Boeing AH-64 Apache

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ AH-64 Apache)
Bước tới: menu, tìm kiếm
AH-64 Apache
Photo of tilted horizon showing helicopter flying above barren land with rectangular patches of green grass.
Kiểu Trực thăng chiến đấu
Quốc gia chế tạo Hoa Kỳ
Hãng sản xuất Hughes Helicopters (1975–84)
McDonnell Douglas (1984–97)
Boeing Defense, Space & Security (1997–hiện tại)
Chuyến bay đầu tiên 30 tháng 9 năm 1975
Bắt đầu
được trang bị
vào lúc
tháng 4 năm 1986
Trang bị cho Quân đội Hoa Kỳ
Không quân Israel
Không quân Ai Cập
Không quân Hoàng gia Hà Lan
Được chế tạo 1983–hiện tại
Số lượng sản xuất Gần 1.300 chiếc tính tới năm 2015[1]
Giá thành AH-64A: USD20M (2007)
AH-64D: US$65M (2010)[2]
AH-64E: US$35.5M (FY2014)[3]
Biến thể AgustaWestland Apache

AH-64 Apache là một loại máy bay trực thăng tấn công của Lục quân Hoa Kỳ, là thế hệ kế tiếp của máy bay trực thăng Bell AH-1 Cobra. Cái tên Apache được đặt theo tên một bộ tộc thổ dân da đỏBắc Mỹ. Mỗi chiếc AH-64 Apache với hệ thống vũ khí tiêu chuẩn có giá từ dao động 20 đến 65 triệu dollar tùy theo phiên bản (Thời giá 2013).

Lịch sử phát triển[sửa | sửa mã nguồn]

Lockheed AH-56 Cheyenne.
YAH-64 bay thử nghiệm tại Căn cứ Fort Belvoir, Virginia, Mỹ, năm 1982.
Nguyên mẫu YAH-64A năm 1984.

Những năm đầu thập niên 1950, khi trực thăng dần hoàn thiện, đã có khá nhiều nước trên thế giới bắt tay vào nghiên cứu chế tạo nhưng đa số trực thăng chỉ làm nhiệm vụ vận tải, trinh sát, sơ tán cứu thương. Sau đó, Mỹ nhận thấy quân đội nước này cần một loại trực thăng có khả năng vũ trang, hỗ trợ bộ binh đổ bộ từ trên không, vì vậy họ đã thử nghiệm một số loại trực thăng mang thêm súng máy và rocket như Bell-47, OH-13, Sikorsky S-51 H-19 và Piasecki H-21.

Năm 1954, Pháp đã dùng một chiếc trực thăng Sud-Ouest SO.1221 Djinn thử nghiệm bắn tên lửa chống tăng Nord SS.10, đây là chiếc trực thăng bắn được tên lửa có điều khiển đầu tiên trên thế giới. Đầu những năm 1960, Pháp đã trang bị súng máy, rocket cho trực thăng Piasecki H-21 tham gia chiến trường Algeria. Nhưng Mỹ mới là nước đã “cách mạng hóa” việc phát triển vũ khí hỗ trợ hỏa lực cho lực lượng đổ bộ từ trực thăng vận tải.

Với sự ra đời của động cơ turbine phản lực, trực thăng có thể bay nhanh hơn và mang nặng hơn. Chiếc Bell 204 Huey (hay còn gọi là UH-1 Iroquois/ Huey) được Mỹ “vũ trang hạng nặng” bằng các loại súng máy, rocket, thậm chí là bom.

Tuy nhiên, quân đội Mỹ lại muốn có một trực thăng hỗ trợ hoả lực kiểu mới, với khả năng tấn công tất cả các loại mục tiêu dưới mặt đất như xe tăng, xe bọc thép, lô cốt, bộ binh… thậm chí cả mục tiêu trên không.

Loại trực thăng này phải nhanh nhẹn, được trang bị tốt và khả năng sống sót trên chiến trường cao. Vì thế năm 1964, Mỹ cho ra đời chương trình AFSS (Advanced Fire Support System/ Hệ thống Hỗ trợ Hỏa lực Tiên tiến) với sự tham gia của 3 công ty. Đó là Bell Helicopter với Bell D-262, Sikorsky với Sikorsky S-66 và Lockheed với CL-840. Cuối cùng, Lockheed là công ty thắng cuộc và CL-840 được đổi tên thành AH-56 Cheyenne.

Trong khi AH-56 Cheyenne đang phát triển sau khi thắng cuộc trong chương trình AFSS thì chiến tranh Việt Nam bước vào giai đoạn leo thang, vì vậy Mỹ muốn có một chiếc trực thăng hỗ trợ hỏa lực tạm thời phục vụ chiến trường.

Bell Helicopter đã cho ra đời một loại trực thăng hỗ trợ hỏa lực mới và cũng là trực thăng tấn công đầu tiên trên thế giới, Bell 209 Cobra (sau này là Cobra AH-1). Bay nhanh, khả năng sống sót cao trên chiến trường, nhỏ gọn, mang nhiều vũ khí nhằm hỗ trợ hỏa lực cho bộ binh gồm 2 khẩu súng máy nòng xoay 7,62 mm, 4 giàn phóng rocket 70 mm Hydra. Sau này được trang bị thêm 8 tên lửa chống tăng có điều khiển BGM-71 TOW để diệt tăng, công sự. Quân đội Mỹ đã lựa chọn hẳn AH-1 Cobra làm trực thăng hỗ trợ hỏa lực và hủy dự án AH-56 Cheyenne vì có quá nhiều lỗi phát sinh và chi phí phát triển bị tăng cao.

Sau AH-1 Cobra và dự án chết yểu AH-56 Cheyenne, quân đội Mỹ muốn một loại trực thăng mạnh hơn AH-1 về khả năng mang vũ khí và tầm hoạt động, đủ khả năng đánh bại các trung đoàn tăng-thiết giáp của Liên Xô. Vì vậy, năm 1972, Lục quân Hoa Kỳ đã đề ra chương trình AAH (Advanced Attack Helicopter/Máy bay trực thăng tấn công). Từ 5 hãng sản xuất ban đầu là Boeing-Vertol, Bell, Hughes, Lockheed, và Sikorsky, các hãng cuối cùng được chọn là Hughes Aircraft (sau đó là Hughes Helicopters) với mẫu Model 77/YAH-64 và Bell Helicopter với mẫu YAH-63.

Nguyên mẫu YAH-64 đã thực hiện chuyến bay thử đầu tiên vào ngày 30 tháng 9 năm 1975. Năm 1976, Bell Helicopter đã bị Hughes hạ bệ và chiếc YAH-64 giành được chiến thắng. Sau khi hợp đồng sản xuất giữa Quân đội Mỹ và Hughes Helicopters được ký kết, dây chuyền sản xuất AH-64 chính thức đi vào hoạt động năm 1982. Năm 1983, chiếc AH-64 đầu tiên đã được xuất xưởng và bay thử nghiệm ở Mesa, Arizona.

Sau khi mua Hughes Helicopters vào năm 1984 với giá 500 triệu USD, McDonnell Douglas đã tiếp quản và đẩy mạnh tiến độ chương trình nghiên cứu, sản xuất AH-64. Tháng 4 năm 1986, AH-64 chính thức được đưa phục vụ trong biên chế của Quân đội Hoa Kỳ. Và sau khi McDonnell Douglas sáp nhập với Boeing vào năm 1997, hoạt động sản xuất tiếp tục được chi nhánh Boeing Defense, Space & Security duy trì. Tính đến hiện tại đã có hơn 2000 chiếc AH-64 Apache với nhiều biến thể đã được xuất xưởng.

Ngoài Hoa Kỳ, AH-64 còn được sản xuất theo giấy phép tại Vương quốc Anh bởi AgustaWestland Apache (phiên bản WAH-64) và tại Nhật Bản bởi Fuji Heavy Industries (FHI) (phiên bản AH-64DJ).[4]

Buồng lái của AH-64 Apache, trong ảnh là cựu quân nhân Ricky Schroder và con trai ông.

Thiết kế[sửa | sửa mã nguồn]

Hệ thống điều khiển[sửa | sửa mã nguồn]

Một chiếc Apache cần đến 2 người điều khiển. Buồng lái được chia làm hai phần xếp liên tiếp nhau: phi công phụ kiêm xạ thủ sẽ ngồi ở buồng phía trước để có thể dễ dàng triển khAI hệ thống vũ khí, phi công chính sẽ ngồi ở buồng phía sau và điều khiển chiếc trực thăng. Buồng phía sau được thiết kế cao hơn phía trước một chút để phi công có thể quan sát rõ đường bay. Mỗi buồng đều sở hữu hệ thống điều khiển máy bay và vũ khí, để một người có thể ngay lập tức trợ giúp người kia trong trường hợp có biến cố xảy ra.

Apache cũng sử dụng hệ thống điều khiển nhóm và tuần hoàn giống với bất cứ trực thăng nào khác. Hệ thống này sẽ điều khiển rotor bằng hệ thống ổn định kỹ thuật số lẫn thủy lực cơ khí. Bộ phận ổn định kỹ thuật số dùng để tinh chỉnh hệ thống thủy lực nhằm giúp máy bay ổn định hơn, nó cũng đồng thời giữ cho trực thăng tự động nằm ở 1 vị trí cố định trên không trung trong 1 thời gian ngắn.

Trong các trực thăng Apache, 3 màn hình 6x8 inch trước mặt phi công sẽ cung cấp đầy đủ các thông tin định vị và thông tin chuyến bay.Những hệ thống số này cung cấp đầy đủ thông tin và dễ đọc hơn rất nhiều so với phương pháp truyền thống. Nếu cần thông tin gì thì phi công chỉ cần bấm nút bên cạnh màn hình để hiện ra.[5]

Phần động cơ và hệ thống cánh quạt chính của một chiếc AH-64A.

