Quân đội Hàn Quốc

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm
Quốc quân Đại Hàn Dân Quốc
대한민국 국군
大韓民國 國軍
Daehanminguk Gukgun
Flag of the Republic of Korea Armed Forces.svg
Quân kỳ
Thành lập15 tháng 8 năm 1948
&000000000000007300000073 năm, &0000000000000105000000105 ngày
Các nhánh
phục vụ
Flag of the Republic of Korea Army.svg Lục quân
Naval jack of South Korea.svg Hải quân
Flag of the Republic of Korea Air Force.svg Không quân
Flag of the Republic of Korea Marine Corps.svg Thủy quân lục chiến
Flag of the Republic of Korea Reserve Forces.svg Dự bị
Sở chỉ huyBộ Quốc phòng, quận Yongsan, Seoul
Lãnh đạo
Tổng tư lệnhSeal of the President of the Republic of Korea.svg Tổng thống Moon Jae-in
Bộ trưởng Bộ Quốc phòngCoat of arms of the Republic of Korea Army.svg Đại tướng Suh Wook
Tổng Tham mưu trưởng Liên quânRepublic of Korea Air Force emblem.png Đại tướng Won In-choul
Nhân lực
Tuổi nhập ngũ18
Cưỡng bách tòng quânHòa bình:
Bắt buộc từ 18-28 tuổi đối với nam giới
Chiến tranh:
Toàn bộ nam giới trong độ tuổi từ 18-40
Thời gian tại ngũ:
Giảm 18-22 tháng tùy theo binh chủng (2020-nay)
Số quân tại ngũTăng 555,000 (2020)[1]
Số quân dự bịTăng 2,750,000 (2020)[1]
Số quân triển khaiTăng 14 quốc gia, 1.038 đại đội (2020)[1]

Danh sách triển khai chính:

Phí tổn
Ngân sáchTăng 48 tỷ USD (2021)[2]
Phần trăm GDPTăng 2.7% (2019)[3]
Công nghiệp
Nhà cung cấp nội địa
Nhà cung cấp nước ngoài
Bài viết liên quan
Lịch sửTham chiến
Quân hàmCấp bậc quân sự của Hàn Quốc

Quốc quân Đại Hàn Dân Quốc (Hangul: 대한민국 국군, Hanja: 大韓民國 國軍, phiên âm: Daehan Minguk Gukgun, Hán-Việt: Đại Hàn Dân Quốc Quốc quân) hay Quân đội Hàn Quốc là lực lượng vũ trang chính quy của Hàn Quốc; được thành lập vào ngày 15 tháng 8 năm 1948 sau sự chiếm đóng và chia cắt bán đảo Triều Tiên bởi Liên XôHoa Kỳ.

Quân đội Hàn Quốc duy trì lực lượng lớn với số quân nhân năm 2018 là khoảng 3,7 triệu người (≈600.000 thường trực và 3.100.000 dự bị)[4], không phát triển vũ khí hủy diệt hàng loạt (như hạt nhân, sinh học, hóa học, nhiệt hạch,...) do đã ký kết các hiệp ước không phổ biến, cấm thử một phần cũng như cấm thử toàn diện. Nhiệm vụ chính hiện nay ngoài bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ của đất nước còn tham gia vào các hoạt động cứu trợ nhân đạo và phối hợp tác chiến cùng lực lượng gìn giữ hòa bình Liên Hợp Quốc.

Ngày nay, do chiến tranh Triều Tiên mới chỉ dừng lại ở tuyên bố ngừng bắn, chưa có hiệp ước hòa bình, bán đảo Triều Tiên vẫn đang trong trạng thái chiến tranh cùng những căng thẳng ngoại giao với Bắc Triều Tiên nên chính phủ Hàn Quốc tuyệt đối nghiêm khắc trong việc quy định yêu cầu công dân thực thi nghĩa vụ quân sự bắt buộc. Toàn bộ nam giới Hàn Quốc bất kể là ai đều phải tham gia thực hiện nghĩa vụ quân sự khi đến tuổi trưởng thành, không có ngoại lệ - trừ một số rất ít trường hợp đặc biệt được miễn hoặc đặc cách giảm thời gian tại ngũ theo quy định của Hiến pháp.

Theo Hiệp ước Phòng thủ chung Hàn – Mỹ được ký kết vào năm 1953, quân đội Mỹ duy trì sự hiện diện, đặt căn cứ quân sự đồng thời đưa toàn bộ lãnh thổ Hàn Quốc vào "Ô bảo vệ Hạt Nhân" cùng NATO, phần lớn châu Âu, Nhật Bản, Thổ Nhĩ KỳÚc, tiến hành các hoạt động tập trận chung, hỗ trợ đào tạo nhân lực, đảm bảo an ninh quốc phòng cho đồng minh Hàn Quốc. Bên cạnh đó, các đơn vị vũ trang trực thuộc Hải quân Hoa Kỳ đóng gần Hàn Quốc như Hạm đội 7 cũng sẵn sàng tham chiến cùng với lực lượng mặt đất trong trường hợp nước này bị tấn công xâm lược.

Ngày truyền thống của quân đội Hàn Quốc hay còn được biết đến với tên gọi Ngày Lực lượng Vũ trang là ngày 1 tháng 10 hàng năm.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Đại Hàn Quang phục Quân năm 1940 tại Trung Hoa Dân Quốc.

