Tiểu liên Thompson

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Súng tiểu liên Thompson
Submachine gun M1928 Thompson.jpg
Khẩu M1928A1 Thompson với nòng súng và tay cầm của phiên bản M1A1 Thompson
LoạiSúng tiểu liên
Quốc gia chế tạo Hoa Kỳ
Lược sử hoạt động
Phục vụ19281971 (quân đội Mỹ)
thập niên 1930-thập niên 1990 (các quân đội khác)
Sử dụng bởi Hoa Kỳ
 Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
 Cộng hòa Miền Nam Việt Nam
 Việt Nam
 Israel
 Đài Loan
 Trung Quốc
 Hàn Quốc
 Pháp
 Philippines
 Nhật Bản
 Brasil
 Anh Quốc
 Úc
 New Zealand
Cuộc chiến tranhChiến tranh thế giới thứ hai
Sự kiện Vịnh Con Lợn
Chiến tranh Triều Tiên
Chiến tranh Đông Dương
Chiến tranh Việt Nam
Nội chiến Lào
Nội chiến Campuchia
Nội chiến Trung Quốc
Chiến tranh biên giới Lào-Thái Lan
Cách mạng Cuba
Chiến tranh Việt Nam-Campuchia
Chiến tranh biên giới Việt-Trung, 1979
Xung đột Ả Rập-Israel
Lược sử chế tạo
Người thiết kếJohn T. Thompson
Năm thiết kế1917-1920
Nhà sản xuấtAuto-Ordnance Company
Birmingham Small Arms
Colt
Savage Arms
Giai đoạn sản xuất19211945
Số lượng chế tạoKhoảng 1,750,000 khẩu (bao gồm tất cả các biến thể của khẩu tiểu liên Thompson)
Các biến thểM1919 Thompson "Annihilator"
M1921 Thompson "Chicago Typewriter"
M1928 & M1928A1 Thompson
M1A1 Thompson
Thông số
Khối lượng10,8 lb (4,9 kg)
Chiều dài33,5 in (851 mm) (M1928A1)
32 in (813 mm) (M1A1)
nòng súng bình thường 10,5 in (267 mm)
gắn thiết bị giảm rung 12 in (305 mm)

Đạn.45 ACP
Cơ cấu hoạt độngBlowback
Tốc độ bắnM1919 Thompson;M1921 Thompson:900 phát/phút
M1928 &M1928A1 Thompson:800 phát/phút
M1A1 Thompson:755 phát/phút
Vận tốc mũi280 m/giây
Chế độ nạpBăng trống 50 viên(hoặc 100 viên.Mặc dù băng trống 100 viên không được Quân đội Mỹ chấp nhận sử dụng trong Thế Chiến thứ 2 vì nó quá nặng và việc nạp lại đầy băng đạn 100 viên cực kì tốn thời gian.Hơn nữa khi mà người lính dùng khẩu Thompson di chuyển thì băng 100 viên gây ra tiếng động lớn) (M1921 và M1928 Thompson)
Băng đạn thẳng 20 viên (M1928A1 Thompson)
Băng đạn thẳng 30 viên (M1A1 Thompson)

Súng tiểu liên Thompson do tướng John T. Thompson thiết kế và đi vào sản xuất hàng loạt từ năm 1921 với nhiều phiên bản khác nhau. Thompson là tiểu liên chính của cảnh sát Mỹ mãi cho tới khi nó bị thay thế bởi khẩu Heckler & Koch MP5 hiện đại hơn. Nó cũng xuất hiện với vai trò là súng tiểu liên chính của quân đội Mỹ trong Thế chiến thứ haiChiến tranh Triều Tiên. Nó cũng được nhiều nước đồng minh khác của Mỹ mua và sử dụng. Trong chiến tranh Đông DươngChiến tranh Việt Nam thì Thompson được nhìn thấy sử dụng hết sức rộng rãi.

Ưu điểm và nhược điểm của Thompson[sửa | sửa mã nguồn]

Hình ảnh của tướng John T. Thompson, "cha đẻ"của khẩu tiểu liên Thompson.