Hệ thống bay[sửa | sửa mã nguồn]

Hệ thống bay của Apache gồm có hệ thống cánh quạt chính và hệ thống cánh quạt đuôi. Về mặt lý thuyết, nguyên tắc hoạt động của Apache cũng giống như hàng loạt các loại trực thăng khác khi mà nó có 2 rotor (con quay) dùng để xoay hàng loạt các cánh quạt (blade) khác nhau. Con quay chính được đính chặt vào trực thăng và dùng để điều khiển 4 cánh nằm nghiêng, mỗi cánh dài 6 mét. Mỗi khi có không khí luồn qua thì cánh quạt sẽ tạo ra 1 lực nâng để đẩy máy bay lên bầu trời. Phi công sẽ điều khiển trực thăng bằng cách sử dụng một bộ phận cơ khí có tên gọi swash plate. Bộ phận này chịu trách nhiệm thay đổi độ nghiêng của cánh quạt nhằm tăng cường lực nâng. Khi phi công giữ 4 cánh quạt cân bằng thì chiếc máy bay của chúng ta sẽ có thể nâng lên và hạ xuống theo chiều thẳng đứng trong khi nếu họ làm cho nó cánh nghiêng thì chúng sẽ tạo ra những lực đẩy không cân bằng và đưa máy bay đi theo 1 chiều hướng cố định.

Động cơ T700-IHI-401C2 của AH-64DJ (Ishikawajima-Harima Heavy Industries sản xuất theo giấy phép của General Electric), Căn cứ không quân Maizuru, Nhật Bản, ngày 16 tháng 7 năm 2016.

Khi rotor chính quay vòng, nó sẽ tác động 1 lực xoay lên toàn bộ chiếc máy bay. Nếu chỉ có vậy thì máy bay sẽ luôn xoay vòng vòng trên bầu trời nên người ta đã sử dụng 1 rotor thứ 2 để cánh trực thăng nhằm điều hướng cho nó. Rotor phía sau sẽ điều khiển cánh quạt nhỏ ở đuôi trực thăng theo chiều hướng ngược lại để chống lại lực xoay của rotor chính. Bằng cách thay đổi góc độ của cánh sau, phi công có thể điều khiển trực thăng bay theo bất cứ hướng nào họ muốn. Tuy nhiên, điểm đặc biệt của Apache là nó lại có tới 2 rotor phía sau và mỗi rotor này lại điều khiển 2 cánh.Những thế hệ Apache mới nhất sử dụng 2 động cơ trục tuabin T700-GE-701C do General Electric sản xuất với các họng xả được lắp cao sát 2 bên thân máy bay, T700-GE-701C là một loại động cơ cực mạnh có khả năng sản sinh ra 1700 mã lực. Mỗi động cơ này sẽ điều khiển 1 trục mà trục lại được kết nối vào 1 hộp số đơn giản. Hộp số sẽ thay đổi góc xoay một khoảng 90 độ để truyền tải năng lượng đến bộ truyền động. Đến lượt nó, bộ truyền động sẽ đẩy năng lượng đến rotor chính và 1 trục dài khác sẽ đưa nó về rotor sau. Những rotor của Apace được tối ưu hóa để cung cấp tốc độ, sự linh hoạt.. tốt hơn bất cứ những trực thăng truyền thống nào khác.

Cấu trúc trung tâm của mỗi cánh quạt sẽ chứa 5 thanh thép không rỉ gọi là xà dọc cánh. Tất cả các xà dọc cánh đều được bao bọc bởi 1 bộ khung làm từ sợi thủy tinh. Mỗi cánh xung quanh được bảo bọc bởi một lớp hợp kim chì vững chắc, trong khi đó mép trước được làm từ titanium. Nguyên nhân của việc sử dụng titanium là nhằm bảo đảm độ cứng của cánh, giúp nó trụ vững trước sức cản của những vật thể gần mặt đất như cây, bụi rậm, đất đá…, đặc biệt hiệu quả trong những chuyến bay thấp so với mặt đất. Động tác bay thấp so với mặt đất cực kỳ hữu hiệu trong việc lẩn tránh kẻ định và hạn chế bị tấn công. Khi thực hiện hành động bay này hoặc trong quá trình lơ lửng trên bầu trời thì thì cánh sau sẽ giúp ổn định trực thăng. AH-64 Apache có thể bay ở vận tốc tối đa 293 km/h, tầm bay 476 km và trần bay 6400 m ở tải trọng tối thiểu.[5]

Hệ thống cảm biến[sửa | sửa mã nguồn]

Hệ thống tìm kiếm và chỉ thị mục tiêu TADS AN/ASQ-170 và hệ thống cảm biến hồng ngoại nhìn trong đêm PNVS AAQ-11 được lắp đặt phía trước mũi của AH-64A.
Mũ phi công IHADSS.

AH-64 được thiết kế để chịu được các môi trường hoạt động khác nhau và có thể vận hành trong suốt cả ngày và đêm, trong nhiều điều kiện thời tiết nhờ hệ thống cảm biến và điện tử hàng không tiên tiến. Các hệ thống này bao gồm hệ thống tìm kiếm và chỉ thị mục tiêu TADS AN/ASQ-170, hệ thống cảm biến hồng ngoại nhìn trong đêm PNVS AAQ-11, định vị GPS, mũ phi công IHADSS, hệ thống tác chiến điện tử tích hợp AN/APR-39A (V), cảm biến cảnh báo radar AN/APR-48A, cảm biến cảnh báo laser AN/AVR-2, hệ thống gây nhiễu radar AN/ALQ-136 và hệ thống mồi bẫy đối phó với tên lửa đối không dẫn bằng hồng ngoại. Khi hoạt động trong điều kiện đêm tối,hệ thống cảm biến hồng ngoại nhìn trong đêm PNVS AAQ-11 (FLIR) sẽ nhận diện nhiệt độ của đối tượng nên chỉ cần có nhiệt độ là bạn chắc chắn sẽ bị nó phát hiện., thành phần quan trọng nhất của AAQ-11 là một camera hồng ngoại. Khi hoạt động, PNVS AAQ-11 chuyển động theo đầu của phi công với một góc ±90 độ theo chiều ngang và 20/-45 độ theo chiều lên xuống. FLIR Ngoài ra, khi hoạt động ban ngày thì 1 camera và kính thiên văn cũng sẵn sàng để phi công sử dụng.

Với mũ phi công IHADSS, phi công phụ/xạ thủ có thể điều khiển khẩu súng máy tự động M230 cỡ đạn 30 mm lắp bên dưới máy bay nhắm bắn mục tiêu chỉ với việc chuyển động đầu về mục tiêu đang quan sát. Khẩu M230 có thể được khóa cố định hướng về trướng hoặc được điều khiển thông qua hệ thống Target Acquistion & Designation System (TADS) AN/ASQ-170 được gắn phía trước mũi máy bay. Hiệu suất chiến đấu tiêu chuẩn của một xạ thủ trên AH-64 Apache thường tiêu diệt ít nhất 1 phương tiện hoặc 1 mục tiêu trong một loạt đạn 30 viên ở cự ly từ 800 đến 1200 m. Một hệ thống mới hơn là Arrowhead đã được Lockheed Martin phát triển thay thế cho TADS/PNVS và kể từ năm 2005 thì Arrowhead đã bắt đầu được trang bị trên những chiếc AH-64D của quân đội Mỹ.

Ở phiên bản AH-64D, một đỉnh tròn radarđã được lắp trên rotor cánh quạt chính. Bên trong đình tròn này là radar kiểm soát khai hỏa (FCR) AN/APG-78 Longbow, hệ thống khóa mục tiêu và radar đo giao thoa tần số (RFI). Radar AN/APG-78 Longbow có khả năng theo dõi cùng lúc 128 mục tiêu và xác định 16 mục tiêu nguy hiểm nhất, cho phép khai hỏa chỉ trong 30 giây. AN/APG-78 sử dụng sóng radio milimet nhận diện rõ nét hình khối của những vật thể như bộ binh, không quân, các tòa nhà xung quanh.. trong phạm vi phát sóng. Sau đó, những hình khối này sẽ được so sánh với cơ sở dữ liệu có sẵn về xe tăng, xe tải, máy bay... để từ đó nhận ra chủng loại của chúng để đưa ra vũ khí phù hợp. Thông tin về mục tiêu sẽ được máy tính tự động hiển thị lên màn hình cho phi công theo dõi.

Vào năm 2012, AH-64D được nâng cấp với hệ thống bắt mục tiêu trên mặt đất (GFAS) nhằm phát hiện và tấn công các nguồn hỏa lực trên mặt đất. GFAS gồm 2 cảm biến nhỏ được tích hợp trên 2 đèn chớp ở mũi máy bay. Cùng với các cảm biến có sẵn và camera hồng ngoại trên AH-64D, GFAS có thể xác định chính xác sự hiện diện của các mối đe dọa trên mặt đất ở khoảng cách thích hợp. GFAS có trường quan sát 120 độ và hoạt động hiệu quả ở tất cả điều kiện ánh sáng.[4][5][6]

Hệ thống bảo vệ[sửa | sửa mã nguồn]

Apache Apache có thể lẩn tránh kẻ thù bằng cách bay là là dưới mặt đất và núp vào những vật chắn. Ngoài ra, máy bay cũng được thiết kế để né tránh radar của quân địch. Nếu như phi công bắt được tín hiệu radar trên màn hình, anh ta sẽ ngay lập tức kích hoạt hệ thống gây nhiễu radar AN/ALQ-136 để đánh lạc hướng quân địch. Không chỉ có vậy, nếu kẻ thù trang bị tên lửa tầm nhiệt thì Apache cũng sẵn sàng giảm thiểu lượng nhiệt năng mà nó tỏa ra. Apache sẽ che dấu năng lượng của động cơ bằng cách lan tỏa lượng nhiệt ra không khí xung quanh máy bay. Khí thải đã được làm lạnh bằng phương pháp trên sau đó sẽ được đi qua 1 bộ lọc đặc biệt để hấp thụ hết nhiệt năng của nó. Những chiếc thuộc phiên bản AH-64D còn được trang bị bộ gây nhiễu hồng ngoại, hoạt động bằng cách phát ra nhiều tia hồng ngoại ở những tần số khác nhau, qua đó biến những chiếc tên lửa tầm nhiệt của quân địch trở thành vô dụng, triệt tiêu gần như hoàn toàn nguy cơ bị phát hiện.

