Chiến tranh Iraq

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Chiến tranh Iraq
Một phần của Chiến tranh chống khủng bố
Iraq header 2.jpg
Theo chiều kim đồng hồ, bắt đầu từ ảnh phía trên bên trái: lính liên quân tuần phòng tại Samarra; lật đổ tượng Saddam Hussein tại Firdos Square; một người lính quân đội Iraq nạp lại đạn trong một cuộc tấn công; một quả bom nổ tại Nam Baghdad.
Thời gian 20 tháng 3 năm 2003 – 18 tháng 12 năm 2011
(8 năm, 8 tháng và 28 ngày)
Địa điểm Iraq
Nguyên nhân bùng nổ War justifications:
Tình trạng Combat operations concluded[1]
Tham chiến
Invasion phase (2003)

 Hoa Kỳ
 Anh Quốc
 Úc
 Ba Lan
Peshmerga
Supported by:
 Canada[5]
 Hà Lan[6]

Invasion phase (2003)
Ba'athist Iraq
Post-invasion
(2003–11)

 United States
 United Kingdom

Chính phủ mới của Iraq

Supported by:
Iran Iran[7][8]
 Iraqi Kurdistan

Post-invasion (2003–11)

Ba'ath loyalists

Supported by:
 Syria[9][10]


Sunni insurgents

Được hỗ trợ bởi:
 Syria[12][13]


Shia insurgents

được hỗ trợ bởi:
 Iran


Để chiến đấu giữa các nhóm nổi dậy, xem Sectarian violence in Iraq (2006–08).

Chỉ huy và lãnh đạo
Iraq Jalal Talabani

Iraq Ibrahim al-Jaafari
Iraq Nouri al-Maliki
Kurdistan thuộc Iraq Massoud Barzani
Kurdistan thuộc Iraq Masrour Barzani
Iraq Abdul Sattar Abu Risha (KIA)
Iraq Ahmad Abu Risha
Hoa Kỳ Barack Obama
Hoa Kỳ George W. Bush
Hoa Kỳ Ray Odierno
Hoa Kỳ David Petraeus
Hoa Kỳ George W. Casey, Jr.
Hoa Kỳ Ricardo Sanchez
Hoa Kỳ Tommy Franks

Iraq Saddam Hussein
 Đầu hàng

Iraq Qusay Hussein (KIA)
Iraq Uday Hussein (KIA)
Iraq Tariq Aziz Bản mẫu:Surrender


Izzat Ibrahim ad-Douri
Abu Omar al-Baghdadi (KIA)
Abu Musab al-Zarqawi (KIA)
Abu Ayyub al-Masri (KIA)
Muqtada al-Sadr
Abu Deraa
Ishmael Jubouri
Abu Abdullah al-Shafi'i Đầu hàng


Lực lượng
Iraqi Security Forces
650,000 (Army: 273,000, Police: 227,000, FPS: 150,000)
United States Forces
50,000 (current) [15]
Peshmerga
50,000 invasion
~375,000 current
Invasion Forces (2003-2004)
~300,000
Coalition Forces (2004-2010)
176,000 at peak


Awakening militias
~103,000 (2008)[16]


Turkish Armed Forces: ~3,000–10,000[17]

Total: ~365,000 (invasion)

Total: 1.347.970–1.354.970+ (current)

Iraqi Army: 375,000 (under Saddam Hussein)

Sunni Insurgents
~70,000 (vào 9/07)[18]
Mahdi Army
~60,000[19]
al-Qaeda/others
1,300+[20]


PKK: ~4,000–8,000.[21]

Thương vong và tổn thất
Iraqi Security Forces (post-Saddam): 11,900 killed
94 MIA/POW

Total: 375,000+ (invasion)

Total: 135,300–139,300+ (current) Coalition Forces
Killed: 4,735[22][23] (4,417 U.S.,[24] 179 U.K.,[25] 139 other)
Missing or captured (U.S.): 1[26]
Wounded: 31,716 U.S.[27], 315 U.K.[28][29][30][31]
Injured/diseased/other medical:** 47,541 U.S.,[32] 3,598 U.K.[28][30][31]

Contractors
Killed: 1,323[33][34] (U.S. 244)
Missing or captured: 16 (U.S. 5)
Wounded & injured: 10,569[33]

Awakening Councils
Killed:760+


Turkish Armed Forces:
27 killed [35][36]

Total killed: 18,795

Iraqi combatant dead (invasion period): 13,500–45,000 [37]

Insurgents (post-Saddam): ~55,000 [38][39][40]

Detainees: 8,300 (U.S.-held)[41]
24,200 (Iraqi-held)[42][43]


PKK: 537 killed (Turkish claim), 9 killed (PKK claim), 230 (official army figures claim)[35]

Documented "unnecessary" violent civilian deaths, Iraq Body Counttháng 1 năm 2009: 95,158–103,819 [44]

Total excess deaths, (Lancet)tháng 12 năm 2009: 1.366.350***[45][46][47] (highest estimate)

For more information see: Casualties of the Iraq War

*Contractors (U.S. government) perform "highly dangerous duties almost identical to those performed by many U.S. troops."[48]
** "injured, diseased, or other medical" – required medical air transport. U.K. number includes "aeromed evacuations"
***Total deaths include all additional deaths due to increased lawlessness, degraded infrastructure, poorer healthcare, etc.

