AH-64 Apache

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Trực thăng AH-64 Apache của Mỹ

AH-64 Apachemáy bay trực thăng tấn công của Lục quân Hoa Kỳ, là thế hệ kế tiếp của máy bay trực thăng Bell AH-1 Cobra. Nó được thiết kế bởi hãng Hughes, sau đó được phát triển bởi hãng McDonnell Douglas và hiện tại được sản xuất bởi hãng Boeing.

AH-64 là loại máy bay trực thăng tấn công có 2 chỗ ngồi, được đẩy bằng 2 động cơ tua bin. Nó được trang bị một pháo M230 cỡ 30mm, đồng thời mang cả tên lửarốc két ở cánh phụ của nó.

AH-64 là loại máy bay trực thăng hiện đại vẫn đang được sử dụng hiện nay. Với thiết kế để có thể hoạt động ở mọi địa hình, nó có khả năng hoạt động cả trong ngày hay đêm và trong điều kiện thời tiết bất lợi phi công sẽ dùng mũ có hệ thống quan sát thuận lợi cho việc chiến đấu. Apache cũng được trang bị một số loại thiết bị điện tử hàng không mới nhất như Hệ thống thu nhận mục tiêu, Hệ thống nhìn đêm của phi công (TADS/PNVS), Hệ thống định vị vệ tinh toàn cầu (GPS).

Sự phát triển[sửa | sửa mã nguồn]

Lục quân Hoa Kỳ đã đưa ra một yêu cầu cho việc đề xuất vào năm 1972 đối với máy bay trực thăng tấn công phát triển (AAH). Từ 5 hãng sản xuất ban đầu là Boeing-Vertol, Bell, Hughes, Lockheed, và Sikorsky, các hãng cuối cùng được chọn là Hughes Aircraft (sau đó là Hughes Helicopters) và Bell. Chuyến bay đầu tiên của nó là ngày 30 tháng 9 năm 1975 nhưng nó đã không được sản xuất đến tận năm 1982 khi hợp đồng sản xuất được ký. Năm 1983, máy bay trực thăng đầu tiên đã nhào lộn ở Mesa, Arizona. Năm 1984, Hughes Helicopters đã được mua bởi McDonnell Douglas với giá 500 triệu USD.

Miêu tả[sửa | sửa mã nguồn]

AH-64 có hệ thống điện tử tiên tiến hơn Mi-28 cũng như Mi-28 có mũi nhỏ, dài hơn và buồng lái cũng chật chội hơn so với AH-64D[1]. Tuy nhiên buồng lái của Mi-28 có thể chịu được đạn 14,5mm[2] còn buồng lái AH-64 thì chịu được đạn 12,7mm[3] cũng như AH-64 lại có tính cơ động và hiệu suất chiến đấu thấp hơn Mi-28N. Về động cơ thì trực thăng Mi-28 có động cơ mạnh hơn với 2 động cơ Vk-2500, công suất 2200 mã lực so với AH-64 cũng 2 động cơ, công suất 1900 mã lực. Ngoài ra, trực thăng Mi-28N của Nga cũng nặng hơn AH-64 về tải trọng tải trọng tối đa khi tác chiến của trực thăng AH-64 là 771 kg, của Mi-28N là 2300 kg, tốc độ tối đa của Mi-28 là 324km/h còn AH-64 là 293km/h bù lại AH-64 bay được xa hơn. Đạn pháo 30mm của AH-64 là 1200 viên có thể nhiều hơn của Mi-28 nhưng Mi-28 có khả năng mang các loại bom 250 và 500 kg bù lại. Ngoài ra Mi-28N là máy bay trực thăng duy nhất trên thế giới có thể thực hiện một chuyến bay tự động với địa hình uốn cong ở độ cao rất thấp từ 5 mét[4].

Lịch sử hoạt động[sửa | sửa mã nguồn]

Hoa Kỳ[sửa | sửa mã nguồn]

Apache được sử dụng trong chiến đấu lần đầu tiên là vào năm 1989 trong chiến tranh Panama. AH-64A Apache và AH-64D Apache đã đóng vai trò quan trọng trong một số cuộc chiến tranh ở Trung Đông, gồm Chiến tranh Vùng Vịnh, Chiến dịch Tự do bền vữngAfghanistan, và cuộc chiến tranh Iraq năm 2003. Các máy bay trực thăng Apache đã chứng tỏ là các thợ săn xe tăng tuyệt vời và cũng phá hủy hàng trăm các loại xe bọc thép (chủ yếu của quân đội Irắc).

Một chiếc AH-64 thực hiện nhiệm vụ hỗ trợ trên không tại Tikrit, Iraq ngày 24 tháng 2 năm 2006.

Israel[sửa | sửa mã nguồn]

Anh[sửa | sửa mã nguồn]

Các dạng khác[sửa | sửa mã nguồn]

Có hai dạng chính được sử dụng trong Lục quân Hoa KỳAH-64A (USAR và ARNG) và AH-64D.

AH-64A[sửa | sửa mã nguồn]

AH-64A là máy bay trực thăng tấn công sản xuất ban đầu. Phi hành đoàn ngồi song song trong một khoang bọc thép. Nó được trang bị hai động cơ turboshaft GE T700.Model A được trang bị với các phiên bản động cơ -701 đến năm 1990 khi các công cụ đã được chuyển sang phiên bản mạnh mẽ hơn-701C.

AH-64B[sửa | sửa mã nguồn]

Vào năm 1991 sau chiến dịch Bão táp Sa mạc, AH-64B là một nâng cấp đề nghị 254 AH-64A. Việc nâng cấp sẽ bao gồm lưỡi mới rotor, một hệ thống định vị toàn cầu (GPS), hệ thống định vị cải tiến và đài báo mới.