Trong trường hợp bị tấn công, Apache vẫn phần nào trụ vững nhờ vào bộ giáp làm từ sợi Kevlar và vật liệu Polyacrylate nặng 1100 kg bao bọc quanh khung sườn máy bay. Buồng lái Apache được thiết kế theo tiêu chuẩn quân sự MIL-STD-1290 với mục tiêu giảm thiểu năng lượng chấn động khi rơi để giảm thiểu tối đa thiệt hại về người. Các khu vực xung quanh buồng lái được trang bị hàng loạt các lớp phủ cường lực và kính chống đạn, ngay cả ghế ngồi cũng được bổ sung áo giáp Kavlar, hấp thu xung lực và tăng khả năng sống sót cho phi công. Boeing cho biết đạn 12,7mm không thể xuyên thủng bất cứ thành phần nào của máy bay. Những chi tiết quan trọng như động cơ và rotor cánh quạt được thiết kế để có thể chịu được đạn 23 mm. Thùng nhiên liệu của máy bay có khả năng tự vá - ngăn nhiên liệu rỉ ra ngoài trong trường hợp bị bắn phá bởi các loại đạn.[5][6]

Tên lửa không đối đất AGM-114 Hellfire.
Mô hình của AGM-114M Hellfire II.
AH-64D phóng AGM-114M Hellfire II trong cuộc tập trận Đại bàng đỏ, Sa mạc Arizona, Mỹ.
Các binh sĩ Mỹ đang gắn quả đạn tên lửa AGM-114M Hellfire II vào bệ phóng của một chiếc AH-64D, Căn cứ Taji, Iraq, tháng 10 năm 2009.
Tổng số vũ khí AH-64 Apache có thể trang bị.

Vũ khí[sửa | sửa mã nguồn]

Tên lửa không-đối-đất AGM-114 Hellfire[sửa | sửa mã nguồn]

Vai trò chính của Apache trên chiến trường là loại bỏ những tấm “lá chắn” kiên cố của bộ binh phe địch, như những chiếc xe tăng, hay công sự kiên cố. Để có thể hủy diệt những mục tiêu như vậy, Apache đã được vũ trang tên lửa không đối đất đa nhiệm vụ, đa mục tiêu, dẫn hướng bằng laser AGM-114 Hellfire (Lửa địa ngục). AGM-114 được sản xuất bởi hãng Lookheed Martin và được quân đội Hoa Kỳ đưa vào sử dụng từ năm 1974. AGM-114 Hellfire có chiều dài 64 cm, đường kính 17,8 cm, sải cánh 33 cm, trọng lượng 45 kg. Nó sử dụng đầu nổ HEAT (đạn chống tăng dùng thuốc nổ mạnh) nặng 9 kg hoặc MAC (đạn phân mảnh) nặng 8 kg. Động cơ M120E1 sử dụng nhiên liệu rắn, cho tốc độ cận âm 425 m/s. Tầm hoạt động của tên lửa trong vòng 500m - 8.000m. AMG-114 có nguyên tắc hoạt động như máy bay thu nhỏ với những hệ thống máy tính dẫn đường, hệ thống lái và động cơ phản lực. Tất cả những hệ thống này hoàn toàn tách biệt với Apache và nằm trọn trong 1 quả tên lửa. Và đúng như tên gọi của nó, với một lượng chất nổ lớn chứa bên trong, cùng với đầu đạn có khả năng đâm xuyên cực cao, Hellfire có khả năng xuyên thủng qua những tấm thép dày hàng mét. Nghĩa là, ngay cả các loại xe tăng — bức tường kiên cố nhất cũng sẽ bị phá hủy trước sức công phá khủng khiếp này. Mỗi quả tên lửa Hellfire có giá 68.000 USD (thời giá năm 1996)

Mỗi chiếc Apache mang theo 4 ống phóng ở 2 bên cánh của nó, tức là 2 ống mỗi bên. Mỗi ống này lại mang được 4 quả tên lửa, nâng số Hellfire lên con số 16 quả. Trước khi phóng, mỗi tên lửa sẽ được dẫn đường trực tiếp từ máy tính chính trên trực thăng. Ngay khi lệnh được đưa ra, ống phóng sẽ sản sinh ra 1 lực khoảng 500 pound để đẩy tên lửa phóng về phía trước. Khi phóng ra thì gia tốc của tên lửa sẽ kích hoạt hệ thống khóa mục tiêu. Chỉ khi tiếp xúc với mục tiêu cần hạ gục thì đầu đạn mới được kích hoạt để bảo đảm uy lực lớn nhất. Việc kích hoạt đầu đạn được thực hiện bằng cảm biến va chạm.

Những quả AGM-114A Basic Hellfire nguyên thủy sử dụng hệ thống dẫn đường laser để bay đến mục tiêu. Khi này, Apache sẽ phóng ra những chùm tuy laser mật độ cao (hoặc bộ binh sẽ làm điều này) để dẫn đường cho tên lửa. Tất nhiên là Hellfire chỉ nghe lệnh những chùm tia được định rõ trước đó. Trước khi đưa ra lệnh bắn, máy tính của Apache sẽ báo chính xác cho hệ thống điều khiển của Hellfire những xung động của tia laser nhằm đảm bảo quân mình không trúng nhầm đạn của quân ta. Tia laser chỉ điểm sẽ phản xạ lại khi gặp đối thủ để cho chiếc mũi thính của Hellfire nhận diện. Khi đã biết địch ở đâu, hệ thống dẫn đường sẽ được kích hoạt, tính toán ra các hướng mà tên lửa phải bay để hạ gục. Trong trường hợp thay đổi, hệ thống dẫn đường sẽ ra lệnh cho bộ ổn định của tên lửa di chuyển, rất giống với cách mà máy bay điều hướng. Hệ thống dẫn đường bằng laser hoạt động rất hiệu quả nhưng người ta vẫn đưa ra thế hệ nâng cấp tiếp theo vì nó chưa thật hoàn hảo. Mây hoặc các chướng ngại vật hoàn toàn có thể chặn tia laser, làm cho nó không đến được mục tiêu. Hơn nữa, nếu tên lửa bay qua mây thì nó có khả năng mất tín hiệu với mục tiêu. Cuối cùng, nhược điểm quan trọng nhất là vật phát ra tia laser (Apache hoặc bộ binh) phải giữ nguyên tia đó cho đến khi tên lửa bay vào mục tiêu. Việc này đồng nghĩa với máy bay gần như không di chuyển, rất dễ bị tấn công. Những quả tên lửa không đối đất thế hệ mới AGM-114M Hellfire II dùng trên phiên bản AH-64D khắc phục những nhược điểm đó bằng cách sử dụng radar thay cho laser. Radar của trực thăng sẽ định vị mục tiêu và hướng dẫn cho tên lửa bay vào. Vì sóng radar không chịu ảnh hưởng của mây hay chướng ngại vật, do đó tên lửa sẽ dễ tìm đường hơn. Và do không cần phải giữ đèn laser chiếu vào mục tiêu, nên chiếc trực thăng cũng sẽ dễ dàng tìm chỗ ẩn nấp hơn.[5][7]

Một tên lửa không-đối-đất Brimstone được trưng bày tại Bảo tàng Không quân Hoàng gia London.

Tên lửa không-đối-đất Brimstone[sửa | sửa mã nguồn]

Tên lửa không-đối-đất Brimstone là trang bị tiêu chuẩn trên trực thăng AH-64E Guardian của Không quân Hoàng gia Anh (RAF). Dự án nghiên cứu - phát triển Brimstone được thực hiện bởi Liên doanh Matra BAe Dynamics (MBDA)-Boeing trong khuôn khổ chương trình AH-64E — Future Attack Helicopter Weapon (FAHW) của RAF. Brimstone bước vào một chương trình phát triển sản xuất trước năm 1996 và bắt đầu được sản xuất số lượng lớn vào cuối năm 2004.

Bề ngoài của Brimstone khá giống với tên lửa AGM-114 Hellfire của Mỹ, bởi vì Brimstone thực sự có nguồn gốc từ vũ khí Mỹ. Brimstone có trọng lượng nhẹ 48,5kg, dài 1,8m, đường kính thân 178cm, lắp động cơ đẩy nhiên liệu rắn cho tầm bắn 12km (nếu phóng từ trực thăng) và 20km (nếu phóng từ máy bay cánh cố định), mục tiêu rất có ít cơ hội thoát khỏi tầm ngắm của đạn tên lửa siêu thanh này. Theo MBDA, giá mỗi đạn tên lửa Brimstone vào khoảng 100.000 euro.

Dual Mode Brimstone là loại tên lửa dẫn đường 2 kênh, kết hợp radar sóng millimet và laser bán chủ động. Brimstone có thể phá hủy các mục tiêu kích thước nhỏ đang chạy với vận tốc hơn 100 km/giờ hay tấn công chính xác một mục tiêu trong đám đông mà gây rất ít ảnh hưởng tới dân thường xung quanh mục tiêu. Radar bước sóng millimet tần số 94Ghz, có khả năng hoạt động trong mọi điều kiện thời tiết, bất kể ngày đêm, trong điều kiện chiến trường bị ô nhiễm bởi khói bụi, pháo sáng hay các biện pháp đối phó khác. Trong khi đó hệ thống dẫn đường laser bán chủ động có sử dụng thùng treo chiếu xạ mục tiêu Litening giúp tên lửa tự bắt mục tiêu bằng đầu tự dẫn laser chủ động sóng mm để tấn công chính xác.

Brimstone là loại tên lửa chống tăng hoạt động theo nguyên lý “bắn-quên”, tên lửa được nạp sẵn dữ liệu mục tiêu, có khả năng tìm diệt mục tiêu trong một phạm vi nhất định. Trong quá trình tìm mục tiêu các bước sóng sẽ quét mục tiêu một cách trực tiếp và ngừng tìm kiếm mục tiêu khi vượt ra ngoài khu vực chiến sự. Điều đó sẽ giúp cho việc giảm bớt các nguy cơ thiệt hại không đáng có do Brimstone gây nên.