Quân đội Hàn Quốc bắt nguồn từ Đại Hàn Quang phục Quân, lực lượng dân quân được thành lập bởi chính phủ Lâm thời Đại Hàn Dân QuốcTrùng Khánh, Trung Hoa Dân Quốc vào khoảng những năm 1940 trong thời kỳ Nhật Bản chiếm đóng bán đảo Triều Tiên. Ngoài ra, nhiều binh sĩ trực thuộc Quốc Dân ĐảngMãn Châu Quốc có gốc là người Triều Tiên về sau cũng tham gia vào lực lượng.[5]

Sau khi Hàn Quốc độc lập khỏi Đế quốc Nhật Bản vào ngày 15 tháng 8 năm 1945, lực lượng quân cảnh cùng lực lượng Bảo vệ Bờ biển Hàn Quốc (do Đô đốc Sohn Won-yil cùng nhiều người khác tổ chức) được thành lập thông qua chính quyền quân sự Hoa Kỳ tại phía nam bán đảo Triều Tiên. Các lực lượng này về sau lần lượt phát triển thành Lục quân và Hải quân Hàn Quốc, sau này có thêm lực lượng Không quân - thành lập vào tháng 10 năm 1949.

Quân đội Hàn Quốc phát triển nhanh chóng trong giai đoạn sau của chiến tranh Triều Tiên do được Hoa Kỳ cùng Liên Hợp Quốc trang bị và huấn luyện. Sau chiến tranh, quân đội Hàn Quốc thiết lập liên minh quân sự với Hoa Kỳ cũng như ký kết Hiệp ước Phòng thủ chung[6]. Trong chiến tranh Việt Nam, quân đội Hàn Quốc đóng vai trò tích cực, là một trong những lực lượng chiến đấu chính cùng với Nam Việt Nam và Hoa Kỳ.

Trong những năm 1970, thông qua "Kế hoạch Yulgok" của chính quyền Tổng thống Park Chung-hee, Hàn Quốc bắt đầu xây dựng khả năng phòng thủ quốc gia tự cường[7]. Trong thời kỳ phát triển nhanh chóng của Hàn Quốc vào những năm 1980, quân đội nước này đã được hiện đại hóa toàn diện. Trong những năm 1990, các ngành công nghiệp quốc phòng của Hàn Quốc đã tự sản xuất được 70% các loại vũ khí, đạn dược, thông tin liên lạc, thiết bị, phương tiện, quần áo, vật tư cần thiết cho quân đội.[8]

Ngày nay, quân đội Hàn Quốc đang có các kế hoạch như giảm số lượng tướng lĩnh, lục quân, tăng biên chế không quân, hải quân, đơn giản hoá quy trình chỉ huy, mở rộng phạm vi tấn công[9][10] và từng bước tiếp nhận chuyển giao quyền chỉ huy đầy đủ từ lực lượng liên quân Hoa Kỳ - Hàn Quốc.[6][11]

Cơ cấu chỉ huy[sửa | sửa mã nguồn]

Tổng thống Moon Jae-in cùng các tư lệnh quân đội trong Ngày lực lượng vũ trang Hàn Quốc (2017).

Quyền chỉ huy các Lực lượng Vũ trang Hàn Quốc được quy định trong Hiến pháp. Theo đó, Tổng thống giữ vai trò là Tổng tư lệnh, kế tiếp là Bộ trưởng Bộ Quốc phòng - thường là một tướng bốn sao đã nghỉ hưu. Tổng thống và Bộ trưởng Bộ Quốc phòng chịu trách nhiệm về toàn bộ cơ sở quân sự, duy trì quyền kiểm soát dân sự đối với quân đội. Theo lệnh của Tổng thống, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng phụ trách các vấn đề quân sự và giám sát Chủ tịch Hội đồng Tham mưu trưởng liên quân cùng Tổng tham mưu trưởng của từng quân chủng.

Để phối hợp chiến lược quân sự với các vấn đề chính trị, Tổng thống có Hội đồng An ninh Quốc gia do Cố vấn An ninh Quốc gia đứng đầu.

Tham mưu trưởng liên quân bao gồm Chủ tịch Hội đồng tham mưu trưởng liên quân cùng các tướng lĩnh thuộc đủ 3 quân chủng. Chỉ huy hoạt động của các đơn vị chiến đấu cũng do Chủ tịch Hội đồng Tham mưu trưởng liên quân quyết định và chịu trách nhiệm.

Chủ tịch Hội đồng Tham mưu trưởng thường là một tướng hoặc đô đốc bốn sao. Chủ tịch Hội đồng Tham mưu trưởng trợ giúp Bộ trưởng Bộ Quốc phòng về quyền chỉ huy tác chiến và giám sát các đơn vị tác chiến của từng lực lượng vũ trang theo lệnh của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng. Chuỗi kiểm soát hoạt động này bắt đầu từ Chủ tịch Hội đồng Tham mưu trưởng Liên quân đến các tư lệnh của Lục quân, Hải quân và Không quân. Các tham mưu trưởng tương ứng của mỗi quân chủng có quyền quản lý hành chính đối với quân chủng dưới quyền chỉ huy của mình.[12]

Tuy nhiên, phía Hàn Quốc chỉ kiểm soát quân đội trong thời bình, nếu chiến tranh nổ ra, hiệp ước năm 1953 sẽ cho phép Mỹ nắm quyền chỉ huy toàn bộ các lực lượng quân sự Mỹ đóng tại đây cùng Hàn Quốc với một tướng bốn sao.[13]

