Quốc quân Đại Hàn Dân Quốc

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Quốc quân Đại Hàn Dân Quốc
대한민국 국군
大韓民國國軍
Daehanminguk Gukgun
Flag of the Republic of Korea Armed Forces.svg
Quân kỳ của Quốc quân Đại Hàn Dân Quốc
Thành lập 15 tháng 8 năm 1948

&0000000000000070.00000070 năm, &0000000000000277.000000277 ngày

Các nhánh phục vụ  Lục quân Đại Hàn Dân Quốc
Hải quân Đại Hàn Dân Quốc
 Không quân Đại Hàn Dân Quốc
Sở chỉ huy Seoul,  Hàn Quốc
Lãnh đạo
Tổng tư lệnh Tổng thống
Moon Jae-in
Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Song Young-moo
Tổng tham mưu trưởng liên quân Đại tướng
Jeong Kyeong-doo
(Không quân)
Nhân sự
Tuổi nhập ngũ Tự nguyện từ 18 tuổi, bắt buộc từ 20 đến 38 tuổi đối với nam, trong thời chiến trong độ tuổi từ 18-40
Cưỡng bách tòng quân 21–24 tháng tùy binh chủng
Số quân tại ngũ tăng 625.000 (2016)[1]
Số quân dự phòng tăng 3.100.000 (2016)[1]
Số quân triển khai 13 quốc gia, tăng 1.104 binh lính (2016)
Danh sách triển khai quân:[1]
Phí tổn
Ngân sách tăng 38,8421 nghìn tỷ (2016)[1]
Phần trăm GDP tăng 2,40% (2016)[1]
Công nghiệp
Nhà cung cấp trong nước Danh sách các nhà cung cấp[2]
Nhà cung cấp nước ngoài Danh sách các quốc gia
Các bài viết liên hệ
Lịch sử Chiến tranh Triều Tiên (1950–1953)
Chiến tranh Việt Nam (1964–1973)
Chiến tranh vùng Vịnh (1991)
Chiến tranh Afghanistan (2001–2014)
Chiến tranh Iraq (2003–2008)
Hạng Cấp bậc quân sự của Hàn Quốc
Cấp bậc quân sự so sánh của Triều Tiên
Máy bay F-4D của Không quân Hàn Quốc.

Quốc quân Đại Hàn Dân Quốc (Hangul: 대한민국 국군; Hanja: 大韓民國 國軍, âm Triều Tiên: Daehan Minguk Gukgun) hay Quân đội Hàn Quốclực lượng vũ trang chính quy của Hàn Quốc. Cùng với các lực lượng dự bị của Hàn Quốc (대한민국 향토예비군; 大韓民國 鄕土豫備軍, Đại Hàn Dân quốc Hương thổ Dự bị quân), quân đội Hàn Quốc bao gồm các nhánh như sau:

Được thành lập từ năm 1948, sau sự kiện chia cắt của bán đảo Triều Tiên bởi các lực lượng của Liên Xô và của Hoa Kỳ, Lực lượng vũ trang Đại Hàn Dân Quốc là một trong những lực lượng quân sự mạnh, được trang bị hiện đại và đầu tư với kinh phí lớn trên thế giới. Nếu tính đến cả các lực lượng gián tiếp phục vụ cho quân đội thì tổng số quân nhân của Hàn Quốc năm 2006 là 5.187.000 người (687.000 phục vụ trực tiếp và 4.500.000 quân nhân dự bị).[3]

Quân đội Hàn Quốc vừa có nhiệm vụ chính là bảo vệ lãnh thổ của Hàn Quốc, và cũng đồng thời cũng tham gia phối hợp tác chiến, diễn tập quân sự quy mô hoặc làm nhiệm vụ cứu trợ trên khắp đất nước. Gần đây, quân đội Hàn Quốc cũng đã bắt đầu tham gia nhiều hơn vào các công việc của khu vực và quốc tế, đảm nhận vai trò và trách nhiệm của một đất nước có tiềm lực kinh tế hiện đứng thứ 11 trên thế giới tính theo GDP. Quân đội Hàn Quốc cũng đã tham gia vào nhiều hoạt động, công cuộc gìn giữ và bảo vệ hòa bình từ Châu Phi tới Đông Timor và gần đây là IraqAfghanistan.

Theo hiệp định được ký kết vào năm 1953, trong trường hợp có xảy ra xung đột quân sự, quân đội Hàn Quốc không được tự đưa ra quyết định tác chiến độc lập mà họ phải nằm dưới sự chỉ huy của một viên tướng bốn sao trực thuộc quân đội Mỹ, và rất nhiều người dân Hàn Quốc tin rằng quân đội của họ sẽ không thể trụ vững trước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên nếu không dựa vào Mỹ[4], phía Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên thì luôn coi quân đội Hàn Quốc chỉ là quân đội tay sai của ngoại quốc để ngăn cản sự nghiệp thống nhất đất nước của dân tộc Triều Tiên.[5][6]