AH-64C[sửa | sửa mã nguồn]

Nguồn vốn bổ sung từ Quốc hội vào cuối năm 1991 dẫn đến một chương trình để nâng cấp những chiếc AH-64A đến một phiên bản AH-64B +. Thêm tài trợ thay đổi các kế hoạch nâng cấp lên AH-64C.Việc nâng cấp lên C sẽ bao gồm tất cả các thay đổi được bao gồm trong Longbow trừ radar mast gắn và phiên bản động cơ mới hơn -700C. Tuy nhiên, việc chỉ định C đã giảm sau năm 1993. Với những chiếc AH-64A nhận động cơ mới từ năm 1990, sự khác biệt duy nhất giữa phiên bản C và phiên bản D trang bị radar là radar, mà có thể được chuyển từ một máy bay khác; do đó đã quyết định chỉ đơn giản là chỉ định cả hai phiên bản "AH-64D".

AH-64D[sửa | sửa mã nguồn]

Các AH-64D Apache Longbow , được trang bị với một buồng lái kính và cảm biến tiên tiến, đáng chú ý nhất trong số đó là AN / APG-78 Longbow sóng radar milimet  kiểm soát hỏa lực (FCR) và hệ thống nhắm mục tiêu thu thập và Radar tần số giao thoa (RFI ), nằm ​​trong một mái vòm nằm trên rotor chính.

AH-64E[sửa | sửa mã nguồn]

AH-64F[sửa | sửa mã nguồn]

Sự hoạt động[sửa | sửa mã nguồn]

Các thông số kỹ thuật (AH-64A)[sửa | sửa mã nguồn]

McDONNELL DOUGLAS AH-64 APACHE.png

Đăc điểm chung[sửa | sửa mã nguồn]

  • Phi hành đoàn: 2 phi công
  • Chiều dài chính: 17,73 m
  • Đường kính cánh quạt: 14,63m
  • Sải cánh: 5,227 m
  • Chiều cao: 4,64 m
  • Trọng lượng không tải: 5.165 kg
  • Tải trọng toàn bộ: 8.000 kg
  • Trọng lượng cất cánh tối đa : 9.500 kg
  • Công suất đẩy: 2 động cơ General Electric T700-701D, công suất 2.000 mã lực

Hiệu suất[sửa | sửa mã nguồn]

  • Tốc độ lớn nhất: 297 km/h (tốc độ hành trình 260 km/h)
  • Trần bay: 6.400m
  • Tầm chiến đấu: 480 km

Trang bị:[sửa | sửa mã nguồn]

AH-64D được trang bị một radar bước sóng milimet trên đỉnh của rotor chính, cung cấp khả năng phát hiện các mối đe dọa trong điều kiện tầm nhìn kém và các mục tiêu lộn xộn trên mặt đất. Hệ thống radar điều khiển hỏa lực sóng mm AN/APG-78 được đặt trên đỉnh cánh quạt có thể theo dõi đồng thời 128 mục tiêu và tấn công 16 mục tiêu nguy hiểm nhất.

Các cảm biến tìm kiếm và chỉ thị mục tiêu TADS AN/ASQ-170 được gắn phía trước mũi máy bay, ngoài ra, AH-64D còn có hệ thống tương thích với thiết bị chỉ thị mục tiêu trên mũ phi công và pháo 30mm. Mỗi lần phi công quay đầu, hệ thống TADS và pháo 30mm cũng quay theo. Hệ thống có khả năng xoay ± 120 độ theo chiều ngang và 30/-60 độ theo chiều thẳng đứng.

Cảm biến nhìn đêm dành cho phi công AH-64D là PNVS AN/AAQ-11, với thành phần quan trọng là một camera hồng ngoại. PNVS chuyển động theo đầu của phi công với một góc ±90 độ theo chiều ngang và 20/-45 độ theo chiều lên xuống.

Ngoài ra, AH-64D còn được trang bị hệ thống tác chiến điện tử tích hợp AN/APR-39A (V), cảm biến cảnh báo radar AN/APR-48A, cảm biến cảnh báo laser AN/AVR-2, hệ thống gây nhiễu radar AN/ALQ-136, hệ thống mồi bẫy đối phó với tên đối không dẫn bằng hồng ngoại.

Apache cũng gặp một loạt các sự cố khác nhau khi hoạt động kể từ khi được phát triển. Đa số các vấn đề trong tác chiến liên quan đến điều kiện môi trường như cát và khói. 56/95 phi công than phiền về việc các khẩu pháo trên máy bay bị kẹt đạn không thể hoạt động. Theo các phi công và nhân viên bảo trì thì hệ thống băng truyền đạn của máy bay gặp trục trặc khiến việc nạp đạn bị ảnh hưởng nhất là khi cát vào khiến băng truyền bị kẹt. 81/167 phi công đã càm ràm là họ đã gặp một số vấn đề với độ tin cậy và độ chính xác. 56/98 phi công phàn nàn về hệ thống nhắm và hệ thống nhìn ban đêm dẫn đến khó khăn trong việc bay và xác định mục tiêu khi khói, bụi và cát làm cho hệ thống này bị nhiễu. Vấn đề này cũng gặp ở hệ thống tên lửa Hellfire khiến cho độ chính xác của loại vũ khí này bị giảm xuống khi hệ thống chỉ điểm laser bị che mờ khiến tên lửa không thể tìm mục tiêu. Thậm chí ngay cả hệ thống nhìn hồng ngoại cũng bị ảnh hưởng mạnh khi hình ảnh hiển thị không rõ ràng. Điều kiện thời tiết sa mạc đôi khi còn làm các hệ thống vũ khí trục trặc không thể hoạt động được[5].

Các máy bay trực thăng chiến đấu tương đương[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]