đường), 300 km (ngoài đường)[7]
Tốc độ 50 km/h (road), 30 km/h (off-road)[7]

ZSU-23-4 "Shilka" (tiếng Nga: ЗСУ-23-4 «Ши́лка») là loại pháo cao xạ tự hành bọc thép hạng nhẹ có trang bị radar do Liên Xô chế tạo. ZSU là viết tắt của Zenitnaya Samokhodnaya Ustanovka (tiếng Nga: Зенитная Самоходная Установка - ЗСУ). Shilka là đặt theo tên một dòng sôngNga. Con số 23 là chỉ cỡ nòng súng. Con số 4 chỉ số lượng nòng súng.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Trước đây Liên Xô có loại ZSU-57-2 nhưng nó không hiệu quả mặc dù hai khẩu pháo 57 mm có hỏa lực mạnh nhưng nó chỉ mang theo một lượng đạn nhỏ, thiếu ra đa, và không thể bắn khi di chuyển

Súng máy hạng nặng phòng không ZPU 14.5 mm không đủ cao. Một phiên bản khác là ZU-23-2 có cỡ nòng 23 mm với hai nòng pháo.

Vào năm 1957, ZSU-23-4 "Shilka" được phát triển cùng với ZSU-37-2 "Yenisei". Năm 1965, chúng được đưa vào phục vụ nhằm thay thế tất cả các ZSU-57-2 trong các đơn vị phòng không đầu những năm 1970.

ZSU-23-4 "Shilka" được coi là mối đe dọa với NATO trong thời kỳ chiến tranh lạnh. Và được sử dụng bởi hầu hết các nước trong khối Hiệp ước Warsaw và các nước khác ủng hộ Liên Xô. Khoảng 2.500 zsu-23-4 trong tổng số sản xuất 6.500, đã được xuất khẩu đến 23 quốc gia.

ZSU 23-4 đã phục vụ trong chiến tranh Yom Kippur (1973) và các cuộc xung đột Ả Rập-Israel khác, cuộc chiến tranh Iran-Iraq (1980-1988), và chiến tranh vùng Vịnh I (1990). Trong cuộc chiến Yom Kippur năm 1973, nó đã có hiệu quả đối với không quân Israel. Phi công Israel cố gắng bay thấp để tránh tên lửa SA-6 thường bị bắn hạ bởi ZSU-23-4. Trong các cuộc chiến tranh Xô-Afghanistan, ZSU-23-4 được sử dụng rộng rãi và có hiệu lực rất lớn đối với quân Mujahideen ở vùng núi, các pháo 23mm của ZSU-23-4 có thể để nâng cao hơn nhiều hơn so với các loại vũ khí trên BMP, BTR, T-55, hoặc T-62. Quân đội Nga cũng sử dụng ZSU 23-4 để chiến đấu ở Chechnya.

mặt trước ZSU-23-4.
hình vẽ ZSU-23-4 .
ZSU-23-4 ở viện bảo tàng Yad la-Shiryon , Israel.
ZSU-23-4 với Marine Corps Base Camp Pendleton.
ZSU-23-4 ở viện bảo tàng chiến tranh vệ quốc vĩ đại, ở Kiev.
Một bức ảnh ZSU-23-4 .

Các nước sử dụng[sửa | sửa mã nguồn]

Các nước đã và đang sử dụng Shilka

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]