ZSU-23-4 Shilka
| ZSU-23-4 "Shilka" | |
|---|---|
| Loại | Pháo phòng không tự hành |
| Nơi chế tạo | Liên Xô |
| Lược sử hoạt động | |
| Phục vụ | 1962-nay |
| Sử dụng bởi | Xem Các nước sử dụng |
| Lược sử chế tạo | |
| Năm thiết kế | 1957–1960 |
| Nhà sản xuất | Nhà máy Cơ khí Ulyanovsk (UMZ) Nhà máy Chế tạo máy Mytishchi (MMZ) |
| Giá thành | US$357.000 (giá xuất khẩu sang Libya, 1972/73)[1] |
| Giai đoạn sản xuất | 1964–1982 |
| Số lượng chế tạo | Khoảng 6.500[2] |
| Thông số | |
| Khối lượng | 19 tấn[3][4] |
| Chiều dài | 6.535 m (21.440 ft 3 in)[3] |
| Chiều rộng | 3.125 m (10.252 ft 7 in)[3] |
| Chiều cao | 2.576 m (8.451 ft 5 in) 3.572 m (11.719 ft 2 in) khi nâng radar[4][5] |
| Kíp chiến đấu | 4 (trưởng xe, lái xe, pháo thủ, nhân viên radar) |
| Phương tiện bọc thép | Thép hàn, tháp pháo 9,2 mm, thân xe lên đến 15 mm |
Vũ khí chính | 4 × pháo tự động 23 mm 2A7 (pháo phòng không tự động 4 nòng AZP-23 "Amur"), cơ số đạn 2.000 viên |
| Động cơ | V-6R, động cơ diesel 6 xi-lanh 4 kỳ, phun nhiên liệu trực tiếp, làm mát bằng chất lỏng, dung tích 20 lít 280 hp (209 kW) tại 2.000 vòng/phút[6] |
| Công suất/trọng lượng | 14,7 hp/tấn (11,0 kW/tấn) |
| Hệ thống treo | Thanh xoắn độc lập |
| Khoảng sáng gầm | 375 mm (14,8 in)[3] |
| Sức chứa nhiên liệu | 515 L[7] |
| Tầm hoạt động | 450 km (đường nhựa), 300 km (đường địa hình)[8] |
| Tốc độ | 50 km/h (31 mph) (đường nhựa) 30 km/h (19 mph) (đường địa hình)[8] |
ZSU-23-4 "Shilka" (tiếng Nga: ЗСУ-23-4 «Ши́лка») là loại pháo phòng không tự hành bọc thép hạng nhẹ có trang bị radar do Liên Xô chế tạo.
Từ nguyên
[sửa | sửa mã nguồn]Từ viết tắt "ZSU" viết tăt cho cụm từ Zenitnaya Samokhodnaya Ustanovka (tiếng Nga: Зенитная Самоходная Установка), có nghĩa là "hệ thống phòng không tự hành"; số "23" biểu thị cỡ nòng tính bằng milimet; số "4" biểu thị số lượng nòng pháo. Nó được đặt tên theo sông Shilka ở Nga. Các binh sĩ Afghanistan đã đặt biệt danh cho nó là "máy khâu" do âm thanh khi pháo bắn. Nó cũng được gọi bằng biệt danh "Zeus", bắt nguồn từ từ viết tắt tiếng Nga.
Lịch sử
[sửa | sửa mã nguồn]
Loại pháo phòng không tự hành trước đó của Liên Xô là ZSU-57-2, được trang bị hai pháo tự động 57 mm; nó được ngắm bắn bằng quang học thông qua một hệ thống theo dõi và tính toán góc đón cơ bản. ZSU-57-2 không đặc biệt thành công dù sở hữu các khẩu pháo tự động rất mạnh mẽ; do cỡ nòng lớn, nó chỉ có thể mang theo 300 viên đạn, thiếu chính xác vì không có radar và không thể vừa chạy vừa bắn.
Dòng ZPU trang bị súng máy hạng nặng 14,5 mm đặt trên giá kéo dùng cho phòng không điểm cố định có tốc độ bắn cao hơn nhiều. Phiên bản 23 mm của hệ thống vũ khí này được gọi là ZU-23-2, một giá kéo mang hai pháo 23 mm. Tuy nhiên, những vũ khí kéo theo hoặc gắn tạm bợ trên xe tải này cũng có những nhược điểm tương tự.