Nghĩa vụ quân sự[sửa | sửa mã nguồn]

Nghĩa vụ quân sự bắt buộc ở Hàn Quốc bắt đầu được áp dụng kể từ năm 1957, yêu cầu công dân nam từ đủ 18 đến 28 tuổi phải nghiêm túc thực hiện[14][15]. Nữ giới không bắt buộc phải thực hiện nghĩa vụ quân sự nhưng họ có thể đăng ký tình nguyện làm sĩ quan, sĩ quan hậu cần, chuẩn úy hoặc hạ sĩ quan.[16] Tuy nhiên hiện nay, quốc gia này đang tranh luận xem có nên yêu cầu bắt buộc nhập ngũ đối với nữ giới hay không.[17]

Thời gian thực hiện nghĩa vụ quân sự bắt buộc khác nhau tùy theo quân chủng mà người đó phục vụ: thường là 18 tháng đối với lục quân hoặc thủy quân lục chiến, 20 tháng với hải quân và 21 tháng với không quân (thời gian nhập ngũ được dự báo sẽ giảm xuống còn 18-22 tháng vào năm 2022).[9] Hạ sĩ quan, chuẩn úy hoặc sĩ quan hậu cần là những người tình nguyện thì có thể phục vụ lâu hơn so với lính nghĩa vụ. Những nhân viên quân sự khác như công tác xã hội được bố trí phục vụ trong nhiều thời gian khác nhau. Sau khi nghĩa vụ quân sự hoàn thành, họ được tự động xếp vào danh sách dự bị.

Trốn nghĩa vụ quân sự ở Hàn Quốc tương đương với tội danh phản quốc. Những trường hợp cố tình gian lận để trốn nghĩa vụ quân sự thường sẽ phải nhận án phạt 18 tháng tù giam, lưu trữ lại vào hồ sơ hình sự đồng thời hứng chịu sự kỳ thị của xã hội - đặc biệt đối với những người nổi tiếng.

Quân chủng[sửa | sửa mã nguồn]

Lục quân[sửa | sửa mã nguồn]

Xe chiến đấu bộ binh K-21
Xe tăng nội địa K2 Báo Đen
Pháo phản lực bắn loạt K239 Chunmoo
Pháo tự hành nội địa K9 Thunder

Lục quân Hàn Quốc (ROKA) là lực lượng có quy mô lớn nhất so với các chi nhánh khác với khoảng 464.000 nhân viên quân sự chuyên nghiệp và bán quân sự tính đến năm 2019, 2/3 trong số đó đóng quân ở tiền tuyến gần DMZ.

ROKA ước tính hiện có khoảng 2.500 xe tăng đang hoạt động[18], bao gồm cả những mẫu được thiết kế, lắp ráp và sản xuất nội địa như K1 88 và đặc biệt là K2 Báo Đen - một trong những mẫu xe tăng hiện đại cũng như có giá thành đắt đỏ bậc nhất trên thế giới hiện nay[19][20], tạo thành 'xương sống' cho lực lượng tăng thiết giáp và bộ binh cơ giới kết hợp cùng một kho vũ khí lớn bao gồm nhiều hệ thống pháo các loại với khoảng 1.700 pháo tự hành K55, K9 Thunder, pháo phản lực bắn loạt K136, K239, thiết giáp K200, xe chiến đấu bộ binh "lưỡng cư" K21 đặc biệt với khả năng tiêu diệt trực thăng[21]. Quân đội Hàn Quốc cũng đang chú trọng vào phát triển và hoàn thiện các loại Robot quân sự với công nghệ tự động hóa cùng quá trình điều khiển có sự hỗ trợ của lực lượng tác chiến điện tử nhằm chiến đấu, tiêu diệt mục tiêu hoàn toàn bằng trí tuệ nhân tạo[22][23], ví dụ như pháo binh Robot I-UGV - một sản phẩm hợp tác với tập đoàn vũ khí Hanwha Defense - có thể nghe tiếng súng địch để khóa mục tiêu.[24]

Lục quân Hàn Quốc trước đây được tổ chức thành 3 tập đoàn quân sự bao gồm: Tập đoàn quân số 1 (FROKA), Tập đoàn quân số 3 (TROKA) và Bộ tư lệnh tác chiến số 2, mỗi tập đoàn đều có hệ thống sở chỉ huy, quân đoàn cùng các sư đoàn riêng. Tập đoàn quân số 3 chịu trách nhiệm bảo vệ thủ đô Seoul và khu vực phía tây đất nước. Tập đoàn quân số 1 chịu trách nhiệm phòng thủ phần phía đông trong khi Bộ chỉ huy tác chiến số 2 phụ trách bảo vệ ngay phía sau.

Theo kế hoạch tái cơ cấu nhằm giảm bớt tình trạng dư thừa, Tập đoàn quân số 1 và 3 sẽ được hợp nhất thành Bộ chỉ huy tác chiến số 1, trong khi quân đoàn số 2 được chuyển đổi thành Bộ chỉ huy tác chiến số 2. Cơ cấu quân đội mới sẽ bao gồm Bộ Tư lệnh Lục quân, Bộ Tư lệnh Hàng không và Bộ Tư lệnh Tác chiến Đặc biệt - với 9 quân đoàn, 36 sư đoàn, khoảng 464.000 quân nhân, 5.850 xe tăng và xe bọc thép, 11.337 hệ thống pháo, 7.032 hệ thống phòng thủ tên lửa, 13.000 đặc nhiệm cùng các hệ thống tác chiến hỗ trợ[25]. Ngoài ra, 47 sư đoàn hiện nay được dự báo sẽ giảm xuống còn 28 trong tương lai gần.

