Súng ngắn liên thanh

Súng ngắn liên thanh (hay súng ngắn tự động, tiếng Anh: machine pistol) là một loại súng ngắn có khả năng bắn tự động hoàn toàn, bao gồm cả các dòng súng tiểu liên kiểu súng ngắn và không có báng tỳ vai.[1]
Người Áo đã giới thiệu mẫu súng ngắn liên thanh đầu tiên trên thế giới được đưa vào thực chiến là khẩu Steyr Repetierpistole M1912/P16 trong thời kỳ Chiến tranh Thế giới thứ nhất. Người Đức cũng tiến hành thử nghiệm các dòng súng ngắn liên thanh bằng cách hoán cải nhiều loại súng ngắn bán tự động khác nhau sang chế độ bắn tự động hoàn toàn, mở đường cho sự phát triển của những khẩu súng tiểu liên thực dụng đầu tiên. Trong Chiến tranh Thế giới thứ hai, việc phát triển súng ngắn liên thanh phần lớn bị xem nhẹ để nhường chỗ cho quá trình sản xuất đại trà súng tiểu liên. Sau chiến tranh, việc phát triển súng ngắn liên thanh bị hạn chế và chỉ có một số ít nhà sản xuất thiết kế các mẫu mới với những mức độ thành công khác nhau. Khái niệm này cuối thể dẫn đến sự ra đời của dòng vũ khí tự vệ cá nhân (PDW).
Ngày nay, súng ngắn liên thanh không còn được sử dụng phổ biến như trước, do tính năng đặc trưng của chúng đã bị thay thế bởi các loại súng hỏa lực hiện đại hơn.
Lịch sử phát triển
[sửa | sửa mã nguồn]
Trong giai đoạn từ năm 1894 đến năm 1895, một phiên bản tự động hoàn toàn của khẩu Borchardt C93 đã được đem ra trình diễn trước quân đội Áo và Hoa Kỳ.[2]
Vào năm 1896, một mẫu súng ngắn bắn chọn chế độ bắn đã được cấp bằng sáng chế bởi nhà phát minh người Anh Hugh Gabbett-Fairfax.[3]
Bản thân Georg Luger cũng đã trình diễn một phiên bản ''hand mitrailleuse'' (súng máy cầm tay) được cải tiến từ một khẩu súng ngắn Luger thông thường tại các đợt thử nghiệm của Áo vào năm 1901.[2]
Vào tháng 2 năm 1914, Manuel và Everardo Navarro tại Celaya, Mexico đã được cấp bằng sáng chế cho một cơ cấu cải tiến khẩu súng ngắn Luger sang bắn tự động hoàn toàn. Một thanh đòn lò xo được gắn vào lẫy cản, cho phép súng bắn tự động bằng cách điều chỉnh vít vặn bằng tay cái. Khi khai hỏa ở chế độ tự động, súng sẽ bắn liên tục cho đến khi xạ thủ thả bộ phận chốt an toàn báng ra.[2]
Chiến tranh Thế giới thứ nhất
[sửa | sửa mã nguồn]Trong Chiến tranh Thế giới thứ nhất, một phiên bản súng ngắn liên thanh của khẩu Steyr M1912 với tên gọi Repetierpistole M1912/P16 đã được đưa vào sản xuất. Súng sử dụng hộp tiếp đạn cố định 14 viên được nạp bằng các kẹp đạn (stripper clip) 8 viên, báng tỳ vai có thể tháo rời và một cần gạt chọn chế độ bắn bán tự động/tự động hoàn toàn khá lớn nằm ở bên phải khung thân súng, ngay phía trên cò (gạt xuống là bắn bán tự động và gạt lên là bắn tự động hoàn toàn).[4] Súng bắn cỡ đạn 9×23mm Steyr, tốc độ bắn tự động hoàn toàn đạt khoảng từ 800 đến 1.000 phát/phút. Vũ khí này có trọng lượng khoảng 2,6 pound (~1,18 kg). Được giới thiệu vào năm 1916, đây được coi là một trong những mẫu súng ngắn có khả năng bắn tự động hoàn toàn đầu tiên trên thế giới. Chỉ có 960 khẩu M1912/P16 được chế tạo.