Việc phát triển ZSU-23-4 "Shilka" bắt đầu vào năm 1957 cùng với ZSU-37-2 "Yenisei"[a] và chiếc xe này được đưa vào biên chế năm 1965, thay thế toàn bộ các xe ZSU-57-2 trong các đơn vị phòng không vào đầu thập niên 1970. ZSU-23-4 được thiết kế để phòng không cho các cơ sở quân sự, quân đội và các đoàn xe cơ giới đang hành quân; ban đầu, các khẩu pháo mạnh hơn của "Yenisei" được đánh giá là hiệu quả trong việc bảo vệ vùng chết bên trong của các hệ thống tên lửa đất đối không Liên Xô dù trọng lượng xe tăng lên, nhưng tính đồng bộ đã chiếm ưu thế. Ban đầu, các trung đoàn xe tăng đáng lẽ phải có tiểu đoàn pháo phòng không "Shilka" (bao gồm hai đại đội, mỗi đại đội có bốn chiếc ZSU-23-4). Vào cuối thập niên 1960, một đại đội được trang bị ZSU-23-4 và đại đội còn lại trang bị ZSU-57-2. Các đại đội phòng không tiêu chuẩn của trung đoàn xe tăng và bộ binh cơ giới sau này bao gồm hai trung đội (một trung đội trang bị bốn chiếc ZSU-23-4 và trung đội còn lại trang bị bốn hệ thống tên lửa đất đối không di động 9K31 Strela-1 hoặc 9K35 Strela-10). ZSU-23-4 kết hợp một hệ thống radar đã qua kiểm chứng, khung gầm không lội nước dựa trên xe thiết giáp bánh xích GM-575 và bốn pháo tự động 23 mm. Điều này mang lại sự kết hợp hiệu quả cao giữa tính cơ động với hỏa lực mạnh và độ chính xác đáng kể. ZSU-23-4 đã vượt xa tất cả các loại pháo phòng không của NATO vào thời điểm đó, và cho đến nay nó vẫn được coi là mối đe dọa lớn đối với các máy bay cánh cố định bay thấp và trực thăng.
Hệ thống này được triển khai rộng rãi trong toàn bộ Khối Warsaw và tại các quốc gia thân Liên Xô khác. Trong tổng số 6.500 chiếc được sản xuất, có khoảng 2.500 chiếc ZSU-23-4 đã được xuất khẩu sang 23 quốc gia. Các quốc gia kế thừa của Khối Warsaw vẫn tiếp tục chế tạo và cung cấp các biến thể của ZSU-23-4, đáng chú ý nhất là biến thể "Donets" của Ukraine và "Biala" của Ba Lan.
Các đơn vị ZSU-23-4 đã tham chiến trực tiếp trong Chiến tranh Yom Kippur (1973) và các cuộc xung đột Ả Rập - Israel khác, Chiến tranh Iran – Iraq (1980–1988) và Chiến tranh Vùng Vịnh lần thứ nhất (1990). Trong Chiến tranh Yom Kippur, hệ thống này đặc biệt hiệu quả khi chống lại Không quân Israel. Các phi công Israel khi cố gắng bay thấp để tránh tên lửa SA-6 thường bị ZSU-23-4 bắn hạ, điển hình như trong Chiến dịch Doogman 5. Trong Chiến tranh Xô viết tại Afghanistan, các đơn vị ZSU-23-4 được sử dụng rộng rãi và đạt hiệu quả rất lớn trước các vị trí của quân Mujahideen trên vùng núi, do pháo của ZSU-23-4 có góc nâng cao hơn nhiều so với vũ khí trên các dòng xe BMP, BTR, T-55 hay T-62.[9] Chúng cũng được sử dụng để chế áp các vị trí phòng thủ quanh dinh tổng thống trong cuộc đảo chính tại Kabul vào giai đoạn đầu cuộc chiến. Sau này, Quân đội Nga cũng sử dụng ZSU-23-4 để tác chiến vùng núi tại Chechnya.
Mô tả
[sửa | sửa mã nguồn]
Hệ thống pháo phòng không tự hành (SPAAG) ZSU-23-4 "Shilka" dẫn đường bằng radar, với bốn khẩu pháo tự động 23 mm (0,90"), là một loại vũ khí mang tính cách mạng, chứng minh được hiệu quả cực cao trong việc chống lại máy bay cường kích và trực thăng của đối phương trong mọi điều kiện thời tiết và ánh sáng. ZSU-23-4 có mật độ hỏa lực, tốc độ bắn và độ chính xác rất cao, cũng như khả năng nạp các loại đạn khác nhau từ các dây đai riêng biệt cho mỗi nòng pháo. Mặc dù về mặt kỹ thuật, mỗi nòng pháo có thể bắn một loại đạn khác nhau, nhưng vào cuối thập niên 1970, có hai loại đạn thường được sử dụng là: đạn nổ mảnh cháy OFZT và đạn xuyên giáp vạch đường BZT, được nạp theo tỷ lệ 3:1 (ba viên OFZT rồi đến một viên BZT); cứ mỗi 10 viên BZT lại có một viên được trang bị bộ phận "tẩy đồng" và có đánh dấu riêng. Các xạ thủ được khuyến cáo nghiêm ngặt không nên chỉ bắn bằng một nòng đơn lẻ.