Hải quân[sửa | sửa mã nguồn]

Tàu khu trục tên lửa dẫn đường lớp Sejong Đại đế
Tàu ngầm diesel-điện lớp Son Won-il
Tàu tấn công đổ bộ lớp Dokdo

Hải quân Hàn Quốc (ROKN) được đánh giá là lực lượng hải quân lớn thứ 8 trên thế giới[26][27][28]. Tổ chức này có khoảng 70.000 nhân viên chính quy trong đó 29.000 là lính thủy đánh bộ, khoảng 150 tàu chiến và 70 máy bay các loại, do Bộ chỉ huy Hải quân phụ trách, Hạm đội quốc gia là cơ quan chỉ huy cao nhất và Cục trưởng Tác chiến Hải quân là sĩ quan cao cấp nhất.

Từ những năm 1990, Hải quân Hàn Quốc đã bắt đầu xây dựng các hạm đội vượt biển để bảo vệ các tuyến đường liên lạc trên biển của nước này. Trong thời kỳ cầm quyền của Tổng thống Kim Young-sam, ông ban hành kế hoạch đóng tàu dài hạn cho lực lượng hải quân viễn dương. Tới đầu thế kỷ 21, Hải quân Hàn Quốc đã hạ thủy nhiều tàu khu trục cùng tàu chiến lớn cũng như được trang bị tốt hơn. Năm 2002; hạ thủy ROKS Chungmugong Yi Sun-shin - tàu khu trục 4.500 tấn, năm 2005; hạ thủy tàu đổ bộ ROKS Dokdo 14.000 tấn, năm 2006; hạ thủy ROKS Sohn Won-yil - tàu ngầm diesel-điện lớp 214 nặng 1.800 tấn với hệ thống đẩy AIP, năm 2007; hạ thủy các tàu khu trục lớp Sejong Đại đế được trang bị hệ thống tác chiến Aegis,...

Để hỗ trợ các hoạt động trên biển, Hải quân Hàn Quốc đã đưa vào vận hành ROKS Soyang - tàu hỗ trợ tấn công nhanh 10.000 tấn và hạ thủy Dosan Ahn Chang-ho - tàu ngầm diesel-điện nặng 3.000 tấn đầu tiên được sản xuất hoàn toàn nội địa vào năm 2018[29] - có khả năng mang theo và phóng tên lửa đạn đạo (SLBM), đưa Hàn Quốc trở thành nước đầu tiên không sở hữu vũ khí hạt nhân làm được điều này.[30]

Hải quân Hàn Quốc hiện nay đang tiếp tục nâng cấp các chương trình đóng tàu lớn như Chương trình tàu ngầm Hàn Quốc (KSS), Chương trình khu trục hạm Hàn Quốc (KDX), Chương trình tàu khu trục (FFX) và Chương trình tàu vận tải đổ bộ (LPX). Năm 2016, tổ chức này đã hoàn thành một căn cứ hải quân mới có tên gọi là Cảng liên hợp dân sự-quân sự Jeju trên bờ biển phía nam đảo Jeju để bảo vệ các tuyến đường liên lạc trên biển.[31]

Thủy quân lục chiến[sửa | sửa mã nguồn]

ROKMC trong một buổi huấn luyện trinh sát.
ROKMC luyện tập tác chiến chống vũ khí hóa học.

Thủy quân lục chiến Hàn Quốc (ROKMC) là một nhánh của Hải quân, được thành lập từ năm 1949 và chịu trách nhiệm về các hoạt động phản ứng nhanh, tác chiến đặc biệt hoặc tấn công đổ bộ, tư lệnh của lực lượng này là một tướng ba sao. Thủy quân lục chiến Hàn Quốc có khoảng 29.000-30.000 nhân viên, được tổ chức thành 2 sư đoàn, 1-2 lữ đoàn, 2 tiểu đoàn và 1 đại đội trinh sát, được trang bị khoảng 300 phương tiện đổ bộ tấn công, xe tăng và pháo tự hành.[32] Biệt danh của lực lượng này hiện nay là "Những con Sói biển".[33]

Thủy quân lục chiến là một trong những lực lượng chiến đấu tinh nhuệ nhất của quân đội Hàn Quốc, với chương trình huấn luyện khắc nghiệt. Đây cũng là lực lượng có chế độ luyện tập hà khắc nhất kèm theo đó là kỹ năng chiến đấu được rèn rũa thông qua các cuộc tập trận chung hàng năm cùng với Thủy quân lục chiến Mỹ và các cường quốc quân sự khác trên thế giới.[33]

Tháng 3 năm 2016, Bộ Quốc phòng Hàn Quốc thông báo về việc thành lập một trung đoàn Thủy quân lục chiến mới mang tên gọi "Spartan 3000" - bao gồm khoảng 3.000 lính thủy đánh bộ được tuyển chọn đặc biệt với nhiệm vụ sẵn sàng triển khai chiến đấu ở bất kỳ khu vực nào trên bán đảo Triều Tiên trong vòng 24 giờ trong trường hợp nước này bị Bắc Triều Tiên tấn công; đồng thời chịu trách nhiệm xử lý những mục tiêu ưu tiên cao ở Bắc Triều Tiên, bao gồm cả các cơ sở hạt nhân.[34]

Không quân[sửa | sửa mã nguồn]

Tiêm kích siêu thanh nội địa KAI FA-50
Tiêm kích F-15E
Dây chuyền sản xuất KAI KF-21
Tiêm kích F-16

Không quân Hàn Quốc (ROKAF) là một lực lượng hiện đại với các máy bay chiến đấu được Không quân Hoa Kỳ hỗ trợ thiết kế cũng như chuyển giao công nghệ.

