Quốc quân Đại Hàn Dân Quốc

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Máy bay F-4D của Không quân Hàn Quốc

Quốc quân Đại Hàn Dân Quốc (Hangul: 대한민국 국군; Hanja: 大韓民國 國軍, âm Triều Tiên: Daehan Minguk Gukgun) hay Quân đội Hàn Quốclực lượng vũ trang của Hàn Quốc. Cùng với lực lượng dự bị của Hàn Quốc (대한민국 향토예비군; 大韓民國 鄕土豫備軍, Đại Hàn Dân quốc Hương thổ Dự bị quân), quân đội Hàn Quốc bao gồm các nhánh sau:

Được thành lập từ năm 1948, sau sự chia cắt của Triều Tiên bởi lực lượng của Liên Xô và của Hoa Kỳ, Lực lượng vũ trang của Hàn Quốc là một trong những lực lượng quân sự mạnh, nếu tính đến lực lượng gián tiếp phục vụ cho quân đội, tổng số quân của Hàn Quốc năm 2006 là 5.187.000 (687.000 phục vụ trực tiếp và 4.500.000 dự bị).[1]

Quân đội Hàn Quốc vừa có nhiệm vụ bảo vệ lãnh thổ của Hàn Quốc, đồng thời cũng từng tham chiến, hoặc làm nhiệm vụ cứu trợ trên khắp đất nước. Gần đây, quân đội Hàn Quốc cũng đã bắt đầu tham gia nhiều hơn vào các công việc của quốc tế, đảm nhận vai trò và trách nhiệm của một đất nước có tiềm lực kinh tế đứng thứ 12 trên thế giới tính theo GDP. Quân đội Hàn Quốc đã tham gia vào nhiều hoạt động gìn giữ hòa bình từ Châu Phi tới Đông Timor và gần đây là IraqAfghanistan.

Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên luôn coi quân đội Hàn Quốc chỉ là quân đội tay sai của ngoại quốc để ngăn cản sự nghiệp thống nhất đất nước của dân tộc Triều Tiên[2][3]

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Chiến hạm của Hải quân Hàn Quốc

Quân đội Hàn Quốc là lực lượng thô sơ khi xảy ra Chiến tranh Triều Tiên. Nó bị thiệt hại nặng bởi các cuộc tấn công của Bắc Triều TiênTrung Quốc và lúc đầu dựa hầu hết vào các viện trợ của người Mỹ, từ vũ khí, đạn dược đến công nghệ. Trong suốt thời kỳ tăng trưởng và phát triển nhanh chóng của Hàn Quốc, quân đội cũng được phát triển, mở rộng. Các lỗ lực hiện đại hóa cho quân đội đã được tiến hành từ những năm 1980. Theo tuyên bố của website GlobalSecurity.org: "trong năm 1990, nền công nghiệp Hàn Quốc đã tự cung cấp 70% các vũ khí, đạn dược, phương tiện truyền thông các trang thiết bị, máy móc, quần áo và những vật dụng cần thiết cho quân đội".

Quân đội Hàn Quốc có ngân sách quốc phòng rất lớn, luôn đứng trong danh sách các nước dẫn đầu. Khả năng của nó cũng bao gồm cả sự kết hợp các hệ thống vũ khí trang bị của Hoa Kỳ và châu Âu, được hoàn thiện hơn bởi các tiến bộ về công nghệ trong lĩnh vực sản xuất quốc phòng. Ví dụ, bằng việc đưa vào các tiến bộ về ngành công nghiệp đóng tàu hạng nặng của các địa phương, hải quân Hàn Quốc đã lên một kế hoạch hiện đại hóa hải quân với tham vọng trở thành một nước có lực lượng hải quân hoạt động ở vùng nước sâu trong năm 2020.

Hàn Quốc tham gia liên minh quân sự với Hoa Kỳ theo hiệp ước bảo vệ lẫn nhau được ký sau khi nổ ra chiến tranh Triều Tiên. Trong chiến tranh Việt Nam, thủy quân lục chiến Hàn Quốc cũng tham gia chiến đấu cùng với Hoa Kỳ.