Một phiên bản tự động của súng ngắn Frommer Stop cũng đã được đem ra thử nghiệm, bao gồm cả một biến thể có tên gọi Doppelpistole (súng ngắn đôi) ghép hai khẩu súng lại với nhau và gắn ngược trên một chiếc giá ba chân.[5]
Vào năm 1916, Heinrich Senn tại Bern đã thiết kế một cơ cấu hoán cải khẩu súng ngắn Luger của Thụy Sĩ để bắn phát một hoặc tự động hoàn toàn. Cùng khoảng thời gian đó, Georg Luger đã trình diễn một mẫu súng ngắn liên thanh Luger tương tự, tạo cảm hứng cho Quân đội Đức phát triển các dòng súng tiểu liên về sau.[6]
Thập niên 1920–1930
[sửa | sửa mã nguồn]
Mẫu Mauser C96 được giới thiệu vào năm 1896 và là một trong những khẩu súng ngắn bán tự động thực dụng đầu tiên đạt được thành công lớn về mặt thương mại. Trong Chiến tranh Thế giới thứ nhất, người Đức đã tiến hành thử nghiệm các dòng súng ngắn liên thanh bằng cách hoán cải cả các khẩu C96 bán tự động dùng cỡ đạn 7,63mm Mauser lẫn 9 mm Parabellum sang bắn tự động. Vào cuối thập niên 1920, các nhà sản xuất súng Tây Ban Nha đã mở rộng ý tưởng này bằng cách giới thiệu các phiên bản sao chép chọn chế độ bắn của khẩu C96 sử dụng hộp tiếp đạn rời 20 viên. Đến đầu thập niên 1930, các kỹ sư của hãng Mauser cuối cùng cũng thực hiện bước đi tương tự và cho ra mắt biến thể Mẫu 1932 hoặc Mẫu 712 Schnellfeuer, sở hữu hộp tiếp đạn rời 20 viên và cơ chế chọn chế độ bắn cho phép khai hỏa tự động hoàn toàn với tốc độ 1.000 phát/phút.
Chiến tranh Thế giới thứ hai
[sửa | sửa mã nguồn]Trong Chiến tranh Thế giới thứ hai, việc phát triển súng ngắn liên thanh ít nhiều bị ngó lơ do các cường quốc lớn tập trung nguồn lực vào việc sản xuất đại trà súng tiểu liên. Biến thể Mauser Mẫu 1932 hoặc Mẫu 712 Schnellfeuer chủ yếu được sử dụng bởi các quân nhân thuộc lực lượng Waffen-SS (Đức Quốc xã).
Thập niên 1950–1960
[sửa | sửa mã nguồn]
Mẫu súng ngắn tự động Stechkin (APS) dùng cỡ đạn 9×18mm Makarov là một dòng súng ngắn liên thanh chọn chế độ bắn của Nga, được đưa vào biên chế quân đội Liên Xô năm 1951. Giống như khẩu Makarov — một mẫu súng ngắn quân dụng phổ biến khác của Liên Xô thời kỳ này, khẩu Stechkin sử dụng cơ chế nạp đạn bằng phản lực bắn lực lùi tự do đơn giản không có chốt khóa nòng và cơ cấu cò đôi/đơn. Điểm giúp Stechkin APS trở thành một khẩu súng ngắn liên thanh là nó có chế độ bắn tự động, được lựa chọn thông qua cần gạt chốt an toàn. Khi liên thanh hoặc bắn tự động hoàn toàn, khẩu súng ngắn này cần được lắp thêm báng súng bằng gỗ tỳ vai; nếu không, vũ khí sẽ nhanh chóng mất kiểm soát do độ nảy. Khẩu Stechkin ban đầu được thiết kế làm vũ khí phụ cho lính pháo binh và các kíp lái xe tăng, nhưng trên thực tế, nó lại rất được ưa chuộng trong hàng ngũ các lực lượng công an chính trị và cảnh sát hình sự. Nhiều đặc vụ KGB và GRU đặc biệt thích sử dụng Stechkin nhờ hỏa lực mạnh và hộp tiếp đạn dung lượng 20 viên.