ROKAF hiện đang vận hành 1.649 máy bay các loại, trong đó có 680 trực thăng cùng nhiều UAV thế hệ mới - biến lực lượng này trở thành lực lượng không quân lớn thứ 5 trên thế giới[35][36], bao gồm một số loại máy bay chiến đấu tiên tiến như F-15K Slam Eagle, F-15E, KF-16C/D (đã được nâng cấp, sửa đổi nhiều) và KAI T-50 Golden Eagle nội địa, được hỗ trợ bởi các phi đội máy bay chiến đấu cũ nhưng được bảo trì tốt như F-4EKF-5E/F - vẫn phục vụ hiệu quả cho không quân bên cạnh các tiêm kích hiện đại hơn như F-35. Trong nỗ lực để đạt được sức mạnh không chỉ về số lượng mà còn cả tính hiệu quả, việc đưa 4 vận tải cơ Boeing 737 AEW&C tập trung vào hoạt động thu thập, phân tích thông tin tình báo trên chiến trường hiện đại được kỳ vọng sẽ tăng cường khả năng hỗ trợ thực hiện nhiệm vụ với độ chính xác cao nhất.

Không quân Hàn Quốc bắt đầu chương trình phát triển các máy bay huấn luyện phản lực nội địa đầu tiên bắt đầu từ năm 1997. Dự án này đem lại kết quả là KAI T-50 (sau này có thêm phiên bản nâng cấp FA-50) - máy bay tiêm kích siêu thanh được sử dụng để huấn luyện và hiện đã được xuất khẩu sang Indonesia.[37]

Không quân Hàn Quốc là lực lượng không quân đầu tiên ở châu Á sở hữu và vận hành máy bay trinh sát không người lái RQ-4 Global Hawk của Mỹ.[38][39]

Chính phủ Hàn Quốc cũng công bố kế hoạch phát triển năng lực sản xuất máy bay trực thăng nội địa để thay thế cho các dòng UH-1 cũ từ thời chiến tranh Việt Nam. Chương trình này bao gồm các kế hoạch phát triển cả máy bay trực thăng dân sự lẫn quân sự dựa trên kinh nghiệm từ việc sản xuất thành công máy bay trực thăng tấn công nội địa KMH trước đó.

Tháng 7 năm 2020, vệ tinh liên lạc quân sự đầu tiên đã được phóng thành công vào không gian, đưa Hàn Quốc trở thành quốc gia thứ 10 trong danh sách số ít các nước trên thế giới hiện nay đang sở hữu vệ tinh liên lạc dành riêng cho các mục đích quân sự hoạt động trong vũ trụ.[40]

Tháng 4 năm 2021, tập đoàn Công nghiệp Hàng không Hàn Quốc (KAI) giới thiệu nguyên mẫu đầu tiên trong dự án mang tên gọi "KAI KF-X" - chương trình phát triển máy bay tiêm kích siêu thanh thế hệ mới sau thành công của KAI FA-50 trị giá 8 tỷ USD, hợp tác cùng với chính phủ và quân đội Indonesia, đây là chương trình phát triển tiêm kích lớn và đắt đỏ nhất trong lịch sử nước này, đặt tham vọng xuất khẩu, cạnh tranh trên thị trường vũ khí với chiến đấu cơ tàng hình F-35 do Mỹ sản xuất.[41]

Chương trình KATUSA[sửa | sửa mã nguồn]

Liên quân Hoa Kỳ – Hàn Quốc

Khoảng 2.000 nam giới Hàn Quốc được chọn ra mỗi năm để phục vụ 21 tháng trong Chương trình KATUSA - biểu tượng của quan hệ đồng minh Mỹ-Hàn trên lĩnh vực quân sự, bắt đầu đi vào hoạt động từ tháng 7 năm 1950, là di sản của Tổng thống Lý Thừa Vãn và Thống tướng MacArthur - nhằm tăng cường sức mạnh cho lực lượng liên quân Hoa Kỳ - Hàn Quốc (USFK). Đây là chương trình tuyển quân đặc biệt mà Hoa Kỳ chưa từng thiết lập ở bất kỳ quốc gia đồng minh nào khác ngoại trừ Hàn Quốc.[42]

Cấp bậc[sửa | sửa mã nguồn]

Trong quân đội Hàn Quốc, hệ thống cấp bậc được chia thành 4 nhóm: Sĩ quan, Chuẩn úy, Hạ sĩ quan và Binh sĩ - theo thứ tự quyền hạn giảm dần. Các cấp bậc hạ sĩ quan được chia thành Jangseong - sĩ quan cấp tướng, Yeonggwan - sĩ quan cấp cao và Wigwan - sĩ quan cấp thấp. Ngoài ra, cấp bậc sĩ quan của Hải quân Hàn Quốc còn có thêm 2 bộ cấp hiệu riêng biệt, quân phục của họ được thiết kế thêm một loạt các đường kẻ sọc tương tự như quân phục trước đây của quân đội Khối Thịnh vượng chung Anh.