Brimstone lắp đầu đạn nổ nguyên khối có sức công phá lớn có cấu tạo kiểu tandem (2 tầng nổ) nặng khoảng 6,3kg kết hợp với động năng của tốc độ bay siêu âm, giúp cho việc phá hủy mục tiêu đạt được hiệu quả hơn, nhất là các phương tiện được bọc thép. Theo đánh giá của các chuyên gia, Brimstone có thể tấn công các xe tăng hiện đại hiệu quả gấp 3 lần so với loại tên lửa AGM-65G Maverick và gấp 7 lần so với bom chùm BL755, trong khi chỉ tạo ra thiệt hại nhỏ nhất đối với khu vực xung quanh. Bộ Quốc phòng Anh cho biết, trong tác chiến Brimstone đã chứng minh độ tin cậy và độ chính xác trên 90%.

Hughes M230 được lắp đặt phía bụng trước của trực thăng Fuji AH-64DJ thuộc Lực lượng Phòng vệ trên bộ Nhật Bản (JGSDF).
Một binh sĩ Không quân Mỹ đang nạp đạn M789 HEDP 30 mm vào băng đạn của khẩu súng máy tự động M230, tỉnh Khowst, Afghanistan, ngày 19 tháng 4 năm 2007.

Súng máy tự động Hughes M230[sửa | sửa mã nguồn]

Tên lửa không đối đất AGM-114 Hellfire và tên lửa Hydra.
Hệ thống tên lửa Hydra với các loại đầu đạn khác nhau trên một chiếc AH-64 Apache của Không quân Hoàng gia Hà Lan (RNAF).
Bệ phóng M261 của Fuji AH-64DJ, Trường huấn luyện không quân Kasumigaura, tỉnh Ibaraki, miền Đông Nhật Bản, ngày 20 tháng 5 năm 2012.

Để đối phó với những mục tiêu ở cự ly gần, Apache được trang bị một khẩu súng máy tự động Hughes M230 30mm. Súng máy Hughes M230 là vũ khí sử dụng năng lượng hỗ trợ bên ngoài để đẩy đạn đi và nạp đạn lên nòng thay vì tận dụng nguyên lý khí thuốc như một số loại vũ khí bộ binh khác. Loại vũ khí này được nghiên cứu - phát triển bởi Hughes từ những năm đầu thập niên 70 của thế kỷ trước và hiện nay được sản xuất bởi Alliant TECHSYSTEMS. Súng máy Hughes M230 được điều kiển bởi một hệ thống máy tính tối tân trong buồng máy. Máy tính sẽ di chuyển ụ lên xuống, trái phải nhờ vào hệ thống thủy lực. M230 được gắn trên một ụ súng và được lắp đặt phía bụng trước của trực thăng AH-64 Apache. M230 sử dụng 2 motor điện công suất 2 hp để đẩy các quả đạn cỡ 30 mm vào bệ khai hỏa. Một băng đạn của súng có thể chứa được 1200 viên. Hughes M230 chỉ mất 0,2 giây để có thể đạt tốc độ bắn 625 phát/phút và sau 1 phút bắn với tốc độ thực tế khoảng 300 phát/phút thì cần 10 phút để làm mát bằng không khí trước khi khai hỏa có hiệu quả. Súng có trọng lượng 55,9 kg, dài 1,6 m, rộng 254 mm, cao 300 mm. Sử dụng các loại đạn: M788 Target Practice (TP), M789 High Explosive Dual Purpose (HEDP), M799 High Explosive Incendiary (HEI). Những viên đạn của M230 có tính phát nổ rất cao, dùng để uy hiếp những mục tiêu trang bị giáp nhẹ. Tầm bắn hiệu quả là 1,500 m, tầm bắn tối đa là 4.500 m.[8]

Hệ thống tên lửa Hydra[sửa | sửa mã nguồn]

Để tránh trường hợp thành bia tập bắn di động khi hết đạn thì Apache thường được lắp đặt 2 bệ thống tên lửa M261 bên cạnh hệ thống tên lửa không-đối-đất AGM-114 Hellfire. Mỗi bệ phóng M261 chứa 19 chiếc tên lửa Hydra với kích thước khoảng 6-7cm mỗi chiếc. Hydra 70 cỡ 70 mm là một loại vũ khí có nguồn gốc từ Chương trình 2,75 inch Mk 4/Mk 40 Folding-Fin Aerial Rocket (FFAR) do Hải quân Hoa Kỳ phát triển từ cuối những năm 1940 và được chính thức đưa vào trang bị năm 1948. Các loại rocket Hydra 70 có cơ sở gần như liên quan đến mẫu bom Mk66 - một biến thể phát triển của bom 70 mm Mk40. Mk40 đã được sử dụng lần đầu tiên trong thời gian Chiến tranh Triều TiênChiến tranh Việt Nam, bắt nguồn từ lịch sử lâu dài trong lực lượng yểm trợ mặt đất.

Hai binh sĩ Thủy quân lục chiến (USMC) đang nạp đạn tên lửa Hydra vào bệ phóng LAU-68D/A của trực thăng AH-1W Super Cobra, Căn cứ không quân Al Asad, Iraq, ngày 5 tháng 11 năm 2007.

Mỗi lần khai hỏa, Apache có thể bắn riêng lẻ từng chiếc, hoặc xả hàng loạt cả chùm tên lửa. Khi đã ra khỏi bệ phóng, hai cánh ổn định lắp ở thân tên lửa sẽ bung ra giúp ổn định đường bay cho những chiếc tên lửa này. Động cơ Mk66 của Hydra có trọng lượng 6,2 kg; dài 1.060 mm; thời gian hoạt động 1,05 - 1,1 giây; cho tầm bắn hiệu quả 500 - 8.000 m, tối đa 11.000 m.

Trên thực tế, hệ thống tên lửa này có rất nhiều mục đích khác nhau, tùy thuộc vào thiết kế của đầu đạn. Có 6 loại chính: đầu đạn khói M264; đầu đạn chứa mũi tên M255A1; đầu đạn vạch sáng M257/ M278; đầu đạn nổ phân mảnh M151/ M229/ M156; đầu đạn luyện tập M274/ WTU-1/B và đầu đạn dẫn đường bằng laser APKWS (Advanced Precision Kill Weapon System).

Các so sánh giữa Mi-28N Night Hunter và АН-64D Apache Longbow[sửa | sửa mã nguồn]

Quân đội Liên Xô/Nga sử dụng loại trực thăng chiến đấu có vai trò tương tự là Mi-28. Cả hai máy bay trực thăng Mi-28N và AH-64 đều được thiết kế nhằm mục đích yểm trợ cho các binh đoàn bộ binh cơ giới trên chiến trường. Mi-28N cũng được thiết kế để sử dụng chiến đấu 24/24, ban ngày và ban đêm, trong mọi điều kiện thời tiết như AH-64.