Mẫu Škorpion vz. 61 là một khẩu súng ngắn liên thanh của Tiệp Khắc sử dụng cỡ đạn 7,65 mm hoặc .32 ACP, được phát triển vào năm 1959 và sản xuất từ năm 1961 đến năm 1979. Mặc dù súng được phát triển để phục vụ cho các lực lượng an ninh và đặc nhiệm, vũ khí này cũng được thông qua để trang bị trong Quân đội Tiệp Khắc, đóng vai trò là vũ khí phụ cá nhân cho các hạ sĩ quan, tài xế quân sự, thành viên kíp lái xe bọc thép và lực lượng đặc nhiệm. Việc sử dụng cỡ đạn .32 ACP có uy lực thấp hơn, kết hợp với một bộ phận giảm tốc độ bắn đặt bên trong báng súng (giúp duy trì tốc độ bắn ở mức hợp lý là 850 phát/phút với bệ khóa nòng tương đối nhẹ), giúp khẩu Skorpion dễ kiểm soát hơn khi bắn tự động hoàn toàn so với các thiết kế dùng đạn 9 mm Parabellum thông thường. Hiện nay, vũ khí này đang được lực lượng vũ trang của một số quốc gia sử dụng làm súng ngắn tiêu chuẩn. Khẩu Škorpion cũng được sản xuất theo giấy phép nhượng quyền tại Yugoslavia với định danh M84.
Mẫu Beretta M1951R được phát triển dựa trên khẩu súng ngắn Beretta M1951 dùng đạn 9 mm Parabellum và được sản xuất trong thập niên 1960 theo yêu cầu từ các lực lượng đặc nhiệm Ý. Sự khác biệt chủ yếu giữa bản M951R và bản M1951 nguyên bản nằm ở cần gạt chọn chế độ bắn gắn bên phải khung thân súng, cho phép bắn bán tự động hoặc liên tục — lần lượt được ký hiệu là "SEM" và "AUT". Ngoài ra, vũ khí này sở hữu phần bệ khóa nòng dày nặng hơn, một tay nắm phụ phía trước bằng gỗ có thể gập lại, nòng súng được kéo dài và hộp tiếp đạn dài hơn giúp nâng dung lượng lên thành 10 viên.
Thập niên 1970–1980
[sửa | sửa mã nguồn]
Các dòng súng MAC-10 và MAC-11 là những loại vũ khí được thiết kế trong thập niên 1970 hoạt động theo nguyên lý phản lực bắn lùi, sở hữu hộp tiếp đạn nằm trong tay cầm và một chốt chọn chế độ bắn. Khẩu MAC-10 sử dụng cỡ đạn .45 ACP có tốc độ bắn đạt 1.100 phát/phút, và phiên bản dùng đạn 9×19mm đạt từ 1.200 đến 1.500 phát/phút. Khẩu MAC-11 cũng có thể đạt tốc độ bắn từ 1.200 đến 1.500 phát/phút với cỡ đạn .380 ACP nhẹ hơn. Các mẫu súng này do Gordon Ingram và Tập đoàn Vũ khí Quân dụng (Military Armament Corporation) tại Mỹ thiết kế. Chúng từng được sử dụng trong các chiến dịch đặc biệt và nhiệm vụ bí mật tại Việt Nam cũng như bởi các đơn vị chống khủng bố của Brazil, trong đó hầu hết người sử dụng đều lắp thêm ống giảm thanh nhờ phần đầu nòng có ren ngoài. Mặc dù một số nguồn tài liệu gọi MAC-10 và MAC-11 là súng ngắn liên thanh,[7] các dòng súng này cũng thường được phân loại là súng tiểu liên cực gọn.

Do súng ngắn liên thanh rất khó kiểm soát khi khai hỏa ở chế độ tự động hoàn toàn, một số nhà sản xuất đã phát triển cơ cấu "bắn ngắt quãng" giúp bắn ra một loạt ba viên đạn thay vì một loạt dài liên tục. Mẫu súng đầu tiên áp dụng cơ chế này là khẩu Heckler & Koch VP70, với con số 70 đại diện cho năm ra đời là năm 1970. Đây là một mẫu súng ngắn sử dụng cỡ đạn 9 mm Parabellum, hộp tiếp đạn 18 viên, hoạt động theo cơ chế chỉ có cò đôi, có khả năng chọn chế độ bắn và sở hữu phần khung thân bằng polymer. Đây chính là khẩu súng ngắn khung polymer đầu tiên trên thế giới, ra đời trước cả dòng súng Glock 17. Bộ báng tỳ vai của súng được tích hợp sẵn cơ cấu chọn chế độ bắn phát một/loạt 3 viên, do đó súng chỉ có thể liên thanh 3 viên khi được gắn báng. Tốc độ bắn lý thuyết của súng khi liên thanh 3 viên lên đến 2.200 phát/phút. Bất chấp những tiềm năng lớn của VP70, mẫu súng này chưa từng được Quân đội Liên bang Đức (Bundeswehr) thông qua để đưa vào trang bị.