Sự xuất hiện của "Shilka" đã gây ra những thay đổi đáng kể trong chiến thuật sử dụng máy bay ở độ cao thấp trên chiến trường của NATO. Mặc dù hiện nay đã lỗi thời trong vai trò vũ khí phòng không tầm ngắn hiện đại, ZSU-23-4 vẫn là mối đe dọa chết chóc đối với xe thiết giáp nhẹ, bộ binh và các điểm hỏa lực của đối phương khi đóng vai trò xe hỗ trợ bộ binh. Với hỏa lực mạnh và chính xác, ZSU-23-4 thậm chí có thể vô hiệu hóa cả xe tăng bằng cách phá hủy kính ngắm, ăng-ten vô tuyến hoặc các bộ phận dễ tổn thương khác.[4] Các dòng ZSU-23-4, đặc biệt là các mẫu đời cuối, có hiệu suất tuyệt vời và hệ thống vận hành rất tin cậy.
Dựa trên khung gầm xe bánh xích GM-575 (sử dụng các linh kiện từ xe tăng lội nước hạng nhẹ PT-76), ZSU-23-4 lắp đặt một tháp pháo bọc thép chứa bốn khẩu pháo tự động 2A7 23 mm (0,9") làm mát bằng chất lỏng, kết nối với radar RPK-2 "Tobol" (tên mã NATO: "Gun Dish"). Xe nặng 19 tấn (các bản sửa đổi sau này lên tới 21 tấn), có tầm hoạt động 450 km (280 mi) và tốc độ tối đa 50 km/h (31 dặm/giờ). Hỏa lực bổ sung của các phiên bản cải tiến có thể bao gồm một cụm sáu tên lửa đất đối không (SAM) tầm ngắn SA-18 gắn trên nóc, hoặc gắn bên hông tháp pháo.
Kíp xe gồm bốn người: trưởng xe, lái xe, pháo thủ và người vận hành radar. Khoang lái nằm ở phần mũi xe. Khoang chiến đấu nằm ở giữa và khoang động cơ nằm ở phía sau xe.
Hệ thống truyền động bao gồm ly hợp chính ma sát nhiều đĩa, hộp số sàn với năm số tiến, hai cơ cấu lái hành tinh hai cấp với các đĩa ma sát khóa và hai cụm truyền động cuối. Khung gầm xe có sáu bánh chịu nặng lốp cao su đơn mỗi bên, bánh chủ động phía sau với các vòng răng có thể tháo rời và một bánh dẫn hướng mỗi bên. Các bánh chịu nặng thứ nhất, thứ năm bên trái và thứ sáu bên phải được trang bị giảm chấn thủy lực. Xích dài 11,904 m, rộng 382 mm (15") và có 93 mắt xích.
Do có số lượng lớn các loại đường ống cần phải tháo rời khi bảo dưỡng, quy trình sửa chữa một số cơ cấu của xe khá khó khăn (ví dụ như thay thế hoặc sửa chữa máy khởi động). Bộ truyền động điện của cửa thoát khí động cơ tuabin khí (một phần của hệ thống cung cấp điện cho xe) nằm ở vị trí không thuận tiện (dưới đáy thân xe), dễ gây ra hiện tượng quá nhiệt và đôi khi bị kẹt. Ngược lại, cấu trúc của hệ thống cung cấp điện lại rất đáng tin cậy. Việc thay dầu máy và nước làm mát khá dễ dàng, tương tự như việc thay bộ lọc nhiên liệu, lọc dầu và các ngăn của bộ lọc gió.[10]
ZSU-23-4 có thể vượt vật cản thẳng đứng cao 0,7 m , vượt hào rộng 2,5 m, có độ sâu lội nước 1,0 m và có khả năng leo dốc 30°.[3] ZSU-23-4 có tính cơ động và khả năng vượt địa hình tốt, nhưng công suất động cơ diesel của nó hơi yếu so với trọng lượng xe. Hệ quả là khả năng gia tốc trên đường địa hình chưa đạt mức lý tưởng, và xe thường bị tụt lại phía sau các loại xe tăng chủ lực hoặc xe chiến đấu bộ binh khi di chuyển trên địa hình dốc.[10][11]
ZSU-23-4 được trang bị hệ thống phòng chống NBC (sinh-hóa-xạ) với bộ lọc không khí, thiết bị chữa cháy, hệ thống điều hướng TNA-2, thiết bị quan sát hồng ngoại, đài vô tuyến R-123, hệ thống liên lạc nội bộ R-124 và hệ thống cung cấp điện bao gồm một động cơ tuabin khí trục đơn DG4M-1 (70 mã lực tại 6.000 vòng/phút) cùng máy phát điện một chiều (cung cấp dòng điện một chiều 27 V và 54 V hoặc dòng điện xoay chiều 220 V 400 Hz).[12]