  • AH-64 có hệ thống điện tử tại buồng lái hiện đại hơn Mi-28N cũng như Mi-28N có mũi nhỏ, dài hơn và buồng lái cũng chật chội hơn so với AH-64D[9] Tuy nhiên, Mi-28 có các khoảng trống để có thể chở thêm 2 hành khách (cho những phi vụ cứu nạn hoặc chở quân)[10]
  • Theo Aerospaceweb thì buồng lái AH-64 thì có thể chịu được cuộc tấn công của đạn 12,7mm[11], theo những nguồn khác thì khoang và cánh quạt AH-64 được thiết kế để chống được đạn 23mm bắn thẳng[12][13]. Ngày 24 tháng 3 năm 2003, 31 trực thăng Apache đã tham gia tấn công một Lữ đoàn thiết giáp gồm 90 xe tăng và hàng trăm xe cơ giới các loại của Vệ binh Cộng hòa Iraq gần Karbala. Binh sĩ Iraq khai hỏa các loại súng mà họ có, từ súng bộ binh như PKM, NSV cho tới pháo phòng không 23mm và 57mm, kết quả là 2 trực thăng rơi, 29 trực thăng còn lại quay trở về căn cứ đều bị hư hại nặng (2 chiếc bị hỏng nặng không thể sửa chữa)[14]. Một phi công Mỹ (trung úy Jason King) đã bị thương do đạn súng bộ binh AKM bắn trúng vào cổ nhưng không nặng và trở về đơn vị của mình một vài tuần sau đó, còn 2 phi công khác bị bắt sống.[15]
Mil Mi-28N Night Hunter.
  • Trong khi đó, theo Army-technology thì cánh quạt của Mi-28 có thể chịu được đạn 30mm[16] Chuyên gia quân sự người Nga Mikhail Mikhailovich Rastopshin tỏ ý nghi ngờ khả năng của Mi-28 khi cho rằng buồng lái bọc giáp của Mi-28 làm bằng các tấm hợp kim nhôm dày 10mm, trên đó gắn thêm các tấm gốm, ông cho rằng chỉ có thể chống được đạn 7,62mm bởi đạn 12,7mm của Nga có thể xuyên được thép dày 20mm ở cự ly 1.500 m.[17] Tuy nhiên, trang điện tử PopularMechanics đã đăng video các thực nghiệm của Liên Xô cho thấy thử nghiệm đạn 7.62mm cho tới 14.5mm bắn trực diện vào buồng lái Mi-28A (phiên bản đầu tiên của Mi-28) mà không xuyên thủng.[18] PopularMechanics suy đoán rằng kính chống đạn của Mi-28 phải có độ dày từ 1.7-2.1 inch (4,3 - 5,5 cm), loại kính này có thể làm bằng nhiều lớp kính và polycarbonate.[18] Video khác cho thấy đạn 7,62mm và 14,5mm chỉ làm mặt kính của Mi-28A bị rạn nứt còn khi dùng pháo ShVAK 20mm bắn ở cự ly rất gần thì mới có thể xuyên thủng vào trong buồng lái Mi-28A.[19]
  • AH-64 lại có tính cơ động và hiệu suất chiến đấu thấp hơn Mi-28N[cần dẫn nguồn]. Về động cơ thì trực thăng Mi-28 có động cơ mạnh hơn với 2 động cơ Vk-2500, công suất 2200 mã lực so với AH-64 cũng 2 động cơ, công suất 1.900 mã lực. Ngoài ra, trực thăng Mi-28N của Nga cũng mạnh hơn nhiều AH-64 về tải trọng vũ khí tối đa khi tác chiến (trực thăng AH-64 là 771 kg, của Mi-28N là 2.300 kg)[cần dẫn nguồn],
  • Tốc độ tối đa của Mi-28 là 324 km/h, nhanh hơn so với AH-64 là 293 km/h, bù lại AH-64 bay được xa hơn (1.900 km so với 1.100 km). Tuy nhiên bán kính chiến đấu Mi-28 chỉ hơn 200 km so với AH-64 Apache là 480 km. Độ bền khi hoạt động của AH-64D là 3 giờ 9 phút tỏ ra vượt trội so với Mi-28.
  • Mi-28 có các đặt tính bay ưu việt, đặc biệt là khả năng hoạt động hiệu quả tại những vùng khí hậu khắc nghiệt, các vùng núi cao.[20] Mi-28N là máy bay trực thăng duy nhất trên thế giới có thể thực hiện một chuyến bay tự động với địa hình uốn cong ở độ cao rất thấp từ 5 mét.[21]
  • Đạn pháo 30mm của AH-64 là 1.200 viên, nhiều hơn hẳn so với Mi-28 (250 viên), nhưng AH-64 không có khả năng mang bom, trong khi Mi-28 có khả năng mang các loại bom 250 và 500 kg để tiêu diệt những tòa nhà hoặc mục tiêu kiên cố[21][22].
  • AH-64D có vũ khí đa dạng và có thể thực hiện nhiệm vụ không đối đất và không đối không tầm thấp[20] Trong khi đó, Mi-28NE mới đây cũng có thể mang theo tên lửa không đối không R-73 để không chiến với mục tiêu bay thấp[23]
  • AH-64 được thiết kế để thực hiện tác chiến ở tuyến đầu, các cảm biến và hệ thống điện tử trên máy bay hoạt động vào ban đêm hoặc ngày, trong mọi điều kiện thời tiết bất lợi. Nó có hệ thống chỉ định mục tiêu/hệ thống tầm nhìn ban đêm (TADS / PNVS)[24] Apache có thể xác định vị trí 256 mục tiêu cùng một lúc trong vòng 50 km (31 dặm)[25] Mũ công tác của phi công có lắp màn hình hiển thị không gian chiến trường trong suốt tích hợp với kính ngắm mục tiêu (Helmet and Display Sighting System - IHADSS); hệ thống điều khiển súng tự động sẽ hướng nòng súng 30 mm M230 Chain Gun theo hướng nhìn phi công hoặc xạ thủ khi quan sát xung quanh hoặc theo dõi mục tiêu[26].
  • Mi-28 cũng có mũ bảo hiểm mới và hệ thống nhắm mục tiêu, giúp máy bay chiến đấu mọi thời tiết, có khả năng hoạt động ở bất kỳ thời gian trong ngày hay đêm.[27]. Mi-28N thì được tích hợp thêm một hệ thống tác chiến điện tử như trang bị radar bước sóng ngắn gắn trên đỉnh rotor, kết hợp với hệ thống camera cảm biến hồng ngoại Goes 521, TV/Flir điều khiển hỏa lực[28]
  • Về giá thành, Mi-28 có giá khoảng 12-20 triệu USD/chiếc, rẻ hơn 50% so với Apache (18-30 triệu USD/chiếc)[20] Phiên bản AH-64D Block III mà Mỹ bán cho Ấn Độ kèm theo 50 động cơ T700-GE-701D, 12 radar điều khiển hỏa lực AN / APG-78, 12 Radar giao thoa tần số AN / APR-48A, 812 tên lửa AGM-114L-3 Hellfire Longbow, 542 tên lửa AGM-114R-3 Hellfire II, 245 tên lửa Stinger Block I-92H, và 23 hệ thống chỉ định mục tiêu / Sensors nhìn đêm cho phi công, tên lửa đào tạo và tên lửa giả, đạn 30mm, bộ thu, mô phỏng, hệ thống định vị toàn cầu / hệ thống dẫn đường quán tính, thiết bị thông tin liên lạc, phụ tùng thay thế và sửa chữa; công cụ và thiết bị kiểm tra, thiết bị hỗ trợ, sửa chữa và hỗ trợ, đào tạo nhân lực và trang thiết bị đào tạo; các ấn phẩm và tài liệu kỹ thuật trong hợp đồng 1,4 tỷ USD cho 22 máy bay.[29] Để so sánh, Algeria sẽ trả 2,7 tỷ USD cho 42 Mi-28N, 6 máy bay trực thăng hạng nặng Mi-26T2 và nâng cấp 39 máy bay trực thăng Mi-8 cũ của Algeria lên chuẩn Mi-8AMTSh.[30]
  • Mi-28N được trang bị hệ thống thoát hiểm khẩn cấp cho phi công với ghế ngồi đặc biệt giúp tăng khả năng sống sót khi rơi với tốc độ 12m/giây[31]. Trong 2 lần rơi máy bay tại Nga năm 2011 và 2015 thì có 2 phi công thiệt mạng, 2 phi công khác đã sống sót[32][33] lần rơi máy bay Mi-28 tại Syria thì cả 2 phi công đều chết[34] trong khi lần rơi ở Nga vào tháng 8/2012 thì cả 2 phi công đều sống sót[35]. Trong khi đó, AH-64 không trang bị loại ghế này[36]. Có những trường hợp rơi AH-64 phi công vẫn sống sót như năm 2003 tại Baghdad, Iraq một AH-64 bị bắn rơi nhưng cả 2 phi công đều không bị thương[37], năm 2006 tại Qalat, Afghanistan một AH-64 bị rơi nhưng cả 2 phi công đều sống sót[38], năm 2007 tại Iraq một Apache AH-64 đã rơi sau khi bị cháy ở đông Baghdad nhưng cả 2 phi công đều an toàn[39], năm 2011 tại Afghanistan một AH-64D Longbow bị rơi tại tỉnh Paktika thì 1 thành viên phi hành đoàn tử vong[40]. Tuy nhiên, trong 6 vụ rơi AH-64 mới đây nhất (trong năm 2015-2016), cả 12 phi công AH-64 đều chết, không có ai sống sót[41][42][43][44][45][46]
  • AH-64 cũng như các máy bay trực thăng chiến đấu hiện đại khác (ví dụ như loại Ka-52 của Nga) đều có hệ thống điều khiển dự phòng nhưng Mi-28N lại không có. Do đó nếu phi công của Mi-28 thiệt mạng thì hoa tiêu không thể thay thế phi công tiếp tục vận hành máy bay nhưng AH-64 thì làm được.[47]
  • Mi-28 có các khoảng trống để có thể chở thêm 2 hành khách (cho những phi vụ cứu nạn hoặc chở quân)[10] AH-64 thì không có tính năng chở quân này.

Do nhiệm vụ chống tăng, AH-64 được thiết kế để đáp ứng các yêu cầu giảm thiểu chấn thương cho phi công khi xảy ra sự cố bằng cách tăng độ bền kết cấu, bánh đáp, ghế ngồi cũng như hệ thống nhiên liệu. Khung máy bay được bảo hộ và có hệ thống tự hàn kín ở bình nhiên liệu để chống đạn[24].

Hạn chế chính của Mi-28 là vũ khí chống tăng của nó là tên lửa 9M120 Ataka-V (AT-9 Spiral-2) có tầm bắn chỉ khoảng 8 km, không thể bắn trúng mục tiêu mà không đi vào khu vực phòng không của đối phương[48] Loại tên lửa AGM-114 Hellfire trên AH-64 Apache cũng có tầm bắn 8 km, nhưng phiên bản AGM-114L Longbow (ra đời năm 2000) là tên lửa thế hệ 3 dùng đầu tự dẫn radar có chế độ "bắn-quên" giúp trực thăng khai hỏa rồi lập tức rút lui trong khi tên lửa Ataka trên Mi-28NE chỉ là tên lửa thế hệ 2 sử dụng phương pháp dẫn bán tự động, buộc trực thăng phải đứng yên để dẫn bắn tên lửa tới mục tiêu, làm tăng nguy cơ vũ khí phòng không đối phương tiêu diệt Mi-28NE[48]. Ngoài ra Hellfire trên Apache có xác suất xuyên thủng giáp phản ứng nổ lên tới 0,8-0,9 và khả năng xuyên giáp 1.000 mm, bảo đảm xác suất diệt tăng-giáp cao còn tên lửa Ataka của Mi-28NE chỉ có xác suất vượt qua giáp phản ứng nổ là 0,5, loại tên lửa này được cho là không đủ khả năng xuyên thủng được giáp trước của xe tăng М1А2 phiên bản nâng cấp SEP. Tuy nhiê, từ năm 2015, Mi-28 có thể được trang bị loại tên lửa mới là Vikhr-1 (AT-16 Scallion)[49]. Theo báo Nga thì Vikhr-1 là loại tên lửa hoạt động theo nguyên lý "bắn và quên", tương đương với loại AGM-114L Longbow của AH-64 Apache nhưng có vận tốc nhanh hơn[50] Phiên bản Vikhr-1 có tầm bắn tới 12–15 km, gấp rưỡi Hellfire và loại JAGM của AH-64 Apache[51], tuy nhiên tầm bắn vào ban đêm giảm xuống còn 5–6 km. Về giá thành thì 9K121 Vikhr rẻ hơn rất nhiều (mỗi quả 9K121 Vikhr có giá 28.300 USD, so với Hellfire có giá 110.000 USD)[52]. Năm 2016, loại tên lửa 9K121 Vikhr này đã bắt đầu được Nga xuất khẩu ra nước ngoài[53] Tuy nhiên trên trang giới thiệu sản phẩm của Russian Helicopter hiện nay thì Vikhr hiện chỉ được trang bị cho dòng trực thăng Ka-50, Ka-52 còn danh sách vũ khí của Mi-28 hiện nay không có tên lửa Vikhr[54]