Khẩu súng này có nhiều ưu điểm: tốc độ bắn nhanh, thay đạn dễ dàng, bắn khá chính xác. Nhiều loại súng tiểu liên hiện đại thời nay vẫn dựa trên mẫu Thompson để sản xuất vì cơ cấu chốt khóa cơ bẩm của Thompson làm cho súng tản nhiệt nhanh.Điều này làm cho súng ít khi bị kẹt đạn vì quá nhiệt hơn những mẫu tiểu liên khác nhưng nó cũng bộc lộ một nhược điểm lớn là làm cho súng khá nặng. Do sử dụng đạn .45 ACP nên súng có khối lượng nặng hơn so với những mẫu súng tiểu liên dùng đạn 9mm như là: Sten, MP-40, MAT-49, MP5,... Thompson M1919 chính là mẫu súng tiểu liên Thompson sơ khai. Sau đó, đích thân tướng Thompson đã tiến hành cải tiến nó. Vào năm 1921, khẩu tiểu liên M1921 Thompson- phiên bản tiểu liên Thompson thật sự hoàn thiện đầu tiên đã được ra đời. Các nhân viên của FBI đã sử dụng nó để trấn áp bọn buôn rượu lậu, bọn gangster có vũ trang trong "Thời kỳ cấm rượu" ở Mỹ. Đến năm 1928, khẩu Thompson chính thức được đưa vào phục vụ trong biên chế của quân đội Mỹ. Quân đội Mỹ gọi mẫu Thompson phục vụ trong biên chế của mình là "M1928 Thompson". Khẩu M1928 Thompson dùng băng trống loại 50 viên. Băng này khá là nặng và việc nạp lại đầy đạn vào loại băng này cũng khá là khó khăn nên quân đội Mỹ thiết kế thêm hai loại băng đạn khác nhẹ nhàng và dễ nạp lại đầy đạn vào băng hơn cho khẩu Thompson là băng 20 viên và băng 30 viên. Phiên bản vừa có thể dùng băng thẳng và vừa có thể dùng băng trống của khẩu Thompson được gọi là M1928A1 Thompson.

Được xem là khẩu súng tiểu liên có liên quan mật thiết tới các hoạt động làm ăn phi pháp của các băng đảng gangster ở Mỹ trong thập niên 20, 30 của thế kỉ XX. Bằng chứng là trong một bộ phim hình sự năm 2009Public Enemies (Kẻ thù quốc gia), trong bộ phim này Johnny Deep vào vai một tên trùm xã hội đen khét tiếng có thật trong lịch sử nước Mỹ là John Dillinger, anh ta cùng đồng bọn lẫn cả những nhân viên FBI đều dùng súng "Tommy Gun" trong suốt bộ phim. Súng Thompson cũng có một mối quan hệ tốt với quân đội không lâu sau. Nó được sản xuất rộng rãi từ năm 1923 trở đi cho quân đội Mỹ với số lượng không nhỏ. Liên thanh là một trong những lợi thế và cũng đồng thời là điểm yếu của nó vì đôi khi khiến cho nòng súng bị quá nhiệt. Lực giật của súng sinh ra khi bắn cũng khá là cao, vì vậy nên khẩu M1928A1 được gắn thêm vào đầu nòng thiết bị giảm giảm giật-"Cutts compensator".Nhưng khi mà Quân đội Mỹ nhảy vào tham chiến trong Thế chiến thứ 2 thì có một rắc rối lớn xảy ra với khẩu M1928 Thompson là nó khá là đắt tiền và việc sản xuất hàng loạt khẩu súng này mất rất nhiều thời gian, công sức, cũng như là chi phí để sản xuất-điều này không thích hợp trong điều kiện sản xuất thời chiến. Vì vậy nên khẩu M1A1 Thompson ra đời. M1A1 Thompson là phiên bản tiểu liên Thompson do Quân đội Mỹ thiết kế lại từ khẩu M1928 Thompson để nó được đơn giản và tối ưu hóa hơn. Khẩu M1A1 Thompson có thể khai hỏa mà không cần có sự hỗ trợ từ "khóa chốt Blish". Khóa chốt Blish của khẩu Thompson có tác dụng chính là giúp súng có thể "delay" tốc độ bắn của súng cho vừa phải. Khẩu M1A1 Thompson nhanh chóng đồng hành với khẩu M1928 Thompson trên cả hai mặt trận: Mặt trận phía Tây (chống Nhật) và Mặt trận phía Đông (chống Đức quốc xã) của quân đội Mỹ. Sau khi Chiến tranh Triều Tiên kết thúc vào năm 1953 thì nó tiếp tục được nhìn thấy phục vụ trên tay của lính Mỹ trong vài năm đầu Chiến tranh Việt Nam (tính từ khi mà Quân đội Mỹ đổ bộ vào Đà Nẵng năm 1965) vì những khẩu M14 của họ được đánh giá là: đắt tiền và việc sản xuất mất tương đối là nhiều thời gian; công sức cũng như chi phí sản xuất thế nên là quân đội Mỹ vẫn duy trì việc sử dụng một vài mẫu súng cá nhân còn lại trong kho từ thời Thế chiến thứ 2 đã quá đỗi quen thuộc của họ như là: M1 Garand, M1 Carbine, M1918 Browning Automatic Rifle và đương nhiên không thể thiếu được hai khẩu tiểu liên .45 ACP huyền thoại: M3 Grease Gun và Thompson nhằm để bù đắp cho sự thiếu hụt của những khẩu M14 trong biên chế của Quân đội Mỹ ở Việt Nam. Cho đến năm 1969-khi mà khẩu M16 được sản xuất hàng loạt với số lượng lớn để cung cấp cho toàn bộ lính của Quân đội Mỹ thì lính Mỹ ở Việt Nam chuyển hẳn sang sử dụng M16. Và toàn bộ số vũ khí từ thời Thế chiến thứ hai (ngoại trừ những khẩu M3 được dùng bởi phi công trực thăng Mỹ làm vũ khí tự vệ tại chỗ vì nó có khối lượng nhẹ, nhiều đạn (32 viên) và nhỏ gọn. Khẩu M3 nhỏ gọn tới mức mà phi công trực thăng Mỹ có thể giấu nó ở ngay bên cạnh (hoặc ở bên dưới) ghế ngồi của họ trong buồng lái của chiếc trực thăng) đều được lính Mỹ bàn giao lại cho lính Việt Nam Cộng Hoà sử dụng lại.