Hệ thống vũ khí và kiểm soát hỏa lực
[sửa | sửa mã nguồn]Tháp pháo và pháo
[sửa | sửa mã nguồn]
Mỗi pháo tự động 2A7 23 mm làm mát bằng nước có tốc độ bắn lý thuyết 850–1.000 phát/phút, tạo ra tốc độ bắn tổng hợp từ 3.400–4.000 phát/phút. Điều này cho phép thời gian bắn liên tục khoảng 30–35 giây trước khi hết đạn (chưa tính đến các yếu tố hạn chế tốc độ bắn thực tế như quá nhiệt nòng pháo). Tháp pháo hàn có vành lăn được chuyển từ xe tăng hạng trung T-54 với đường kính 1,840 mm (0,0724 in). Tháp pháo quay 360° được ổn định hoàn toàn và có khả năng bắn khi đang di chuyển. Cơ chế quay tháp pháo và nâng hạ pháo tự động mang lại tốc độ và độ chính xác dẫn hướng rất tốt. Các cơ chế ngắm bắn dẫn động bằng thủy lực đã được chứng minh là rất đáng tin cậy. Việc ngắm bắn thủ công được sử dụng khi đối đầu với các mục tiêu mặt đất. Cụm pháo phòng không tự động bốn nòng AZP-23 "Amur" có góc nâng từ −4° đến +85°. Mã định danh GRAU cho tháp pháo ZSU-23-4 với pháo bốn nòng AZP-23 "Amur" 23 mm là 2A10. Một tấm thép bọc thép bên trong tháp pháo bảo vệ kíp xe khỏi hỏa lực và khí nổ khi bắn cường độ cao.
Đạn dược
[sửa | sửa mã nguồn]
Cơ số đạn mang theo là 2.000 viên (520 viên cho mỗi khẩu pháo phía trên và 480 viên cho mỗi khẩu pháo phía dưới) được nạp trong các dây đai 50 viên hoặc ngắn hơn.
Các khẩu pháo 2A7 23mm làm mát bằng nước của ZSU-23-4 sử dụng cùng cỡ đạn 23×152B mm như pháo 2A14 của loại pháo kéo ZU-23-2 hai nòng. Mặc dù pháo hàng không Volkov-Yartsev VYa-23 sử dụng trên cường kích Il-2 Sturmovik thời Thế chiến II cũng bắn loại đạn có cùng kích thước vỏ đạn, nhưng chúng khác nhau về liều nạp và hạt nổ, do đó không thể dùng chung với đạn pháo phòng không sau chiến tranh.[13] So với VYa và đạn của nó, pháo phòng không có sơ tốc đầu nòng cao hơn một chút, và các viên đạn nổ cũng có lượng thuốc nổ mạnh lớn hơn.[14] Đạn VYa có vỏ bằng đồng thau, trong khi đạn 2A7/2A14 có vỏ bằng thép.[13]
Ba loại đạn phòng không 23mm chính được sản xuất sau chiến tranh là: API-T (Xuyên cháy vạch đường), HEI (Nổ mảnh cháy) và HEI-T (Nổ mảnh cháy vạch đường). Ngoài các loại đạn nguyên bản của Liên Xô, nhiều nhà sản xuất đạn dược khác cũng bắt đầu sản xuất loại đạn cỡ nòng phổ biến này; bao gồm các loại đạn mới như đạn xuyên giáp dưới cỡ nòng và đạn dễ vỡ. Bảng dưới đây liệt kê các đặc tính chính của một số loại đạn 23×152B mm hiện có được sử dụng cho pháo phòng không 23mm:
| Định danh | Loại | Trọng lượng đầu đạn [g] | Liều nổ [g] | Sơ tốc đầu nòng [m/s] | Mô tả |
|---|---|---|---|---|---|
| BZT | API | 190[14] | none | 970 | Lõi thép xuyên giáp đầu tù, với liều cháy bên trong chóp mũi.[14] Độ xuyên 15 mm RHA ở khoảng cách 1000 m và góc chạm 30 độ, hoặc 25 mm ở 400 m và góc chạm 0 độ. Thời gian cháy vạch đường là 5 giây. |
| OFZ | HE | 184[14] | 19[15] | 980[14] | Đạn nổ mảnh với ngòi nổ mũi tích hợp cơ chế tự hủy.[14] |