Xuất khẩu[sửa | sửa mã nguồn]

Người Nga cho rằng các trực thăng của mình nằm trong số những loại tốt nhất thế giới, thậm chí hoàn toàn không có địch thủ ngang tầm nhưng năm 2011, Ấn Độ đã quyết định mua 22 trực thăng АН-64D Apache Longbow chứ không phải loại Mi-28NE Night Hunter của Nga. Mi-28NE hoàn tất phát triển diễn ra vào thời kỳ sự tụt hậu của Nga so với phương Tây về công nghệ vô tuyến điện tử, vi điện tử, điện tử nano và máy tính tiếp tục tăng lên. Thiết bị điện tử đã trở thành một phần thiết yếu của vũ khí trang bị trên máy bay trực thăng, góp phần đáng kể vào hiệu quả của kiểm soát trinh sát và vũ khí.[48] Kết quả so sánh vũ khí trang bị và hệ thống avionics của Mi-28NE và АН-64D cho thấy kết quả nghiêng về phía trực thăng Mỹ. Sự lạc hậu của thiết bị làm gia tăng trọng lượng, kích thước của thiết bị và khiến Ấn Độ chọn loại trực thăng của Mỹ thay vì trực thăng của Nga[48]

Năm 2013, tại Iraq, Mi-28 đã giành chiến thắng trong gói mua trị giá 4,2 tỷ USD mua 38 trực thăng tấn công. 15 chiếc đầu tiên giao hàng vào 2013, 13 chiếc tiếp theo vào năm 2014, và 10 chiếc vào năm 2015. Quân đội Iraq cũng đẩy mạnh mua sắm các loại trực thăng khác của Nga như Ka-52 Alligator và Mi-35 Hind E. Iraq cũng mua 20 chiếc AH-64E, tuy nhiên theo nhận định của báo Đất Việt thì số lượng máy bay trực thăng Nga sẽ giữ vai trò chủ đạo tại Iraq trong thời gian tới.[55] Ông Khaled al-Obeidi, Bộ trưởng Quốc phòng Iraq khẳng định loại vũ khí Nga là hiệu quả nhất trong chiến đấu chống lại các phần tử ISIL. Theo ông, vũ khí Nga đã chứng minh là lựa chọn tốt nhất trong chiến tranh chống khủng bố và Mỹ không thể cung cấp được các loại thiết bị quân sự này: “Vũ khí Mỹ thường không thể chịu được các cuộc đối đầu dã chiến đang diễn ra trong khi Iraq lại cần số lượng lớn các loại vũ khí này”[56]

Chỉ tính tới năm 2013 AH-64 đã được sản xuất lên tới hơn 2.000 chiếc[57], trong đó một số lớn hàng trăm chiếc đã được xuất khẩu cho Ai Cập, Israel, Ấn Độ, Indonesia, Nhật Bản, Hàn Quốc, Hà Lan, Kuwait, Ả Rập Saudi, Qatar, Singapore, Trung Hoa Dân Quốc, Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhấtVương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland[1]. Trong khi đó, đối thủ Mi-28 ngoài quân đội Nga thì mới nhận được đơn hàng xuất khẩu cho không quân Algérie 42 chiếc, Iraq 48 chiếc, Kenya 16 chiếc, Venezuela 10 chiếc (tổng cộng 116 chiếc).[58][59][60] Tính tới tháng 4/2016 thì mới chỉ có 42 chiếc của Algeria và 12 chiếc của Iraq được giao[61] trong khi Không quân Nga có 81 chiếc[62]. Tổng cộng có 135 chiếc Mi-28 đã được sản xuất.

Lịch sử hoạt động[sửa | sửa mã nguồn]

Hoa Kỳ[sửa | sửa mã nguồn]

Apache được sử dụng trong chiến đấu lần đầu tiên là vào năm 1989 trong chiến tranh Panama. AH-64A Apache và AH-64D Apache đã đóng vai trò quan trọng trong một số cuộc chiến tranh ở Trung Đông, gồm Chiến tranh Vùng Vịnh, Chiến dịch Tự do bền vữngAfghanistan, và cuộc chiến tranh Iraq năm 2003. Các máy bay trực thăng Apache đã chứng tỏ là các thợ săn xe tăng tuyệt vời và cũng phá hủy hàng trăm các loại xe bọc thép (chủ yếu của quân đội Irắc). Trong thời gian 100 giờ tổng cộng 277 AH-64s đã tham gia tấn công phá hủy 278 xe tăng, nhiều xe bọc thép và xe cơ giới[63] mà chỉ mất 1 trực thăng nhưng phi công vẫn sống sót[cần dẫn nguồn].

Trong cuộc chiến tranh Iraq lần 2, AH-64 tiếp tục tham chiến. Lần này nó gặp phải một thất bại lớn ở Trận Karbala (2003). Phi đội 31 chiếc AH-64D của Trung đoàn 11 đã bị Lữ đoàn thiết giáp số 2 - Sư đoàn Medina của Iraq chặn đánh. Binh sĩ Iraq khai hỏa các loại súng mà họ có, từ súng bộ binh như PKM, NSV cho tới pháo phòng không 23mm và 57mm (thậm chí có 1 phi công Mỹ đã bị thương do AKMbắn trúng vào cổ nhưng không nặng và có thể quay lại đơn vị chỉ sau vài tuần[64]). Kết quả là 1 chiếc AH-64D bị bắn rơi, 1 chiếc đã rơi ngay khi xuất phát do phi công mất phương hướng, 29 chiếc khác đều bị hư hại nghiêm trọng (2 chiếc trong số đó bị hư hại nặng tới mức không thể sửa chữa lại), 16 bộ cánh quạt, 6 cánh đuôi, 6 động cơ và năm trục ổ đĩa bị hư hỏng không thể sửa chữa. Trong 31 chiếc AH-64D ban đầu, chỉ còn một chiếc duy nhất còn có thể cho phép bay tiếp[65]. 2 phi công Mỹ bị bắt sống[66] Phải mất một tháng sửa chữa cho đến khi Trung đoàn 11 sẵn sàng trở lại chiến đấu.[65]

Trong các chiến dịch quân sự vào tháng 3 và tháng 4/2003, tổng cộng đã có 7 chiếc AH-64 bị phá hủy[67]

Sau năm 2003, tiếp tục có thêm nhiều AH-64 bị bắn rơi hoặc bị tai nạn. Đã có những báo cáo tại Iraq có chiếc AH-64 bị bắn rơi do những vũ khí kiểu cũ như súng máy 12,7mm hoặc tên lửa vác vai SA-7 Grail[68] Ví dụ như ngày 16/1/2006, SA-7 đã bắn hạ 1 chiếc AH-64, giết chết cả 2 phi công[69]. Chiếc AH-64 bị hạ mang số hiệu 03-05395 là phiên bản AH-64D hiện đại (ra đời năm 1998)[70], trong khi SA-7 là loại tên lửa vác vai kiểu cũ (ra đời từ năm 1968).

Một chiếc AH-64 thực hiện nhiệm vụ hỗ trợ trên không tại Tikrit, Iraq ngày 24 tháng 2 năm 2006.

Đài Loan[sửa | sửa mã nguồn]

30 chiếc AH-64D

Tạp chí quốc phòng Kanwa Defense Review (Canada) bình luận cho rằng phi đội 19 trực thăng Apache là có đủ khả năng để tiêu diệt một sư đoàn xe tăng của Liên Xô, và 30 chiếc trực thăng chiến đấu Apache AH-64E mà Đài Loan mua của Mỹ đủ khả năng đánh bại 2 sư đoàn bộ binh Trung Quốc nếu phía Trung Quốc tiến hành một cuộc đổ bộ lên vùng lãnh thổ Đài Loan. Phía Trung Quốc chỉ có trực thăng WZ-10 và WZ-19 yếu hơn Ah-64, nhưng trực thăng Trung Quốc có lợi thế là đều sản xuất nội địa nên có thể được bổ sung nhanh chóng[71]

Israel[sửa | sửa mã nguồn]

45 Chiếc AH-64D

Trong cuộc chiến ngắn ngày năm 2006 chống lại quân Hezbollah ở Li-băng, Israel bị rơi mất 3 chiếc AH-64D, 1 chiếc do trục trặc và 2 chiếc do lỗi của phi công[72]

Anh[sửa | sửa mã nguồn]

Ấn Độ[sửa | sửa mã nguồn]

Không chiến[sửa | sửa mã nguồn]

Theo các nguồn tin của Nga thì năm 1999, AH-64D đã bị đánh bại trong không chiến bởi một chiếc Mi-35 (biến thể xuất khẩu của Mi-24) hoặc Mi-24V của Serbia. Chiếc Mi-35 này đã bắn hạ một trực thăng АН-64D và một trực thăng vận tải UH-60 Black Hawk của Mỹ tham gia vào chiến dịch giải cứu phi công chiếc tiêm kích F-16 bị bắn rơi. Đáng chú ý là thành tích này được lập trong một trận không chiến ban đêm, mặc dù Mi-35 vốn được sản xuất vào năm 1986 thua kém về trang bị so với chiếc АН-64D hiện đại bắt đầu được đưa vào sản xuất vào năm 1993. Ưu thế duy nhất của Mi-35 là các tên lửa chống tăng có điều khiển Shturm có tầm bắn 7 km. Ở đây, trang bị hiện đại của AH-64 đã làm hại chính nó. Chiếc Apache có radar nhìn vòng, Serbia đã phát hiện được bức xạ của radar này và bí mật tiếp cận theo phương vị đến cự ly 6.700 m và phóng 1 tên lửa Shturm. Sau khi tiêu diệt chiếc Apache, chiếc Mi-35 của Serbia đuổi theo và bắn hạ luôn chiếc UH-60.[73][74][75] Cũng theo nguồn của Nga, trong cuộc chiến này, vào ngày 26/4/1999, không quân Nam Tư đã tập kích vào 1 sân bay của NATO, phá hủy 9 chiếc AH-64 đang đậu trên sân bay[74]

Cũng theo bài báo từ VTB của Nga thì vào ngày 22/7/2002, một chiếc Mi-35 của Triều Tiên đã bắn hạ một chiếc АН-64 của Hàn Quốc, thắng lợi đã được xác nhận 100%. Ban đầu, Hàn Quốc phủ nhận việc trực thăng của mình bị bắn hạ và khẳng định rằng, nó rơi là do trục trặc của hệ thống bay bám địa hình. Tuy nhiên, các chuyên gia Mỹ đã tiến hành điều tra độc lập và phát hiện trong các mảnh xác chiếc Apache các thanh volfram được dùng làm mảnh sát thương ở tên lửa của Mi-35[73].