Vào năm 1976, một phiên bản rút gọn của khẩu Heckler & Koch MP5 dùng đạn 9 mm Parabellum đã được giới thiệu; mẫu MP5K (chữ K viết tắt từ chữ Kurz trong tiếng Đức nghĩa là "ngắn") được thiết kế để phục vụ cho các trận chiến cận chiến (CQB) bởi các lực lượng đặc nhiệm và các toán điệp vụ bí mật. Khẩu MP5K không có báng tỳ vai, đồng thời bộ phận bệ khóa nòng và hộp khóa nòng đã được rút ngắn ở phía sau. Việc bệ khóa nòng có trọng lượng nhẹ hơn đã dẫn đến tốc độ bắn cao hơn so với phiên bản MP5 tiêu chuẩn (đạt từ 900 đến 1.000 phát/phút so với 800 phát/phút). Phần nòng súng, cần kéo khóa nòng và ống bao ngoài của nó đều được làm ngắn lại, đồng thời một tay nắm phụ đặt dọc được sử dụng để thay thế cho bộ phận ốp lót tay tiêu chuẩn. Nòng súng kết thúc ngay tại phần chân của bệ đầu ruồi, điều này ngăn cản việc sử dụng bất kỳ loại thiết bị giảm giật hay giảm thanh đầu nòng nào.
Một mẫu súng ngắn liên thanh phổ biến khác cũng sử dụng hệ thống liên thanh ba viên là khẩu Beretta Model 93R dùng đạn 9 mm Parabellum. Được giới thiệu vào năm 1979, Beretta Mẫu 93R là một loại súng ngắn liên thanh chọn chế độ bắn được thiết kế dành cho lực lượng cảnh sát và quân đội. Nó cung cấp thêm hỏa lực mạnh mẽ trong một kích thước nhỏ gọn hơn, phù hợp cho các mục đích mang súng ẩn như bảo vệ yếu nhân (VIP), hoặc cho các hoạt động chiến đấu cận chiến như lục soát từng căn phòng. Một cần gạt chọn chế độ bắn và tay nắm phụ phía trước có thể gập lại cho phép súng bắn ra một loạt ba viên với mỗi lần bóp cò, đạt tốc độ bắn lý thuyết là 1.100 phát/phút. Các nhà thiết kế đã giới hạn súng ở chế độ liên thanh ba viên để xạ thủ dễ kiểm soát hơn. Súng cũng có thể được lắp thêm hộp tiếp đạn dung lượng 20 viên và một bộ báng tỳ vai bằng kim loại.[8]
Dòng súng Stechkin APS đã có một sự quay trở lại vào cuối thập niên 1970 khi các đơn vị lực lượng đặc nhiệm Spetsnaz của Nga tại Afghanistan sử dụng biến thể tích hợp ống giảm thanh APB cho các nhiệm vụ bí mật trong lòng địch suốt cuộc Chiến tranh Liên Xô–Afghanistan.
Khẩu Micro Uzi dùng đạn 9 mm Parabellum là một phiên bản thu nhỏ từ mẫu Uzi, được giới thiệu lần đầu vào năm 1983. Súng có chiều dài 460 mm (18,11 inch) khi mở báng, và chỉ dài 250 mm (9,84 inch) khi gập báng lại. Chiều dài nòng súng là 117 mm và sơ tốc đầu nòng đạt 350 m/s. Được sử dụng bởi lực lượng đặc nhiệm Isayeret của Israel và Cục Mật vụ Hoa Kỳ, dòng Micro-Uzi có sẵn cả hai phiên bản hoạt động theo cơ chế khóa nòng mở hoặc khóa nòng đóng. Vũ khí này được bổ sung thêm một khối trọng lượng bằng tungsten gắn trên bệ khóa nòng để làm giảm tốc độ bắn, nếu không thì một loại vũ khí có trọng lượng quá nhẹ như vậy sẽ hoàn toàn mất kiểm soát khi bắn tự động.