| OFZT | HE-T | 188[14] | 13[15] | 980[14] | Đạn nổ mảnh với liều nổ giảm bớt do không gian dành cho bộ phận vạch đường; thời gian cháy vạch đường là 5 giây. |
| APDS-T | APDS-T | 103 | none | 1220 | Đạn xuyên giáp dưới cỡ nòng có vạch đường của Ba Lan. Độ xuyên 30 mm RHA ở khoảng cách 100 m và góc chạm 30 độ (so với đường thẳng đứng), thời gian cháy vạch đường >2,5 giây. |
Thông thường, mỗi dây đai đạn chứa 40 viên OFZT và 10 viên BZT.[10] Chúng có thể bắn tới tầm xa ngang tối đa 7 km (4,3 mi), và tầm cao tối đa 5,1 km (3,2 mi). Tầm cao hiệu quả là 1,5 km (0,93 mi) với khoảng cách trực tiếp đến mục tiêu là 2,5 km (1,6 mi) và tốc độ mục tiêu là 250 m/s (lên đến 500 m/s nếu sử dụng hệ thống kiểm soát hỏa lực hiện đại). Một loạt bắn thông thường gồm 3–10 viên và góc đón mục tiêu được máy tính tính toán cho mỗi loạt (bắn không cần hiệu chỉnh).[12] Khi tấn công các mục tiêu mặt đất, tầm bắn hiệu quả của nó là khoảng 2,5 km (1,6 mi). Tầm bắn ngắn của pháo 23 mm và hiệu ứng nổ tương đối thấp của các vật thể phóng cỡ nhỏ đồng nghĩa với việc nó ít có khả năng đối đầu với các mối đe dọa như máy bay phản lực tấn công và tên lửa hành trình hơn so với các hệ thống hiện đại như 2K22 Tunguska (được trang bị pháo 30 mm mạnh mẽ hơn và tích hợp tên lửa). Một loại đạn 23 mm đặc biệt với vật phóng hỗn hợp (composite) đã được phát triển cho biến thể hiện đại (ZSU-23-4M4) để sử dụng chống lại tên lửa hành trình.
Radar
[sửa | sửa mã nguồn]Radar RPK-2 "Tobol", hay còn gọi là 1RL33, hoạt động trên băng tần Ku và có thể phát hiện máy bay ở khoảng cách lên tới 20 km (12 mi). Nó có khả năng bám bắt mục tiêu xuất sắc và tương đối khó bị đối phương phát hiện. Tuy nhiên, radar này thường thu nhận nhiều tín hiệu phản hồi giả (nhiễu địa vật) khi mục tiêu ở độ cao dưới 60 m (200 ft). Ăng-ten radar được gắn trên các giá đỡ có thể gập lại ở phía trên sau tháp pháo. Xe cũng có một kính ngắm quang học đồng bộ. Radar RPK-2 chứng minh được khả năng bảo vệ tốt trước các biện pháp chế áp điện tử thụ động của đối phương. Mặc dù vậy, hệ thống radar của ZSU-23-4 có phạm vi phát hiện ngắn trong quá trình tìm kiếm mục tiêu, tùy thuộc vào điều kiện thời tiết (chủ yếu phụ thuộc vào tình trạng mưa và tuyết). Việc tự động bám bắt mục tiêu ở khoảng cách dưới 7–8 km (4,3–5,0 dặm) là rất khó khăn do vận tốc góc của mục tiêu ở cự ly gần rất cao. Radar cần được cài đặt lại khá thường xuyên do các thông số không ổn định của ống tia âm cực trong hệ thống chọn mục tiêu. Việc thiếu thiết bị đo xa laser tự động đòi hỏi trưởng xe và pháo thủ phải có kỹ năng rất thuần thục.[16][10]
Các hạn chế và vấn đề
[sửa | sửa mã nguồn]Các phiên bản đầu tiên của ZSU-23-4 đôi khi gặp phải vấn đề "súng tự bắn": sau một thời gian dài khai hỏa, các khẩu pháo trở nên nóng đến mức đạn trong buồng đạn sẽ tự nổ ngay cả khi xạ thủ không bóp cò – viên đạn nổ đẩy vỏ đạn ra và nạp viên mới vào, viên mới này sau đó cũng tự nổ do nhiệt, và quá trình này cứ thế tiếp diễn. Đôi khi hiện tượng này chỉ dừng lại khi toàn bộ dây đai đạn đã cạn sạch. Nòng pháo quá nhiệt có thể bị kẹt và thậm chí gãy rời khỏi xe. Vấn đề này bắt nguồn từ hệ thống làm mát kém hiệu quả, khiến những