Sĩ quan (장교, 將校, Janggyo)
Sĩ quan cấp tướng (Jangseong, 장성, 將星) Sĩ quan cấp cao (Yeonggwan, 영관, 領官) Sĩ quan cấp thấp (Wigwan, 위관, 尉官)
Phù hiệu 20.SKA-GA.svg 19.SKA-GEN.svg 18.SKA-LG.svg 17.SKA-MG.svg 16.SKA-BG.svg 15.SKA-COL.svg 14.SKA-LTC.svg 13.SKA-MAJ.svg 12.SKA-CPT.svg 11.SKA-1LT.svg 10.SKA-2LT.svg
Cấp bậc Wonsu
(Hangul: 원수;
Hanja: 元帥)
Daejang
(대장; 大將)
Jungjang
(중장; 中將)
Sojang
(소장; 少將)
Junjang
(준장; 准將)
Daeryeong
(대령; 大領)
Jungnyeong
(중령; 中領)
Soryeong
(소령; 少領)
Daewi
(대위; 大尉)
Jungwi
(중위; 中尉)
Sowi
(소위; 少尉)
Dịch nghĩa Thống tướng Đại tướng Trung tướng Thiếu tướng Chuẩn tướng Đại tá Trung tá Thiếu tá Đại úy Thượng úy Thiếu úy
Chuẩn úy
(준사관, 准士官, Junsagwan)
Hạ sĩ quan (부사관, 副士官, Busagwan) Binh sĩ (병, 兵, Byeong)
Phù hiệu 9.SKA-WO.svg 8.SKA-SGM.svg 7.SKA-MSG.svg 6.SKA-SFC.svg 5.SKA-SSG.svg Roka4.png Roka3.png Roka2.png Roka1.png
Cấp bậc Junwi
(준위; 准尉)
Wonsa
(원사; 元士)
Sangsa
(상사; 上士)
Jungsa
(중사; 中士)
Hasa
(하사; 下士)
Byeongjang
(병장; 兵長)
Sangdeungbyeong
(상등병; 上等兵)
Ildeungbyeong
(일등병; 1等兵)
Ideungbyeong
(이등병; 2等兵)
Dịch nghĩa Chuẩn úy Thượng sĩ nhất cao cấp Thượng sĩ nhất Thượng sĩ Trung sĩ nhất Trung sĩ Hạ sĩ Binh nhất Binh nhì

Triển khai ở nước ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Xung đột/Chiến dịch Địa điểm Ngày Số lượng triển khai Thiệt hại ‎Ghi chú
Bắt đầu Kết thúc Hiện nay Tổng số Tử trận Bị thương Mất tích Bị bắt
Chiến tranh Việt Nam  South Vietnam 1964-09-01 1973-03-23 325,517 4,407[43][44] 10,962 4 0
Chiến tranh Vùng Vịnh  Saudi Arabia
 United Arab Emirates
1991-01-24 1991-04-10 314 0 0 0 0
Nội chiến Somalia  Somalia 1993-07-30 1994-03-18 516 0 0 0 0
MINURSO  Western Sahara 1994-08-09 2006-05-15 542 0 0 0 0
UNOMIG  Georgia 1994-10-06 2009-07-10 88 1 0 0 0
UNAVEM III  Angola 1995-10-05 1996-12-23 600 0 0 0 0
UNMOGIP  India
 Pakistan
1997-03-03 Đang diễn ra 7 165 1 0 0 0
UNAMET  East Timor 1999-10-04 2004-06-04 3,328 5 0 0 0
Liên minh quân sự chung  United States 2001-11-16 Đang diễn ra 3 44 0 0 0 0
Chiến tranh Afghanistan  Afghanistan 2001-12-18 2014-06-23 5,082 2 1 0 0
UNFICYP  Cyprus 2002-01-04 2003-12-23 1 0 0 0 0
Chiến tranh Iraq  Iraq 2003-02-12 2008-12-30 20,308 1 0 0 0
CJTF-HOA  Djibouti 2003-03 2012-12 15 0 0 0 0
UNMIL  Liberia 2003-10-18 2018-03-30 2 20 0 0 0 0
ONUB  Burundi 2004-09-15 2006-12-11 4 0 0 0 0
UNMIS  Sudan 2005-11-25 2011-07 46 0 0 0 0
UNIFIL  Lebanon 2007-01-16 Đang diễn ra 316 4,229 0 0 0 0
UNMIN    Nepal 2007-03-12 2011-01-15 13 1 0 0 0
OEF  Somalia 2008-01-16 Đang diễn ra 303 3,700 0 3 0 0
UNAMID  Sudan 2009-06-16 Đang diễn ra 2 8 0 0 0 0
MINURSO  Western Sahara 2009-07-27 Đang diễn ra 4 12 0 0 0 0
UNOCI  Côte d'Ivoire 2009-07-28 Đang diễn ra 2 8 0 0 0 0
MINUSTAH  Haiti 2010-02-17 2012-12-24 1,433 0 0 0 0
Liên minh quân sự chung  United Arab Emirates 2011-01-11 Đang diễn ra 144 687 0 1 0 0
UNMISS  South Sudan 2013-03-01 Đang diễn ra 293 293 0 0 0 0
Lực lượng Liên minh Araw  Philippines 2013-12-09 2014-12-22 540[45] 0 0 0 0