Khẩu Glock 18 dùng đạn 9 mm Parabellum là một biến thể chọn chế độ bắn của dòng Glock 17, được phát triển vào năm 1986 theo yêu cầu từ đơn vị chống khủng bố EKO Cobra của Áo. Mẫu súng ngắn liên thanh này sở hữu một cần gạt chọn chế độ bắn dạng lẫy xoay, được lắp đặt ở phía bên trái, nằm tại phần cuối các rãnh khía bám của bệ khóa nòng (gạt cần xuống dưới để bắn tự động liên tục, gạt lên trên để bắn phát một). Khẩu súng này thường được sử dụng cùng với hộp tiếp đạn dung lượng cao kéo dài 33 viên và có thể bắn khi gắn kèm hoặc không gắn báng tỳ vai. Tốc độ bắn của súng ở chế độ tự động hoàn toàn đạt khoảng từ 1.100 đến 1.400 phát/phút.
Thập niên 1990–2000
[sửa | sửa mã nguồn]
Được giới thiệu vào năm 1992, khẩu Steyr TMP (Taktische Maschinenpistole nghĩa là "súng ngắn liên thanh chiến thuật") là một loại súng ngắn liên thanh chọn chế độ bắn dùng đạn 9×19mm Parabellum do hãng Steyr Mannlicher của Áo chế tạo. Các loại hộp tiếp đạn rời dạng hộp có các tùy chọn dung lượng 15, 20, 25, hoặc 30 viên. Súng cũng có thể được lắp thêm một bộ ống giảm thanh.
Cũng được giới thiệu vào năm 1992, khẩu CZ 75 AUTOMATIC dùng đạn 9 mm Parabellum là phiên bản tự động hoàn toàn của dòng súng CZ 75. Súng sở hữu phần nòng dài hơn tích hợp ba lỗ thoát khí giảm nảy đầu nòng. Mẫu súng ngắn liên thanh này có một đường rãnh nằm ngang đặt ở phía trước vành bao cò súng, qua đó một hộp tiếp đạn dự phòng 16 hoặc 20 viên có thể được gắn ngược vào để sử dụng như một tay nắm phụ phía trước, giúp xạ thủ kiểm soát súng tốt hơn trong quá trình bắn tự động hoàn toàn.

Trong thập niên 1990, dòng súng Stechkin APS của Nga một lần nữa lại được đưa vào tái sử dụng, đóng vai trò là vũ khí dành cho các vệ sĩ bảo vệ yếu nhân (VIP) và cho các đội đặc nhiệm chống khủng bố giải cứu con tin vốn cần đến khả năng bắn tự động hoàn toàn trong các tình huống khẩn cấp.
Được phát triển trong giai đoạn thập niên 1990 và 2000, dòng vũ khí tự vệ cá nhân (PDW) — một loại vũ khí có kết cấu dạng súng tiểu liên nhỏ gọn có khả năng bắn ra loại đạn uy lực hơn với khả năng xuyên giáp tốt — đã bắt đầu thay thế vị trí của súng ngắn liên thanh để làm vũ khí tự vệ phụ cho các kíp pháo thủ, kíp lái xe tăng và phi công trực thăng. Được giới thiệu vào năm 2001, khẩu Heckler & Koch MP7 thường được gọi là một khẩu súng ngắn liên thanh, mặc dù về mặt kỹ thuật nó là một khẩu PDW. Khẩu MP7 sử dụng hệ thống trích khí hành trình ngắn piston như trên các mẫu súng trường tấn công G36 và HK416 của hãng H&K, thay vì áp dụng cơ chế phản lực bắn lùi truyền thống thường thấy trên các dòng súng ngắn liên thanh.[9] MP7 sử dụng các hộp tiếp đạn 20, 30 và 40 viên, bắn loại đạn chuyên dụng 4,6×30mm có thể xuyên thủng các lớp áo giáp chống đạn mềm. Nhờ vào việc sử dụng rộng rãi vật liệu polymer trong kết cấu chế tạo, MP7 nhẹ hơn nhiều so với các thiết kế cũ, trọng lượng súng chỉ nặng 1,2 kg (2,65 lb) khi đi kèm một hộp tiếp đạn 20 viên trống.
So sánh với súng tiểu liên cực gọn
[sửa | sửa mã nguồn]Ranh giới phân định giữa súng ngắn liên thanh và súng tiểu liên cực gọn rất khó để xác định một cách chính xác. Thuật ngữ "súng tiểu liên" thường dùng để chỉ các loại súng carbine bắn tự động hoàn toàn, nạp đạn bằng hộp tiếp đạn và được thiết kế để bắn cỡ đạn súng ngắn; trong khi thuật ngữ "súng ngắn liên thanh" (machine pistol) thường chỉ các loại vũ khí bắn tự động hoàn toàn được phát triển dựa trên nền tảng súng ngắn. Tuy nhiên, có rất nhiều mẫu vũ khí giao thoa và nằm trong cả hai danh mục này.