Những điều nên biết về Thompson[sửa | sửa mã nguồn]

Thompson M1928 đã được xuất khẩu rộng rãi vì mục đích thương mại trước và sau khi Chiến tranh thế giới lần thứ hai. Súng Thompson M1928 đã được cung cấp cho AnhLiên Xô thông qua chương trình "Lend-Lease" của quân đội Mỹ bắt đầu từ tháng 9/1940 khi mà Mỹ bắt đầu viện trợ rất nhiều vũ khí, đạn dược cho đồng minh Anh trong cuộc chiến với phát xít Đức ở châu Âu. Sau này có thêm Liên Xô. Tuy nhiên Hồng Quân lại không thèm đếm xỉa đến khẩu súng này bởi vì đạn dược của nó không được phổ biến bằng loại đạn 7.62x25mm Tokarev, loại đạn mà súng tiểu liên PPSh-41PPS-43 sử dụng. So với PPSh-41 thì nó nặng hơn. Hơn nữa, tầm bắn hiệu quả của Thompson lại thua kém PPSh-41 nhiều lần (50 mét so với 200 mét). Sức xuyên phá của đạn .45ACP của khẩu Thompson cũng bị lính Liên Xô than phiền bởi nó thậm chí không thể xuyên thủng qua nổi lớp áo bông dày mà lính Liên Xô mặc trong mùa đông lạnh giá. Khẩu Thompson cũng không hoạt động được tốt cho lắm trong những điều kiện chiến đấu quá khắc nghiệt như nước, cát, tuyết và bùn - những thứ này thì Liên Xô có đầy trong mùa đông và mùa xuân.

M1928A1 và M1A1 được Mỹ chấp nhận trang bị làm súng tiểu liên chủ lực của Quân đội Mỹ và họ cũng mang nó viện trợ cho Liên Xô trong Chiến tranh thế giới thứ hai. Súng có dáng súng rất thành công khi hỗ trợ cả linh hoạt tầm gần và kiểm soát góc tầm trung, thích hợp cho việc chiến đấu ở cự ly gần. Nhưng súng dùng đạn.45 ACP, đầu đạn nặng, sơ tốc thấp, đường đạn kém, nên chỉ thích hợp với chiến đấu ở tầm rất gần. Súng có tốc độ bắn không được cao bằng PPSh-41, trọng lượng lên tới 4,9 kg (khi chưa nạp đạn) và chỉ có hộp tiếp đạn 30 viên, súng kém hơn cả PPSh-41MP-40 về tỉ lệ trọng lượng - tính năng. Hồng Quân gần như không đả động gì đến số súng Thompson được Mỹ viện trợ cho họ trong Thế chiến thứ 2.

M1928 Thompson được hải quân Hoa Kỳ sử dụng trong cuộc chiến ở Nicaragua ở Thái Bình Dương song song với quân đội Úc. Thompson được quân đội Hoa Kỳ sử dụng trong những năm đầu chiến tranh Việt Nam trước khi M16 ra đời, mặc dù với số lượng không nhiều bằng hai cuộc chiến trước đó của Quân đội Mỹ. Ở Hoa Kỳ, khoảng từ năm 1980 trở đi, súng Thompson của tất cả cảnh sátlính gác Mỹ đều được thay thế bằng khẩu tiểu liên MP5 hiện đại hơn do hãng Heckler and Koch (của Đức) thiết kế. Vậy nên là không còn lực lượng nào dùng Thompson ở Mỹ nữa. Và cho đến nay thì súng tiểu liên Thompson chỉ còn được nhìn thấy ở các viện bảo tàng, khu bắn súng giải trí, ... Một số khác thì lại được bàn giao lại cho những đoàn làm phim hay làm game về đề tài Thế chiến thứ hai hoặc Chiến tranh Đông Dương hay là Chiến tranh Việt Nam như là: Call of Duty (Các dòng Call of Duty lấy nội dung về thế chiến thứ 2 như CoD: 1, 2, 3, WaW, WW2), Medal of Honor, 7554. Rising Storm 2 Vietnam, Battlefield: Bad Company 2: Vietnam,...

Các quốc gia sử dụng[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]