chiếc ZSU-23-4 đời đầu trở nên nguy hiểm ngay cả với quân nhà đang đứng gần đó nếu sự cố xảy ra. Dù tình trạng này hiếm khi diễn ra, các kíp xe Liên Xô đã học được cách giữ khoảng cách an toàn với những cỗ máy nà[3] Các chuyên gia khuyến cáo không nên thực hiện bắn liên tục (các loạt bắn dài hơn 15 giây mà không nghỉ) trên các mẫu đời đầu cho đến khi vấn đề về độ tin cậy và quá nhiệt của pháo khi bắn cường độ cao được giải quyết trên phiên bản ZSU-23-4M (các ống hàn dẫn nước làm mát ra ngoài được thay thế bằng ống mềm). Sau khi hệ thống làm mát được cải tiến, các khẩu pháo tự động đã trở nên cực kỳ đáng tin cậy.[10]
ZSU-23-4 được trang bị máy tính giải bài toán bắn điện-cơ 1A7 SRP, nặng 180 kg, chiếm toàn bộ không gian phía trước vị trí của Trưởng xe. Nó chứa 60 động cơ điện dẫn động 110 trục thông qua các chiết áp, trục truyền động, thanh đẩy, cam, bánh răng và các khớp liên kết khác nhau để tính toán cơ học thời gian đạn bay đến khi va chạm, góc đón theo phương đứng và góc đón phương vị dựa trên các tham số mục tiêu nhận được từ radar 1RL33 RPK-2 và góc hiệu chỉnh từ khối con quay hồi chuyển (GAG).
Các quốc gia và tổ chức vận hành
[sửa | sửa mã nguồn]
Hiện tại
[sửa | sửa mã nguồn]
Algérie − Theo ước tính của Viện Nghiên cứu Chiến lược Quốc tế (IISS), có 225 chiếc ZSU-23-4 đang hoạt động tính đến năm 2024[17]
Angola[18]
Armenia[19]
Azerbaijan[20]
Bulgaria[21]
Tchad − 6 chiếc tính đến năm 2024[22]
Congo[23]
Cuba[24]
Ai Cập − 120 chiếc phục vụ trong Lục quân và 230 chiếc thuộc Bộ Tư lệnh Phòng không tính đến năm 2024[25]
Eritrea[26]
Ethiopia[27]
Ấn Độ − 75 chiếc đang hoạt động tính đến năm 2024[28]
Iran − Lô đầu tiên gồm 30 chiếc được cung cấp vào năm 1971.[29] 100 chiếc đang hoạt động tính đến năm 2024[30]
Jordan − 48 chiếc tính đến năm 2024[31]
Kyrgyzstan − 24 chiếc tính đến năm 2024[32]
Lào[33]
Nigeria[34]
Perú − 35 chiếc đang hoạt động tính đến năm 2024[35]
Ba Lan − 20 chiếc ZSU-23-4MP Biala và 2 chiếc ZSU-23-4 đang hoạt động tính đến năm 2024.[36] Một số đã được viện trợ cho Ukraine.[37]
Nga − Số lượng không xác định phục vụ trong Lục quân và 60 chiếc thuộc Lực lượng Hải quân đánh bộ tính đến năm 2024[38]
Syria[39]
Turkmenistan − 48 chiếc tính đến năm 2024[40]
Ukraina − Số lượng không xác định phục vụ trong Lục quân và Hải quân đánh bộ tính đến năm 2024[41]
Việt Nam[42]
Zambia − 4 chiếc tính đến năm 2024[43]
Các tổ chức phi quốc gia
[sửa | sửa mã nguồn]Trước đây
[sửa | sửa mã nguồn]
Afghanistan − 20 chiếc[47]
Bosna và Hercegovina − 18 chiếc, nhận từ Nga năm 1997[48]
Tiệp Khắc − 100 chiếc, sản xuất theo giấy phép[47]
Đông Đức − 150 chiếc[49]
Ecuador − 34 chiếc[48]
Hungary − 14 chiếc[48]
Iraq − Hơn 200 chiếc vào năm 2002[48]
Nhà nước Hồi giáo Iraq và Levant − Ít nhất 2 chiếc vào năm 2016, thu giữ từ Quân đội Syria[50]
Israel − 60 chiếc vào năm 2002[48]
Liban − Các xe cũ của PLO được vận hành bởi Quân đội Lebanon (2),[51] Lực lượng Lebanon (3), Al-Mourabitoun (3),<[52][53][54] Phong trào Amal (3 chiếc tịch thu từ Al-Mourabitoun),[55] và Quân đội Giải phóng Nhân dân (2 chiếc được Libya cho mượn)[56] trong thời kỳ Nội chiến Liban.