Ngân sách[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Đơn vị (KRW) % GDP % Ngân sách chính phủ % thay đổi
1980 2.25 nghìn tỷ 5.69 34.7 46.2
1981 2.70 nghìn tỷ 5.47 33.6 20.1
1982 3.12 nghìn tỷ 5.49 33.5 15.7
1983 3.27 nghìn tỷ 4.85 31.4 4.9
1984 3.31 nghìn tỷ 4.25 29.6 1.0
1985 3.69 nghìn tỷ 4.23 29.4 11.6
1986 4.16 nghìn tỷ 4.08 30.1 12.7
1987 4.75 nghìn tỷ 3.95 29.6 14.1
1988 5.52 nghìn tỷ 3.83 30.0 16.3
1989 6.01 nghìn tỷ 3.68 27.3 9.0
1990 6.64 nghìn tỷ 3.36 24.2 10.4
1991 7.48 nghìn tỷ 3.13 23.8 12.6
1992 8.41 nghìn tỷ 3.08 25.1 12.5
1993 9.22 nghìn tỷ 2.97 24.2 9.6
1994 10.08 nghìn tỷ 2.75 23.3 9.3
1995 11.07 nghìn tỷ 2.58 21.4 9.9
1996 12.24 nghìn tỷ 2.54 20.8 10.6
1997 13.79 nghìn tỷ 2.60 20.7 12.6
1998 13.80 nghìn tỷ 2.63 18.3 0.1
1999 13.75 nghìn tỷ 2.38 16.4 -0.4
2000 14.48 nghìn tỷ 2.28 16.3 5.3
2001 15.39 nghìn tỷ 2.24 15.5 6.3
2002 16.36 nghìn tỷ 2.15 14.9 6.3
2003 17.51 nghìn tỷ 2.16 14.8 7.0
2004 18.94 nghìn tỷ 2.16 15.8 8.1
2005 21.10 nghìn tỷ 2.29 15.6 11.4
2006 22.51 nghìn tỷ 2.33 15.3 6.7
2007 24.50 nghìn tỷ 2.35 15.7 8.8
2008 26.65 nghìn tỷ 2.41 14.8 8.8
2009 28.98 nghìn tỷ 2.52 14.2 8.7
2010 29.56 nghìn tỷ 2.34 14.7 2.0
2011 31.40 nghìn tỷ 2.36 15.0 6.2
2012 32.96 nghìn tỷ 2.39 14.8 5.0
2013 34.35 nghìn tỷ 2.40 14.5 4.2
2014 35.71 nghìn tỷ 2.40 14.4 4.0
2015 37.46 nghìn tỷ 2.39 14.5 4.9
2016 38.80 nghìn tỷ 2.36 14.5 3.6
2017 40.33 nghìn tỷ 2.33 14.7 4.0
2018 43.16 nghìn tỷ 2.42 14.3 7.0
2019 46.70 nghìn tỷ 2.59 14.1 8.2
2020 50.15 nghìn tỷ 2.69 14.1 7.4