Theo thống kê của Cơ quan Quản lý Chương trình Thu mua quốc phòng Hàn Quốc hôm 29/12/2008, lần đầu tiên doanh thu xuất khẩu vũ khí của Hàn Quốc vượt ngưỡng 1 tỉ USD. Điều này đồng nghĩa với việc Hàn Quốc sẽ sớm trở thành một trong 10 quốc gia xuất khẩu vũ khí hàng đầu thế giới. Khách hàng chủ yếu của Hàn Quốc là những quốc gia thuộc khu vực Trung Đông và đồng minh của Mỹ và họ chủ yếu mua súng tự động, máy bay và tàu hải quân.

Được biết, Hàn Quốc đã và đang tăng cường việc bán vũ khí cho các quốc gia đang phát triển tại châu Phi và Mỹ Latinh với hy vọng đạt con số 3 tỉ USD vào năm 2012. Vào thời điểm này, Bộ Quốc phòng Hàn Quốc hy vọng sẽ xuất khẩu xe tăng K-2 (thế hệ mới) và máy bay huấn luyện siêu âm T/A 50 - sản phẩm hợp tác giữa Hàn Quốc với Mỹ. Giới chuyên môn nhận định, hệ thống vũ khí của Hàn Quốc được cải thiện cũng đồng nghĩa với việc tăng cơ hội xuất khẩu vũ khí của nước này. Giới quân sự cho rằng, việc gia tăng tiềm lực quân sự, cải thiện công nghệ vũ khí cũng như nghiên cứu chế tạo và hợp tác sản xuất vũ khí của Hàn Quốc chủ yếu xuất phát từ nhu cầu chống lại những đe dọa từ bên ngoài, nhất là Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên.

Giới truyền thông tiết lộ, ngay từ đầu năm 2005, Hàn Quốc đã áp dụng kế hoạch "đổi nợ lấy vũ khí của Nga". Nguyên Bộ trưởng Quốc phòng Yoon Kwang-ung từng tiết lộ, thượng tuần tháng 4/2005 các nhà đàm phán Hàn Quốc đã đề nghị Nga chia sẻ kho vũ khí tân tiến, đặc biệt là hệ thống tên lửa chống máy bay. Đổi lại, Hàn Quốc xóa các khoản nợ quá hạn từ thời Liên Xô trước đây. Theo đó, Nga sẽ chuyển các loại vũ khí hiện đại trị giá 214 triệu USD, trong đó có xe tăng T-80, tên lửa chống tăng METIS-M và xe quân sự BMP-3 cho Hàn Quốc.

Được biết, Hàn Quốc từng cho Liên Xô vay 1,47 tỉ USD cùng một lượng hàng trị giá 470 triệu USD. Ngoài ra, Hàn Quốc còn có kế hoạch mua một số loại vũ khí tiên tiến của Nga như trực thăng KA-32 và máy bay IL-103 với tổng trị giá 530 triệu USD.

Tội ác chiến tranh[sửa | sửa mã nguồn]

Ở trong nước[sửa | sửa mã nguồn]

Lính Hàn Quốc xử bắn hàng loạt dân thường ở Daejon, tháng 7/1950. Ảnh chụp bởi U.S. Army Major Abbott.[4]

Tại Hàn Quốc, quân đội Hàn Quốc đã thực hiện nhiều vụ trấn áp, bao gồm cả những vụ thảm sát nhằm vào chính thường dân Hàn Quốc, thậm chí có vụ còn nhằm cả vào binh sĩ Hàn Quốc. Một số vụ nổi bật gồm:

Ảnh của vụ Thảm sát Bodo League

Ở Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Trong chiến tranh Việt Nam, quân đội Hàn Quốc đã thực hiện nhiều vụ thảm sát dân thường Việt Nam. Một số vụ đã được khám phá bao gồm:

Ngoài ra, nhiều lính Hàn Quốc đã hiếp dâm phụ nữ Việt Nam[22] dẫn tới việc có những đứa con lai Việt-Hàn (Lai Đại Hàn) bị bỏ lại sau chiến tranh.[23] Sự hung bạo của Quân đội Hàn Quốc vẫn được người Việt Nam (đặc biệt là các tỉnh miền Trung) kể lại nhiều năm sau chiến tranh với thái độ kinh sợ, thù oán còn hơn cả với lính Mỹ. Tờ báo Hankyoreh từng nhắc đến việc quân đội Hàn Quốc tàn sát thường dân Việt Nam (대량학살)[24]. Một ước tính cho rằng quân đội Hàn Quốc đã tàn sát hơn 300.000 người Việt trong suốt cuộc chiến tranh tại Việt Nam[25].