Libya − 250 chiếc vào năm 2002[48]
Mali − 3 hoặc 4 chiếc vào năm 2013[57]
Mông Cổ[48]
Nicaragua − Bán cho Ecuador năm 1997[48]
CHDCND Triều Tiên − Hơn 100 chiếc vào năm 2002[48]
Tổ chức Giải phóng Palestine − Sử dụng tại Lebanon[58]
Somalia − 4 chiếc[48]
South Yemen − 50 chiếc[49]
Liên Xô[47] − Bàn giao cho các quốc gia kế thừa.
Yemen − Hơn 30 chiếc vào năm 2002[48]
Xem thêm
[sửa | sửa mã nguồn]- Tunguska-M1 (Liên Xô)
- Tổ hợp tên lửa Pantsir (CHLB Nga)
- M247 Sergeant York (Hoa Kỳ)
- Flakpanzer Gepard (CHLB Đức)
- Fliegerabwehrpanzer 68 (CHLB Đức)
- Hệ thống phòng không Marksman (Anh)
- Pháo phòng không tự hành Mitsubishi Type 87 (Nhật Bản)
- K30 Biho (Hàn Quốc)
- Korkut (Thổ Nhĩ Kỳ)
- PZA Loara (Ba Lan)
- Type 95 SPAAA (Trung Quốc)
Ghi chú
[sửa | sửa mã nguồn]- ↑ Dự án bị hủy bỏ vào ngày 20 tháng 9 năm 1962
Tham khảo
[sửa | sửa mã nguồn]- ↑ Efrat, Moshe (1983). "The Economics of Soviet Arms Transfers to the Third World. A Case Study: Egypt". Soviet Studies. 35 (4): 437–456. doi:10.1080/09668138308411496. ISSN 0038-5859. JSTOR 151253.
- ↑ "5. ЗЕНИТНЫЕ САМОХОДНЫЕ УСТАНОВКИ (ЗСУ) – Военный паритеit". www.militaryparitet.com. Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 7 năm 2017. Truy cập ngày 22 tháng 5 năm 2017.
- 1 2 3 4 5 6 "В Боях На «Шилке»". Otvaga2004 (bằng tiếng Nga). Bản gốc lưu trữ ngày 25 tháng 12 năm 2007. Truy cập ngày 14 tháng 4 năm 2026.
- 1 2 3 http://www.army.lv/?s=703&id=65&v=1#info Lưu trữ ngày 10 tháng 12 năm 2008 tại Wayback Machine ЗСУ-23-4
- ↑ "СВЗРИУ". Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 12 năm 2008. Truy cập ngày 22 tháng 5 năm 2017.
- ↑ "Зенитная самоходная установка ЗСУ-23-4 "Шилка"". Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 1 năm 2008. Truy cập ngày 15 tháng 5 năm 2008. Зенитная Самоходная Установка ЗСУ-23-4
- ↑ "ПВЗРККУ: ЗСУ-23-4". Bản gốc lưu trữ ngày 25 tháng 5 năm 2010. Truy cập ngày 22 tháng 5 năm 2017.
- 1 2 "ZSU-23-4 'Shilka'". Airbase.ru (bằng tiếng Nga). Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 12 năm 2008.
- ↑ Russian General Staff (2002). Grau, Lester; Gress, Michael (biên tập). The Soviet–Afghan War: How a Superpower Fought and Lost (bằng tiếng Anh). University Press of Kansas. tr. 38. ISBN 0-7006-1185-1.
- 1 2 3 4 5 "Охотники за самолетами". Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 12 năm 2008. Truy cập ngày 22 tháng 5 năm 2017.
- ↑ "Морская Пехота Балтики – ЗСУ-23-4МЗ и М2". belostokskaya.ru. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 10 năm 2017. Truy cập ngày 22 tháng 5 năm 2017.
- 1 2 "ЗСУ-23-4 "Шилка"". Lưu trữ bản gốc ngày 23 tháng 7 năm 2013. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2014.
- 1 2 Williams, Anthony G. "An introduction to collecting 23-28mm cartridges". Military Guns & Ammunition (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 10 năm 2010. Truy cập ngày 14 tháng 4 năm 2026.
- 1 2 3 4 5 6 7 8 "Russian Ammunition Page". Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 10 năm 2009. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2014.
- 1 2 ORDATA: Ordnance Identification Tool, "ORDATA Online: International Deminer's Guide to UXO Identification, Recovery, and Disposal". Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 8 năm 2008. Truy cập ngày 25 tháng 1 năm 2010.
- ↑ "ЗСУ-23-4 "Шилка"". Army.lv (bằng tiếng Nga). Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 12 năm 2008. Truy cập ngày 14 tháng 4 năm 2026.
- ↑ IISS 2024, tr. 343.
- ↑ IISS 2024, tr. 471.