Thông tin về hai trận không chiến này không được bất kỳ nguồn nào khác xác nhận:

  • Theo Hoa Kỳ, chiếc AH-64 Apache duy nhất bị rơi trong cuộc chiến Kosovo ngày 27 tháng 4 năm 1999 trong khi bay huấn luyện tại Albania do một trục trặc ở rotor đuôi[76], không phải trên lãnh thổ Serbia và cũng không do Mi-35 bắn hạ.
  • Chiếc AH-64 Apache đầu tiên của Hàn Quốc chỉ được tiếp nhận vào ngày 8 tháng 6 năm 2016. Thời điểm năm 2002 Hàn Quốc không hề có Apache trong biên chế quân đội nước này.[77]. Trong khi đó Không quân Nhân dân Triều Tiên cho tới ngày nay cũng chưa hề có trong biên chế trực thăng Mi-35 mà chỉ có Mi-24 (phiên bản tiền thân của Mi-35)[78]

Các vụ trục trặc và tai nạn[sửa | sửa mã nguồn]

Apache đã gặp một loạt các sự cố khác nhau khi hoạt động kể từ khi được phát triển[cần dẫn nguồn]. Đa số các vấn đề trong tác chiến liên quan đến điều kiện môi trường như cát và khói[cần dẫn nguồn]. 56/95 phi công than phiền về việc các khẩu pháo trên máy bay bị kẹt đạn không thể hoạt động[cần dẫn nguồn]. Theo các phi công và nhân viên bảo trì thì hệ thống băng truyền đạn của máy bay gặp trục trặc khiến việc nạp đạn bị ảnh hưởng, nhất là khi cát vào khiến băng truyền bị kẹt. 81/167 phi công đã phản ánh là họ đã gặp một số vấn đề với độ tin cậy và độ chính xác. 56/98 phi công phàn nàn về hệ thống ngắm và hệ thống nhìn ban đêm dẫn đến khó khăn trong việc bay và xác định mục tiêu khi khói, bụi và cát làm cho hệ thống này bị nhiễu. Vấn đề này cũng gặp ở hệ thống tên lửa Hellfire khiến cho độ chính xác của loại vũ khí này bị giảm xuống khi hệ thống chỉ điểm laser bị che mờ khiến tên lửa không thể tìm mục tiêu. Thậm chí ngay cả hệ thống nhìn hồng ngoại cũng bị ảnh hưởng mạnh khi hình ảnh hiển thị không rõ ràng. Điều kiện thời tiết sa mạc đôi khi còn làm các hệ thống vũ khí trục trặc không thể hoạt động được[79].

Năm 2013, Đài Loan cho ngừng bay toàn bộ phi đội trực thăng chiến đấu Apache mới mua của Mỹ để kiểm tra sau khi nhận cảnh báo từ Washington về trục trặc của mẫu máy bay này. Sự việc xảy ra chỉ 5 ngày sau khi Đài Loan ra mắt phi đội trực thăng 6 chiếc nói trên trong một buổi lễ long trọng do nhà lãnh đạo Đài Loan Mã Anh Cửu chủ trì.[80] Vụ việc đã được xác định là do lỗi của phi công khi hạ thấp độ cao, không phải lỗi kỹ thuật của máy bay. Tai nạn khiến hai phi công bị thương nhẹ, nhưng những mảnh vỡ bắn ra đã không gây thương tích cho người dân nào.[81]

Tính đến tháng 8/2016, đã có 152 chiếc AH-64 bị phá hủy do tai nạn trong vận hành hoặc chiến đấu[82]. So với khoảng 2.000 chiếc AH-64 được chế tạo thì tỷ lệ thiệt hại là 7,6%

Các dạng khác[sửa | sửa mã nguồn]

Có hai dạng chính được sử dụng trong Lục quân Hoa KỳAH-64A (USAR và ARNG) và AH-64D.

AH-64A[sửa | sửa mã nguồn]

AH-64A là máy bay trực thăng tấn công sản xuất ban đầu. Phi hành đoàn ngồi song song trong một khoang bọc thép. Nó được trang bị hai động cơ turboshaft GE T700.Model A được trang bị với các phiên bản động cơ -701 đến năm 1990 khi các công cụ đã được chuyển sang phiên bản mạnh mẽ hơn-701C.

AH-64B[sửa | sửa mã nguồn]

Vào năm 1991 sau chiến dịch Bão táp Sa mạc, AH-64B là một nâng cấp đề nghị 254 AH-64A. Việc nâng cấp sẽ bao gồm lưỡi mới rotor, một hệ thống định vị toàn cầu (GPS), hệ thống định vị cải tiến và đài báo mới.

AH-64C[sửa | sửa mã nguồn]

Nguồn vốn bổ sung từ Quốc hội vào cuối năm 1991 dẫn đến một chương trình để nâng cấp những chiếc AH-64A đến một phiên bản AH-64B +. Thêm tài trợ thay đổi các kế hoạch nâng cấp lên AH-64C.Việc nâng cấp lên C sẽ bao gồm tất cả các thay đổi được bao gồm trong Longbow trừ radar mast gắn và phiên bản động cơ mới hơn -700C. Tuy nhiên, việc chỉ định C đã giảm sau năm 1993. Với những chiếc AH-64A nhận động cơ mới từ năm 1990, sự khác biệt duy nhất giữa phiên bản C và phiên bản D trang bị radar là radar, mà có thể được chuyển từ một máy bay khác; do đó đã quyết định chỉ đơn giản là chỉ định cả hai phiên bản "AH-64D".

AH-64D[sửa | sửa mã nguồn]

Các AH-64D Apache Longbow , được trang bị với một buồng lái kính và cảm biến tiên tiến, đáng chú ý nhất trong số đó là AN / APG-78 Longbow sóng radar milimet  kiểm soát hỏa lực (FCR) và hệ thống nhắm mục tiêu thu thập và Radar tần số giao thoa (RFI), nằm ​​trong một mái vòm nằm trên rotor chính.

AH-64E[sửa | sửa mã nguồn]

Xuất phát từ AH-64D Block III, năm 2012, được thiết kế lại trở thành AH-64E Guardian với cải thiện khả năng. AH-64E được cải thiện khả năng kết nối kĩ thuật số, Hệ thống phân phối thông tin chiến thuật, động cơ T700-GE-701D nhiều sức mạnh hơn, có khả năng điều khiển phương tiện bay không người lái UAV và thay đổi về càng hạ cánh.

AH-64F[sửa | sửa mã nguồn]

Các nước sử dụng[sửa | sửa mã nguồn]

Các thông số kỹ thuật (AH-64A)[sửa | sửa mã nguồn]

McDONNELL DOUGLAS AH-64 APACHE.png

Đăc điểm chung[sửa | sửa mã nguồn]

  • Phi hành đoàn: 2 phi công
  • Chiều dài chính: 17,73 m
  • Đường kính cánh quạt: 14,63m
  • Sải cánh: 5,227 m
  • Chiều cao: 4,64 m
  • Trọng lượng không tải: 5.165 kg
  • Tải trọng toàn bộ: 8.000 kg
  • Trọng lượng cất cánh tối đa: 9.500 kg
  • Công suất đẩy: 2 động cơ General Electric T700-701D, công suất 2.000 mã lực

Hiệu suất[sửa | sửa mã nguồn]

  • Tốc độ lớn nhất: 297 km/h (tốc độ hành trình 260 km/h)
  • Trần bay: 6.400m
  • Tầm chiến đấu: 480 km

Trang bị:[sửa | sửa mã nguồn]

AH-64D được trang bị một radar bước sóng milimet trên đỉnh của rotor chính, cung cấp khả năng phát hiện các mối đe dọa trong điều kiện tầm nhìn kém và các mục tiêu lộn xộn trên mặt đất. Hệ thống radar điều khiển hỏa lực sóng mm AN/APG-78 được đặt trên đỉnh cánh quạt có thể theo dõi đồng thời 128 mục tiêu và tấn công 16 mục tiêu nguy hiểm nhất.

Các cảm biến tìm kiếm và chỉ thị mục tiêu TADS AN/ASQ-170 được gắn phía trước mũi máy bay, ngoài ra, AH-64D còn có hệ thống tương thích với thiết bị chỉ thị mục tiêu trên mũ phi công và pháo 30mm. Mỗi lần phi công quay đầu, hệ thống TADS và pháo 30mm cũng quay theo. Hệ thống có khả năng xoay ± 120 độ theo chiều ngang và 30/-60 độ theo chiều thẳng đứng.

Cảm biến nhìn đêm dành cho phi công AH-64D là PNVS AN/AAQ-11, với thành phần quan trọng là một camera hồng ngoại. PNVS chuyển động theo đầu của phi công với một góc ±90 độ theo chiều ngang và 20/-45 độ theo chiều lên xuống.

Ngoài ra, AH-64D còn được trang bị hệ thống tác chiến điện tử tích hợp AN/APR-39A (V), cảm biến cảnh báo radar AN/APR-48A, cảm biến cảnh báo laser AN/AVR-2, hệ thống gây nhiễu radar AN/ALQ-136, hệ thống mồi bẫy đối phó với tên đối không dẫn bằng hồng ngoại.