Một ví dụ điển hình là khẩu Škorpion vz. 61, vốn thường được gọi là súng tiểu liên. Mặc dù vậy, kích thước của súng lại đủ nhỏ gọn để bỏ vừa trong bao súng ngắn, do đó nó cũng thường xuyên được gọi là súng ngắn liên thanh. Các dòng MAC-10 và MAC-11 có thiết kế rất nhỏ gọn và được xếp vào cả hai nhóm tùy theo cách nhìn nhận về kích cỡ của chúng. Khẩu Steyr TMP (Tactical Machine Pistol - Súng ngắn liên thanh chiến thuật) cũng được gọi là một khẩu súng tiểu liên cực gọn.[10] Tương tự, mẫu súng Heckler & Koch MP5K của Đức cũng thuộc về cả hai phân loại.[11] Các dòng vũ khí tự vệ cá nhân (PDW) như Heckler & Koch MP7 cũng thường được gọi là súng ngắn liên thanh.
Sự khác biệt này còn bị làm mờ bởi thực tế là trong vài ngôn ngữ, thuật ngữ dùng để chỉ súng tiểu liên khi dịch thô theo nghĩa đen lại chính là "súng ngắn liên thanh"; ví dụ như chữ "MP" trong tên khẩu MP 40 của Đức là viết tắt của Maschinenpistole.
Những ý kiến phê bình
[sửa | sửa mã nguồn]

Súng ngắn liên thanh được coi là một loại vũ khí chuyên dụng với công năng tương đối hạn chế. Do sở hữu kích thước nhỏ nhưng lại có tốc độ bắn rất cao, súng ngắn liên thanh cực kỳ khó kiểm soát để bắn chính xác. Chính vì vậy, hầu hết các mẫu súng ngắn liên thanh đều được thiết kế đi kèm với một bộ báng tỳ vai có thể tháo rời. Một số mẫu như Heckler & Koch VP70 sẽ chỉ có thể bắn ở chế độ bán tự động khi tháo báng, do cơ cấu chọn chế độ bắn được tích hợp trực tiếp bên trong bộ báng này. Khẩu VP70 cũng áp dụng cơ chế giới hạn loạt bắn 3 viên với mục đích tương tự nhằm cải thiện khả năng kiểm soát súng. Khẩu Beretta 93R không chỉ sử dụng báng tỳ vai tháo rời và bộ giới hạn loạt bắn 3 viên, mà còn tích hợp thêm một tay nắm phụ phía trước có thể gập lại để giúp xạ thủ ghìm súng tốt hơn khi bắn tự động. Các mẫu MAC-10 và MAC-11 thường dùng ống giảm thanh nhằm giảm bớt độ nảy đầu nòng, trong khi nhiều thiết kế khác áp dụng kết cấu kết hợp giữa bộ giới hạn loạt bắn, tay nắm phụ phía trước, nòng súng có lỗ thoát khí và loa giảm giật đầu nòng.[cần dẫn nguồn]
Gunsite, một trung tâm huấn luyện sử dụng súng danh tiếng của Hoa Kỳ, đã quyết định loại bỏ nội dung huấn luyện bắn súng ngắn liên thanh ngay từ khi cơ sở này được thành lập vào năm 1976. Các chuyên gia tại đây tin rằng loại vũ khí này là "vũ khí của những tay súng tồi, chỉ hữu ích cho những binh lính thiếu huấn luyện hoặc có động lực chiến đấu kém"; họ tuyên bố rằng súng ngắn liên thanh "có uy lực không mạnh hơn một khẩu súng ngắn thông thường nhưng tính cơ động lại chẳng thể bằng một khẩu súng trường".[cần dẫn nguồn] Dù vậy, ngay cả những nhà phê bình từ Gunsite cũng thừa nhận rằng súng ngắn liên thanh vẫn phát huy tác dụng trong một số tình huống đặc thù, chẳng hạn như khi đột kích lên tàu địch trong điều kiện thiếu sáng hoặc khi đẩy lùi các toán địch đổ bộ boong tàu trong hải chiến.[cần dẫn nguồn] Vào thập niên 1970, nhà nghiên cứu vũ khí thuộc Hiệp hội Quốc tế các Trưởng Cảnh sát (IACP) David Steele từng phê bình gay gắt độ chính xác của MAC-10 khi ông mô tả cường điệu về dòng súng này rằng: "Nếu không có ống giảm thanh và chỉ dùng bộ báng dây thép lỏng lẻo tiêu chuẩn, tôi nghĩ cả hai mẫu súng của hệ MAC chỉ phù hợp để chiến đấu bên trong một bốt điện thoại.