- ↑ IISS 2024, tr. 179.
- ↑ IISS 2024, tr. 180.
- ↑ IISS 2024, tr. 77.
- ↑ IISS 2024, tr. 482.
- ↑ IISS 2024, tr. 483.
- ↑ IISS 2024, tr. 428.
- ↑ IISS 2024, tr. 348,351.
- ↑ IISS 2024, tr. 490.
- ↑ IISS 2024, tr. 491.
- ↑ IISS 2024, tr. 267.
- ↑ "RECENT TRENDS IN IRANIAN ARMS PROCUREMENT - Department of State". Foreign Relations of the U.S., 1969–1976, Volume E–4, Documents on Iran and Iraq, 1969–1972. tháng 5 năm 1972 – qua Office of the Historian.
- ↑ IISS 2024, tr. 353.
- ↑ IISS 2024, tr. 364.
- ↑ IISS 2024, tr. 188.
- ↑ IISS 2024, tr. 290.
- ↑ IISS 2024, tr. 510.
- ↑ IISS 2024, tr. 447.
- ↑ IISS 2024, tr. 125.
- ↑ "Polskie systemy ZSU-23-4 Szyłka w Ukrainie. Chronią tamtejsze niebo". WP Tech (bằng tiếng Ba Lan). ngày 27 tháng 3 năm 2023. Truy cập ngày 24 tháng 6 năm 2023.
- ↑ IISS 2024, tr. 194,199.
- ↑ IISS 2024, tr. 386.
- ↑ IISS 2024, tr. 209.
- ↑ IISS 2024, tr. 212−213.
- ↑ IISS 2024, tr. 325.
- ↑ IISS 2024, tr. 528.
- ↑ IISS 2024, tr. 371.
- ↑ Cooper, Tom; Grandolini, Albert; Fontanellaz, Adrien (2019). Showdown in Western Sahara, Volume 2: Air Warfare Over the Last African Colony, 1975-1991. Warwick, UK: Helion & Company Publishing. tr. 70. ISBN 978-1-912866-29-8.
- 1 2 IISS 2024, tr. 388.
- 1 2 3 Cullen & Foss 1992, tr. 88.
- 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 O'Halloran & Foss 2002, tr. 73.
- 1 2 "Arms transfer database". SIPRI. Stockholm International Peace Research Institute. Truy cập ngày 28 tháng 7 năm 2024.
- ↑ Bender, Jeremy; Rosen, Armin; Wilson, Jeremy (ngày 17 tháng 1 năm 2016). "These are the weapons Islamic State fighters are using to terrify the Middle East". Business Insider. Truy cập ngày 28 tháng 7 năm 2024.
- ↑ Zaloga, Steven J. (1993). ZSU-23-4 Shilka & Soviet Air Defense Gun Vehicles (bằng tiếng Anh). Concord Publications. tr. 35–36. ISBN 978-9623610391.
- ↑ Mahé, Yann (January–February 2014). "La Guerre Civile Libanese, un chaos indescriptible! (1975-1990)". Trucks & Tanks Magazine (bằng tiếng Pháp) (41): 81. ISSN 1957-4193.
- ↑ Kassis, Samir (2019). Invasion of Lebanon 1982 (bằng tiếng Anh). tr. 201, 203.
- ↑ Cooper, Tom; Santana, Sergio (2019). Lebanese Civil War Volume 1: Palestinian diaspora, Syrian and Israeli interventions, 1970-1978 (bằng tiếng Anh). tr. 55. ISBN 978-1912866304.
- ↑ Sex & Abi-Chahine (2021), p. 194.
- ↑ Abi-Chahine, (2019), p. 72.
- ↑ Touchard, Laurent (ngày 18 tháng 6 năm 2013). "Armée malienne : le difficile inventaire" [Malian Army: The difficult inventory]. Jeune Afrique (bằng tiếng Pháp). Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 4 năm 2019. Truy cập ngày 13 tháng 1 năm 2019.
- ↑ Sayigh 1997, tr. 536−537.
Liên kết ngoài
[sửa | sửa mã nguồn]- Federation of American Scientists page Lưu trữ ngày 31 tháng 12 năm 2008 tại Wayback Machine
- GulfLINK: Soviet air defence vehicles Lưu trữ ngày 10 tháng 10 năm 2017 tại Wayback Machine
- In Russian. Description and photos
- In Russian. Short info and several photos
- In Russian. Description, specifications, photos Lưu trữ ngày 7 tháng 12 năm 2008 tại Wayback Machine
- In Russian. ZSU-23-4 during the Soviet War in Afghanistan Lưu trữ ngày 25 tháng 12 năm 2007 tại Wayback Machine
- Bắn thử ZSU-23-4