Các máy bay trực thăng chiến đấu tương đương[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă http://www.worldwide-military.com/Military%20Heli's/Attack%20heli/Links/AH-64%20_Apache_EN.htm
  2. ^ “Modernizing the Army's Rotary-Wing Aviation Fleet”. Congressional Budget Office. Tháng 11 năm 2007. 
  3. ^ |publisher=Office Of The Under Secretary Of Defense (Comptroller)/ Chief Financial Officer |date=March 2014}}
  4. ^ a ă “Boeing AH-64 Apache”. 
  5. ^ a ă â b c “Trực thăng Apache, nỗi kinh hoàng của xe tăng”. 
  6. ^ a ă “Hughes AH-64 Apache”. 
  7. ^ “AGM-114 Hellfire”. 
  8. ^ “M230 chain gun”. 
  9. ^ [1]
  10. ^ a ă http://vietq.vn/truc-thang-tan-cong-tho-san-dem-mi-28nm-day-hua-hen-cua-nga-d65068.html
  11. ^ http://www.aerospaceweb.org/aircraft/helicopter-m/ah64/
  12. ^ Richardson, Doug và Lindsay Peacock. Combat Aircraft: AH-64 Apache. London: Salamander Books, 1992. ISBN 0-86101-675-0
  13. ^ “Sức mạnh đáng kinh ngạc của trực thăng Apache AH-64D”. 
  14. ^ Bernstein, Jonathan (2005). AH-64 Apache Units of Operations Enduring Freedom and Iraqi Freedom. Osprey Publishing. ISBN 1-84176-848-0 trang 51
  15. ^ Bernstein, Jonathan (2005). AH-64 Apache Units of Operations Enduring Freedom and Iraqi Freedom.Osprey Publishing. ISBN 1-84176-848-0 trang 49
  16. ^ http://www.army-technology.com/projects/mi28/
  17. ^ “Почему "Ночной охотник" проиграл "Длинному луку". 
  18. ^ a ă “Soviet Engineers Tested Bulletproof Cockpits—With People Inside the Cockpits”. 
  19. ^ “Russian helicopter Mi-28A armour testing video”. 
  20. ^ a ă â [2]
  21. ^ a ă “Vì sao trực thăng Mỹ Apache hoàn toàn 'lép vế' trước Mi-28N của Nga?”. infonet.vn. 18 tháng 5 năm 2015. Truy cập 28 tháng 10 năm 2015. 
  22. ^ http://vietnamnet.vn/vn/the-gioi/268387/-tho-san-dem--cua-nga-dang-so-toi-muc-nao-.html
  23. ^ http://danviet.vn/cong-nghe/tho-san-dem-mi-28ne-dai-kinh-dich-cua-sieu-truc-thang-apache-150335.html
  24. ^ a ă Richardson, Doug và Lindsay Peacock. Combat Aircraft: AH-64 Apache. London: Salamander Books, 1992. ISBN 0-86101-675-0.
  25. ^ “Apache Guardian set to deploy on May”. 
  26. ^ [3]
  27. ^ http://sputniknews.com/military/20150829/1026341817/mi28-night-hunter-attack-helicopter-helmet.html
  28. ^ http://congan.com.vn/quoc-te/quan-su/uy-luc-cua-truc-thang-tan-cong-mi-28n-at-chu-bai-cua-khong-quan-nga_16712.html
  29. ^ http://www.dsca.mil/major-arms-sales/india-support-direct-commercial-sale-ah-64d-block-iii-apache-helicopters
  30. ^ “Algeria orders 48 Russian helicopters plus 39 upgrades”. 
  31. ^ http://petrotimes.vn/uy-luc-tho-san-dem-mi-28n-ma-nga-dua-den-syria-369376.html
  32. ^ https://en.rian.ru/russia/20110215/162614408.html.  |tựa đề= trống hay bị thiếu (trợ giúp)
  33. ^ http://www.bbc.com/news/world-europe-33754767.  |tựa đề= trống hay bị thiếu (trợ giúp)
  34. ^ “Trực thăng tấn công Mi-28N của Nga rơi tại Syria, cả 2 phi công thiệt mạng”. 
  35. ^ http://todaysmilitary.ru/2016/04/23/mi-28n-hromoj-ohotnik-vspominaem-vse-katastrofy-neudachnogo-rossijskogo-boevogo-vertoleta/
  36. ^ http://www.pmulcahy.com/helicopters/us_attack_helicopters.htm
  37. ^ “Iraq: U.S. Central Command Says Apache Was Downed By Hostile Fire”. 
  38. ^ http://www.celebdirtylaundry.com/2008/amputee-combat-vet-daniel-mcconnell%E2%80%99s-inspiring-story/.  |tựa đề= trống hay bị thiếu (trợ giúp)
  39. ^ http://www.chinadaily.com.cn/world/2007-08/10/content_6022102.htm.  |tựa đề= trống hay bị thiếu (trợ giúp)
  40. ^ http://www.wmur.com/Marlborough-Soldier-Dies-In-Helicopter-Crash-In-Afghanistan/11844484.  |tựa đề= trống hay bị thiếu (trợ giúp)
  41. ^ https://www.armytimes.com/story/military/careers/army/2015/12/04/army-releases-names-aviators-killed-apache-crash-near-fort-campbell/76777748/
  42. ^ https://southfront.org/saudi-ah-64-apache-attack-helicopter-crashed-in-yemen-2-pilots-killed/
  43. ^ http://www.army-technology.com/news/newsus-armys-ah-64-apache-crashes-in-south-korea-kills-two-4735720
  44. ^ http://www.reuters.com/article/us-mali-un-netherlands-idUSKBN0MD2AZ20150317?feedType=RSS&feedName=worldNews
  45. ^ http://gulfbusiness.com/pilot-co-pilot-die-uae-military-copter-crash/#.V15nduAwi70
  46. ^ http://www.salon.com/2016/07/25/5_saudi_guards_killed_in_clashes_2_pilots_die_in_yemen/
  47. ^ “Ми-28Н «хромой» охотник: вспоминаем все катастрофы неудачного российского боевого вертолета”. 
  48. ^ a ă â b [4]
  49. ^ http://www.dtic.mil/cgi-bin/GetTRDoc?AD=ADA435109
  50. ^ https://in.rbth.com/economics/2015/04/08/kalashnikov_concern_successfully_overcoming_crisis_42477
  51. ^ http://www.aviastar.org/helicopters_eng/ka-52.php
  52. ^ http://www.military-today.com/missiles/vikhr.htm
  53. ^ http://sputniknews.com/business/20160427/1038713297/missiles-deliveries-kalashnikov.html
  54. ^ [5]
  55. ^ http://baodatviet.vn/quoc-phong/vu-khi/xe-tang-my-toi-ta-iraq-mua-truc-thang-nga-yem-tro-3055935/
  56. ^ http://baodatviet.vn/quoc-phong/vu-khi/nga-chuyen-giao-vu-khi-cho-iraq-ngay-truoc-mat-my-3294743/
  57. ^ “Apache Helicopters Roar Ahead”. 
  58. ^ “Russia delivers shipment of Mi-28N Night Hunter combat helicopters to Iraq”. 
  59. ^ http://www.the-star.co.ke/news/article-30773/kenya-buys-russian-gunships
  60. ^ http://www.laht.com/article.asp?ArticleId=354772&CategoryId=10717
  61. ^ “Mil Mi-28 (Havoc) Attack Helicopter (2009)”. 
  62. ^ https://drive.google.com/file/d/0B8iBvTb9gHXZWjZMb1BpLUFqdDQ/view?pref=2&pli=1.  |tựa đề= trống hay bị thiếu (trợ giúp)
  63. ^ Bishop, Chris. Apache AH-64 Boeing (McDonnell Douglas) 1976–2005.
  64. ^ Bernstein, p. 49
  65. ^ a ă Atkinson (2008), pp. 147-153
  66. ^ http://news.bbc.co.uk/2/hi/middle_east/2883043.stm
  67. ^ http://www.phoenix158.org/iraq/Documented%20Coalition%20Losses.cfm
  68. ^ http://www.defenseindustrydaily.com/American-AH-64D-Apache-War-Replacement-Contracts-05005/
  69. ^ http://abcnews.go.com/WNT/International/story?id=1515168
  70. ^ https://aviation-safety.net/wikibase/wiki.php?id=77137
  71. ^ http://thanhnien.vn/thoi-su/quoc-phong/30-truc-thang-apache-cua-dai-loan-de-dang-danh-bai-2-su-doan-trung-quoc-85206.html.  |tựa đề= trống hay bị thiếu (trợ giúp)
  72. ^ https://books.google.com.vn/books?id=Ela6DjyEBQwC&pg=PA122&lpg=PA122&dq=number+ah-64+lost+accident&source=bl&ots=hA37xXEJjl&sig=5kWzjJBy-0WbtdU9_W5Z-UEtlBE&hl=vi&sa=X&ved=0ahUKEwjNssDN2qXPAhUaTI8KHSkUDPQQ6AEIXjAJ#v=onepage&q=number%20ah-64%20lost%20accident&f=false
  73. ^ a ă “20 удивительных фактов о боевом вертолете Ми-24”. 
  74. ^ a ă http://rusila.su/2016/02/04/bili-byut-i-budut-bit/
  75. ^ http://www.eifgaz.ru/fedorov18-13.htm
  76. ^ "Repairs Planned For Army Helicopters". New York Press. 10 tháng 11 năm 1999.
  77. ^ “First AH-64 Apache Guardian arrives in South Korea for army”. 
  78. ^ “Korean People's Army Air Force. GlobalSecurity.org”. 
  79. ^ http://www.gao.gov/assets/160/151734.pdf
  80. ^ http://nld.com.vn/thoi-su-quoc-te/dai-loan-mua-phai-truc-thang-apache-lom-cua-my-2013121805137670.htm
  81. ^ “Trực thăng Đài Loan gặp tai nạn là do lỗi phi công”. 
  82. ^ https://aviation-safety.net/wikibase/dblist.php?AcType=H64

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]