Chuyên gia Walt Rauch lưu ý rằng: "...bất chấp làn sóng báo chí chỉ trích kéo dài suốt 50 đến 70 năm qua nhằm vào ý tưởng khai hỏa một khẩu súng ngắn tự động cầm tay" (khi các nhà phê bình cho rằng vũ khí này sẽ chỉ "quét đạn một cách vô tội vạ ra khắp xung quanh"), ông tin rằng các mẫu súng thuộc kỷ nguyên những năm 2000 như khẩu Glock 18 hoàn toàn có thể kiểm soát tốt và đạt độ chính xác cao khi bắn tự động.[12] Nhà nghiên cứu Leroy Thompson cũng nhận định rằng: "...súng ngắn liên thanh tương đối hữu ích khi sử dụng từ bên trong xe ô tô hoặc cấp phát cho các tài xế bảo vệ yếu nhân (VIP), giúp họ có một thứ vũ khí hiệu quả hơn đôi chút trong quá trình sơ tán dưới làn đạn địch".[13] Tuy nhiên, ông cũng nhấn mạnh thêm rằng súng ngắn liên thanh "...rất khó kiểm soát khi bắn tự động hoàn toàn", điều này đồng nghĩa với việc không có bất kỳ nhiệm vụ nào mà súng ngắn liên thanh làm được "...mà các loại vũ khí khác hiện nay không thể hoàn thành một cách hiệu quả hơn."[13]
Xem thêm
[sửa | sửa mã nguồn]Tham khảo
[sửa | sửa mã nguồn]- ↑ Wallace, James Smyth (2008). Chemical Analysis of Firearms, Ammunition, and Gunshot Residue. CRC Press. tr. xxiii. ISBN 978-1-4200-6966-2.
- 1 2 3 Görtz, Joachim; Sturgess, Geoffrey. The Borchardt & Luger Automatic Pistols.
- ↑ UK GB189617809A, Gabbett-Fairfax, Hugh William, "Improvements in the Firing Mechanism of Automatic and similar Fire-arms", được cấp 11 tháng 11 năm 1897
- ↑ Zhuk, A. B. (1995). Walter, John (biên tập). The Illustrated Encyclopedia of Handguns: Pistols and Revolvers of the World 1870 to 1995. N. N. Bobrov biên dịch. Greenhill Books, London. tr. 176.
- ↑ "Frommer M.17". firearms.96.lt. Truy cập ngày 19 tháng 6 năm 2023.
- ↑ "Maschinenpistole Senn (Luger conversion)". firearms.96.lt. Truy cập ngày 19 tháng 6 năm 2023.
- ↑ "MAC-10/MAC-11 Machine Pistol". Cheaperthandirt.com. Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 1 năm 2009. Truy cập ngày 5 tháng 11 năm 2009.
- ↑ Hogg, Ian V.; John Weeks (2000). Military small arms of the 20th century (ấn bản thứ 7). Iola, Wisconsin: Krause Publications. tr. 63–64. ISBN 978-0-87341-824-9.
- ↑ Cutshaw, Charles Q. (2003). "Heckler & Koch's cutting-edge compacts G36C and MP7 PDW: when less really is more". Guns Magazine.
- ↑ Hogg, Ian V.; John Weeks (2000). Military small arms of the 20th century (ấn bản thứ 7). Iola, Wisconsin: Krause Publications. tr. 99. ISBN 978-0-87341-824-9.
- ↑ Hogg, Ian V.; John Weeks (2000). Military small arms of the 20th century (ấn bản thứ 7). Iola, Wisconsin: Krause Publications. tr. 122–123. ISBN 978-0-87341-824-9.
- ↑ Rauch, Walt. "GLOCK 18". Remtek.com. Truy cập ngày 5 tháng 11 năm 2009.
- 1 2 Thompson, Leroy (tháng 10 năm 2010). "The Machine Pistol – Why Does It Even Exist?". S.W.A.T. Magazine. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 6 năm 2015.