Dưới đây là một số hình ảnh về vụ Thảm sát Phong Nhất và Phong Nhị

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “South Korea's Armed Forces, CSIS (Page 24)” (PDF). ngày 25 tháng 7 năm 2006.  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |date= (trợ giúp)
  2. ^ “Tyranny of the Weak”. Google Books. Truy cập 11 tháng 8 năm 2016. 
  3. ^ DFRK Exposes True Colors of U.S.-S. Korea Alliance
  4. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên apphoto
  5. ^ Historical Dictionary of the Korean War, Paul M. Edwards, Plymouth, UK: Scarecrow Press, 2010, p. 32, entry "Bodo League Massacre"
  6. ^ Kim 2004, tr. 535.
  7. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên johnston20
  8. ^ a ă Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên ci010629
  9. ^ a ă “57년 동안 한강 떠돈 원혼들을 위로하다 '한강인도교 폭파 희생자 위령제' 열려... "피난민 내팽게친 이승만은 전범" 출처: 57년 동안 한강 떠돈 원혼들을 위로하다 - 오마이뉴스”. Ohmynews. Ngày 28 tháng 6 năm 2007. Truy cập ngày 16 tháng 7 năm 2010. 
  10. ^ Kim Sung-hwan (ngày 22 tháng 5 năm 2008). “남양주 민간인학살 국가사과 권고”. Hankyoreh. Truy cập ngày 30 tháng 8 năm 2012. 
  11. ^ “진실화해위, 남양주 민간인학살 국가사과 권고”. 경기북부일보. Ngày 29 tháng 5 năm 2008. Truy cập ngày 30 tháng 8 năm 2012. 
  12. ^ “남양주 집단학살 58년만에 규명”. 경인일보. Ngày 23 tháng 5 năm 2008. Truy cập ngày 30 tháng 8 năm 2012. 
  13. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên SanDiegoUnionTribune20081206
  14. ^ 편히 영면하소서!'..거창사건 희생자 위령제. Chosun Ilbo (bằng tiếng Hàn). Ngày 17 tháng 4 năm 2009. Truy cập ngày 9 tháng 7 năm 2010. 
  15. ^ 강화교동도 학살•1 '우익단체가 주민 212명 총살' 공식확인 유족 주장 사실로…. Kyeongin Ilbo (bằng tiếng Korean). Ngày 28 tháng 2 năm 2006. Truy cập ngày 12 tháng 7 năm 2010. 
  16. ^ 강화지역 민간인 학살 희생자 고유제 및 추모제 (bằng tiếng Korean). Democratic Labor Party of Incheon. Ngày 20 tháng 10 năm 2009. Truy cập ngày 12 tháng 7 năm 2010. 
  17. ^ ‘산청·함양 양민학살’ 책 펴낸 강희근 교수. Hankyoreh (bằng tiếng Hàn). Ngày 13 tháng 2 năm 2005. Truy cập ngày 10 tháng 7 năm 2010. 
  18. ^ 국민방위군 사건 (bằng tiếng Hàn). National Archives of Korea. Truy cập ngày 20 tháng 7 năm 2010. 
  19. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên roehrig
  20. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên Stanley
  21. ^ '국민방위군' 희생자 56년만에 '순직' 인정. Newsis (bằng tiếng Hàn). Ngày 30 tháng 10 năm 2007. Truy cập ngày 14 tháng 7 năm 2010. 
  22. ^ A. Kameyama, Betonamu Sensou, Saigon Souru, Toukyou [Vietnam War, Saigon, Seoul, Tokyo], Iwanami Shoten Publishing, 1972, p. 122
  23. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên busan040918
  24. ^ 아, 몸서리쳐지는 한국군!. The Hankyoreh. Ngày 26 tháng 7 năm 2002. Truy cập ngày 1 tháng 10 năm 2008. 
  25. ^ Kim, Wan-seop (2002). 親日派のための弁明. 草思社. ISBN 4-7942-1152-X. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]