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a b c “2020 Defense White Paper” (PDF). Ministry of National Defense. tháng 12 năm 2020.
  2. ^ Global Firepower. “Defense Spending by Country (2021)”. www.globalfirepower.com.
  3. ^ Tian, Nan; Fleurant, Aude; Kuimova, Alexandra; Wezeman, Pieter D.; Wezeman, Siemon T. (ngày 27 tháng 4 năm 2020). “Trends in World Military Expenditure, 2019” (PDF). Stockholm International Peace Research Institute. Truy cập ngày 27 tháng 4 năm 2020.
  4. ^ “South Korea's Armed Forces, CSIS (Page 24)” (PDF). CSIS.
  5. ^ 수정 2016.11.14 16:14, 입력 2016 11 13 00:01 (13 tháng 11 năm 2016). “[커버스토리] 대한민국임시정부가 만든 광복군, 어떤 군대였을까”. 중앙일보 (bằng tiếng Hàn). Truy cập ngày 30 tháng 7 năm 2019.
  6. ^ a b “North Korea vs South Korea”. 22 tháng 10 năm 2012. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 4 năm 2013. Truy cập ngày 26 tháng 3 năm 2013.
  7. ^ "ROK Army History" Lưu trữ 2016-10-27 tại Wayback Machine. GlobalSecurity.org. Retrieved March 10, 2007.
  8. ^ “Ministry of National Defense”. GlobalSecurity.org.
  9. ^ a b “South Korea to cut 17% of generals, merge Army commands in military reform”. koreatimes. 27 tháng 7 năm 2018.
  10. ^ Nguyên Phong (10 tháng 8 năm 2020). “Sức mạnh chiến đấu của quân đội Hàn Quốc”. vietnamnet.vn.
  11. ^ Yoon, Sukjoon (11 tháng 6 năm 2021). “As the Dust Settles, How Healthy is the ROK-US Alliance?”. 38 North. The Henry L. Stimson Center. Truy cập ngày 15 tháng 6 năm 2021.
  12. ^ “Act on the Organization of National Armed Forces”. KOREA LEGISLATION RESEARCH INSTITUTE. Truy cập ngày 15 tháng 3 năm 2019.
  13. ^ Tử Quỳnh (28 tháng 10 năm 2017). “Hàn Quốc đòi Mỹ trao quyền chỉ huy quân đội trong thời chiến”. vnexpress.net.
  14. ^ “병역이행안내 - 개요(총괄)” [Military Service Implementation Guide - General Overview]. Military Manpower Organization (bằng tiếng Hàn). Truy cập ngày 28 tháng 12 năm 2017.
  15. ^ 병역이행안내 - 개요(총괄) [Military Service Implementation Guide - General Overview]. Military Manpower Organization (bằng tiếng Hàn). Truy cập ngày 28 tháng 12 năm 2017.
  16. ^ “S. Korea to expand women's role in military”. Yonhap News Agency (bằng tiếng Anh). 20 tháng 12 năm 2017. Truy cập ngày 28 tháng 12 năm 2017.
  17. ^ Ngọc Ánh (theo Bloomberg) (21 tháng 5 năm 2021). “Hàn Quốc tranh cãi về đề xuất buộc nữ giới nhập ngũ”. vnexpress.net.
  18. ^ “OPLAN 5027 Major Theater War – West”. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 11 năm 2013.
  19. ^ Caleb Larson (10 tháng 4 năm 2020). “K2 Black Panther: The Most Expensive Tank in the World”. nationalinterest.org.
  20. ^ SuccessStory. “Most Expensive Tanks”. successstory.com.
  21. ^ Duy Sơn (21 tháng 4 năm 2017). “Thiết giáp lưỡng cư có khả năng diệt trực thăng của Hàn Quốc”. vnexpress.net.
  22. ^ David Hambling (Aerospace & Defense) (4 tháng 12 năm 2020). “Why South Korea Is Building Robotic Artillery”. www.forbes.com.
  23. ^ Báo điện tử Hà Nội mới (theo BBC). “Robot sát thủ của Hàn Quốc”. www.hanoimoi.com.vn.
  24. ^ Nguyễn Tiến (theo Hanwha Defense) (19 tháng 10 năm 2021). “Robot Hàn Quốc nghe súng địch để khóa mục tiêu”. vnexpress.net.
  25. ^ "North vs. South Korea: A Military Comparison." Lưu trữ 2012-01-08 tại Wayback Machine Global Bearings, 7 November 2011.
  26. ^ World Population Review. “Largest Navies In The World 2021”. worldpopulationreview.com.
  27. ^ PickyTop (3 tháng 8 năm 2021). “Top 10 Largest Navies in the World”. pickytop.com.
  28. ^ Military-Today. “Top 10 Navies in the World”. www.military-today.com.
  29. ^ “3천t급 잠수함 '도산안창호함' 진수식…2022년 1월 실전배치”. Yonhap News. 13 tháng 9 năm 2018. Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 9 năm 2018. Truy cập ngày 23 tháng 9 năm 2018.
  30. ^ Vũ Anh (theo Yonhap) (7 tháng 9 năm 2021). “Tàu ngầm Hàn Quốc lần đầu phóng tên lửa đạn đạo”. vnexpress.net.
  31. ^ “[제주해군기지 준공] 대양해군 전초기지 역할 '톡톡'. jeju.news1.kr (bằng tiếng Hàn). Lưu trữ bản gốc ngày 9 tháng 2 năm 2019. Truy cập ngày 8 tháng 2 năm 2019.
  32. ^ “대한민국 해병대”. www.rokmc.mil.kr. Truy cập ngày 8 tháng 2 năm 2019.
  33. ^ a b Mộc Miên (21 tháng 4 năm 2020). “Thủy quân lục chiến Hàn Quốc: Nơi tạo nên những "con sói biển" nguy hiểm”. www.doisongphapluat.com.
  34. ^ Lê Ngọc (theo special-ops) (25 tháng 11 năm 2020). “5 lực lượng lính thủy đánh bộ danh tiếng nhất thế giới”. vov.vn.
  35. ^ World Population Review. “Largest Air Forces In The World 2021”. worldpopulationreview.com.
  36. ^ Nancy Levin (4 tháng 12 năm 2018). “10 Largest Air Forces in the World”. largest.org.
  37. ^ Erric Permana (21 tháng 7 năm 2021). “Indonesia buys 6 trainer jets from South Korea”. www.aa.com.
  38. ^ Vũ Anh (theo Yonhap) (23 tháng 12 năm 2019). “Hàn Quốc nhận UAV hơn 120 triệu USD”. vnexpress.net.
  39. ^ Ankit Panda (20 tháng 4 năm 2020). “Next RQ-4 Global Hawk Drones Arrive in South Korea”. thediplomat.com.
  40. ^ Thế Việt (theo Yonhap) (21 tháng 7 năm 2020). “Hàn Quốc ghi tên vào danh sách 10 quốc gia có vệ tinh liên lạc quân sự”. baoquocte.vn.
  41. ^ Vũ Anh (theo Reuters) (9 tháng 4 năm 2021). “Hàn Quốc ra mắt tiêm kích đắt nhất lịch sử”. vnexpress.net.
  42. ^ Phương Anh (theo Yonhap) (25 tháng 8 năm 2016). “KATUSA: Biểu tượng quan hệ đồng minh Mỹ-Hàn”. baotintuc.vn.
  43. ^ Tucker, Spencer, ed. Encyclopedia of the Vietnam War: A Political, Social, and Military History. Oxford, UK: Oxford University Press, 1998. tr 64
  44. ^ yhchoi65 (2 tháng 7 năm 2008). “[책갈피 속의 오늘]1965년 전투병 베트남 파병 의결”. www.donga.com.
  45. ^ “S. Korea to deploy troops for rehab”. philstar.com. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 6 năm 2015. Truy cập ngày 19 tháng 4 năm 2015.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]