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Quân đội Hàn Quốc ban đầu là một lực lượng vũ trang non trẻ, được trang bị thô sơ khi xảy ra cuộc Chiến tranh Triều Tiên. Đội quân này bị thiệt hại nặng nề bởi các cuộc tấn công áp đảo, mạnh mẽ của Bắc Triều TiênTrung Quốc và lúc đầu phải dựa hầu hết vào các viện trợ của người Mỹ, từ vũ khí, đạn dược đến công nghệ. Trong suốt thời kỳ kinh tế tăng trưởng và phát triển nhanh chóng của Hàn Quốc, quân đội nước này cũng được chú trọng đầu tư vào phát triển, mở rộng. Những nỗ lực của Chính phủ Hàn Quốc nhằm mục đích hiện đại hóa cho quân đội đã được tiến hành từ những năm 1980. Theo tuyên bố của website GlobalSecurity.org: "Trong năm 1990, nền công nghiệp Hàn Quốc đã tự cung cấp được hơn 70% các loại vũ khí, đạn dược, phương tiện truyền thông, các trang thiết bị, máy móc, quần áo và những vật dụng cần thiết khác phục vụ cho quân đội".

Quân đội Hàn Quốc có ngân sách quốc phòng rất lớn, luôn đứng trong danh sách các nước dẫn đầu. Khả năng của quân đội nước này cũng bao gồm cả sự kết hợp hiệu quả các hệ thống vũ khí trang bị tiên tiến, hiện đại của Hoa Kỳ và châu Âu, được hoàn thiện hơn bởi các tiến bộ về công nghệ trong lĩnh vực sản xuất quốc phòng. Ví dụ, bằng việc đưa vào các tiến bộ về ngành công nghiệp đóng tàu hạng nặng của các địa phương, hải quân Hàn Quốc đã lên một kế hoạch hiện đại hóa toàn diện các lực lượng hải quân với tham vọng trở thành một nước có lực lượng hải quân có thể hoạt động hiệu quả ở các vùng nước biển sâu như rãnh Mariana trong năm 2020.

Hàn Quốc hiện tham gia liên minh quân sự với Hoa Kỳ theo hiệp ước bảo vệ lẫn nhau đã được ký kết sau khi nổ ra chiến tranh Triều Tiên. Trong cuộc chiến tranh Việt Nam, thủy quân lục chiến Hàn Quốc cũng tham gia chiến đấu cùng với quân đội Hoa Kỳ.

Theo các số liệu thống kê của Cơ quan Quản lý Chương trình Thu mua Quốc Phòng Hàn Quốc vào ngày 29/12/2008, lần đầu tiên doanh thu xuất khẩu vũ khí của Hàn Quốc đã vượt ngưỡng 1 tỉ USD. Điều này đồng nghĩa với việc Hàn Quốc sẽ sớm trở thành một trong 10 quốc gia xuất khẩu vũ khí hàng đầu thế giới. Khách hàng chủ yếu của Hàn Quốc là những quốc gia thuộc khu vực Trung Đông và các đồng minh của Mỹ và họ chủ yếu mua súng tự động, máy bay chiến đấutàu hải quân.

Trong những năm gần đây, Hàn Quốc đã và đang tăng cường việc bán vũ khí cho các quốc gia đang phát triển tại châu PhiMỹ Latinh với hy vọng doanh thu sẽ đạt con số hơn 3 tỉ USD vào năm 2012. Vào thời điểm này, Bộ Quốc phòng Hàn Quốc hy vọng sẽ xuất khẩu xe tăng K-2 Black Panther (thế hệ mới) và máy bay huấn luyện siêu âm T/A 50 Golden Eagle - một sản phẩm là thành quả hợp tác quốc phòng giữa Hàn Quốc với Mỹ. Giới chuyên môn nhận định, hệ thống vũ khí của Hàn Quốc được cải thiện cũng đồng nghĩa với việc tăng cơ hội xuất khẩu vũ khí của nước này. Giới quân sự cho rằng, việc đầu tư ngân sách để gia tăng tiềm lực quân sự, cải thiện đáng kể công nghệ vũ khí cũng như nghiên cứu chế tạo và hợp tác sản xuất vũ khí của Hàn Quốc chủ yếu xuất phát từ nhu cầu chống lại những mối đe dọa từ bên ngoài, nhất là từ phía Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên.

Giới truyền thông Hàn Quốc tiết lộ, ngay từ đầu năm 2005, Hàn Quốc đã áp dụng kế hoạch "đổi nợ lấy vũ khí của Nga". Nguyên Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Hàn Quốc Yoon Kwang-ung từng tiết lộ, trong thượng tuần tháng 4/2005 các nhà đàm phán Hàn Quốc đã đề nghị phía Nga chia sẻ kho vũ khí tân tiến, đặc biệt là hệ thống tên lửa chống máy bay. Đổi lại, phía Hàn Quốc đồng ý xóa các khoản nợ quá hạn từ thời Liên Xô trước đây. Theo đó, Nga sẽ chuyển giao các loại vũ khí, khí tài hiện đại trị giá hơn 300 triệu USD, trong đó có xe tăng T-80, tên lửa chống tăng METIS-Mxe quân sự BMP-3 cho Hàn Quốc.

Được biết, Hàn Quốc từng cho Liên Xô vay hơn 1,47 tỉ USD cùng một lượng hàng hóa trị giá hơn 470 triệu USD. Ngoài ra, Hàn Quốc còn có kế hoạch mua thêm một số loại vũ khí tiên tiến khác của Nga như trực thăng KA-32máy bay tiêm kích IL-103 với tổng trị giá hơn 530 triệu USD.

Tội ác chiến tranh[sửa | sửa mã nguồn]

Ở trong nước[sửa | sửa mã nguồn]

Lính Hàn Quốc xử bắn hàng loạt dân thường ở Daejon, tháng 7/1950. Ảnh được chụp bởi U.S. Army Major Abbott.

Tại Hàn Quốc, quân đội Hàn Quốc đã thực hiện rất nhiều các vụ trấn áp lớn nhỏ, bao gồm cả những vụ thảm sát nhằm vào chính những thường dân Hàn Quốc, thậm chí còn có vụ nhằm cả vào những binh sĩ Hàn Quốc đang tại ngũ. Một số vụ nổi bật bao gồm:

Một số bức ảnh của vụ Thảm sát Bodo League

Ở Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Trong chiến tranh Việt Nam, quân đội Hàn Quốc đã thực hiện nhiều vụ thảm sát dân thường Việt Nam. Một số vụ đã được khám phá bao gồm:

Dưới đây là một số hình ảnh về vụ Thảm sát Phong Nhất và Phong Nhị

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â b c “국방백서 2016” (PDF). Tháng 12 năm 2016. 
  2. ^ “방위사업법 제35조(방산업체의 지정 등)에 의하여 지정된 방산업체의 현황”. kdia.or.kr. Truy cập ngày 29 tháng 8 năm 2014. 
  3. ^ “South Korea's Armed Forces, CSIS (Page 24)” (PDF). ngày 25 tháng 7 năm 2006.  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |date= (trợ giúp)
  4. ^ http://www.globalresearch.ca/south-koreas-armed-forces-to-remain-fully-under-us-military-command/5410849
  5. ^ “Tyranny of the Weak”. Google Books. Truy cập 11 tháng 8 năm 2016. 
  6. ^ DFRK Exposes True Colors of U.S.-S. Korea Alliance
  7. ^ Historical Dictionary of the Korean War, Paul M. Edwards, Plymouth, UK: Scarecrow Press, 2010, p. 32, entry "Bodo League Massacre"
  8. ^ Kim 2004, tr. 535.
  9. ^ a ă “57년 동안 한강 떠돈 원혼들을 위로하다 '한강인도교 폭파 희생자 위령제' 열려... "피난민 내팽게친 이승만은 전범" 출처: 57년 동안 한강 떠돈 원혼들을 위로하다 - 오마이뉴스”. Ohmynews. Ngày 28 tháng 6 năm 2007. Truy cập ngày 16 tháng 7 năm 2010. 
  10. ^ Kim Sung-hwan (ngày 22 tháng 5 năm 2008). “남양주 민간인학살 국가사과 권고”. Hankyoreh. Truy cập ngày 30 tháng 8 năm 2012. 
  11. ^ “진실화해위, 남양주 민간인학살 국가사과 권고”. 경기북부일보. Ngày 29 tháng 5 năm 2008. Truy cập ngày 30 tháng 8 năm 2012. 
  12. ^ “남양주 집단학살 58년만에 규명”. 경인일보. Ngày 23 tháng 5 năm 2008. Truy cập ngày 30 tháng 8 năm 2012. 
  13. ^ 편히 영면하소서!'..거창사건 희생자 위령제. Chosun Ilbo (bằng tiếng Hàn). Ngày 17 tháng 4 năm 2009. Truy cập ngày 9 tháng 7 năm 2010. 
  14. ^ 강화교동도 학살•1 '우익단체가 주민 212명 총살' 공식확인 유족 주장 사실로…. Kyeongin Ilbo (bằng tiếng Triều Tiên). Ngày 28 tháng 2 năm 2006. Truy cập ngày 12 tháng 7 năm 2010. 
  15. ^ 강화지역 민간인 학살 희생자 고유제 및 추모제 (bằng tiếng Triều Tiên). Democratic Labor Party of Incheon. Ngày 20 tháng 10 năm 2009. Truy cập ngày 12 tháng 7 năm 2010. 
  16. ^ ‘산청·함양 양민학살’ 책 펴낸 강희근 교수. Hankyoreh (bằng tiếng Hàn). Ngày 13 tháng 2 năm 2005. Truy cập ngày 10 tháng 7 năm 2010. 
  17. ^ 국민방위군 사건 (bằng tiếng Hàn). National Archives of Korea. Truy cập ngày 20 tháng 7 năm 2010. 
  18. ^ '국민방위군' 희생자 56년만에 '순직' 인정. Newsis (bằng tiếng Hàn). Ngày 30 tháng 10 năm 2007. Truy cập ngày 14 tháng 7 năm 2010. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]