Chiến tranh Iraq, Chính phủ Hoa Kỳ gọi là Chiến dịch Đất nước Iraq Tự do[49], là một cuộc xung đột vũ trang kéo dài, bắt đầu từ năm 2003 với cuộc xâm lược Iraq được tiến hành bởi một liên minh do Hoa Kỳ lãnh đạo, đã thành công trong việc lật đổ chính quyền của Tổng thống Saddam Hussein. Cuộc xung đột vẫn tiếp diễn trong phần lớn thập kỷ tiếp theo với một loạt các cuộc nổi dậy chống lại chính phủ mới của Iraq và lực lượng chiếm đóng. Ước tính có khoảng 151.000 đến 600.000 người Iraq đã thiệt mạng trong ba đến bốn năm đầu tiên của cuộc xung đột. Năm 2009, quân đội Mỹ chính thức rút quân, nhưng nhiều lính Mỹ được thuê bởi các nhà thầu quốc phòng và các công ty quân sự tư nhân vẫn tiếp tục ở lại chiến đấu tại Iraq [50][51]. Quân đội chính quy Hoa Kỳ đã tái tham gia cuộc chiến vào năm 2014 khi mà sự trỗi dậy của ISIS tạo nên mối đe dọa cho khu vực; trong khi các cuộc nổi dậy chống chính phủ Iraq và nhiều cuộc xung đột vũ trang giữa các phe nhóm Hồi giáo trong nước vẫn tiếp tục diễn ra. Cuộc xâm lược năm 2003 là một phần của cuộc chiến chống khủng bố quốc tế do Tổng thống Mỹ George W. Bush khởi xướng sau vụ tấn công khủng bố ngày 11 tháng 9 [52].

Vào tháng 10 năm 2002, Quốc hội Hoa Kỳ đã ủy quyền cho Tổng thống Bush sử dụng lực lượng quân sự chống lại Iraq [53]. Chiến tranh Iraq chính thức bắt đầu vào ngày 19 tháng 3 năm 2003 [54], khi Hoa Kỳ, cùng với Anh và một số nước đồng minh, bắt đầu một chiến dịch ném bom "sốc và kinh hoàng ". Quân đội Iraq đã nhanh chóng bị áp đảo khi lực lượng liên quân do Hoa Kỳ lãnh đạo tiến vào đất nước này. Cuộc xâm lược đã dẫn đến sự sụp đổ của chính quyền Saddam Hussein ; Saddam đã bị bắt trong Chiến dịch Bình minh đỏ vào tháng 12 cùng năm và bị tử hình 3 năm sau đó. Tuy nhiên, khoảng trống quyền lực sau sự sụp đổ của chính phủ Saddam và sự quản lý sai lầm của chính phủ mới đã dẫn đến bạo lực giáo phái lan rộng giữa các nhóm Hồi giáo ShiaSunni ở trong nước, cùng với đó là một cuộc nổi dậy kéo dài chống lại lực lượng Mỹ và đồng minh. Nhiều nhóm nổi dậy bạo lực ở Iraq đã được Iranal-Qaeda tài trợ. Hoa Kỳ đã đáp trả bằng một đợt tăng cường quân số vào năm 2007 [55]. Sự gia tăng quân số của Mỹ đã mang lại sự an toàn cao hơn cho chính phủ cũng như quân đội và người dân Iraq, được nhìn nhận là một thành công lớn khi đất nước Iraq dần đi vào ổn định [56]. Sự can dự của Hoa Kỳ vào Iraq đã dần chấm dứt dưới thời Tổng thống Barack Obama. Hoa Kỳ chính thức rút tất cả quân đội chính quy khỏi Iraq vào tháng 12 năm 2011 [57]. Vào mùa hè năm 2014, Nhà nước Hồi giáo Iraq và Levant (ISIS) đã phát động một cuộc tấn công quân sự ở miền bắc Iraq và tuyên bố ý định thành lập một caliphate Hồi giáo trên toàn thế giới, dẫn tới một cuộc can thiệp quân sự khác của Hoa Kỳ và các đồng minh vào Iraq để đối phó với mối đe dọa mới này.

Mối quan hệ giữa Mỹ và Iraq đã chuyển từ đồng minh sang thù địch kể từ khi Iraq xâm lược Kuwait (một đồng minh của Mỹ) năm 1990, dẫn đến cuộc Chiến tranh vùng Vịnh lần thứ nhất. Trong vòng một thập kỷ sau đó, Hoa Kỳ cùng với LHQ đã áp đặt các biện pháp trừng phạt khắc nghiệt đối với Iraq, khiến kinh tế nước này rơi vào khủng hoảng. Năm 2003, Quốc hội và chính phủ Hoa Kỳ đã đạt được sự đồng thuận về một cuộc xâm lược Iraq. Chính quyền Bush viện dẫn lý do cho cuộc xâm lược rằng Iraq đang sở hữu vũ khí hủy diệt hàng loạt (WMDs) [58], và chính phủ Iraq đang đặt ra mối đe dọa đối với Hoa Kỳ cũng như các đồng minh của Hoa Kỳ trong khu vực [59][60]. Một số quan chức Hoa Kỳ tin rằng Saddam đang chứa chấp và hỗ trợ al-Qaeda [61], khi mà bản thân Saddam Hussein đã từng bày tỏ sự hả hê trên báo chí khi chứng kiến nước Mỹ bị khủng bố trong sự kiện ngày 11-9-2001 [62]). Tuy vậy nhìn chung đa số dư luận Mỹ ủng hộ cuộc chiến với mong muốn chấm dứt chế độ độc tài đàn áp và mang lại nền dân chủ cho nhân dân Iraq [63][64] (76% người Mỹ ủng hộ hành động quân sự chống lại Iraq [65]). Chế độ của Saddam Hussein được biết đến là đã gây ra một loạt các vụ thanh trừngdiệt chủng trong hơn 20 năm cai trị, dẫn đến cái chết của khoảng 250.000 người [66].

Năm 2004, Ủy ban 9/11 của Mỹ kết luận không có bằng chứng nào về mối quan hệ giữa chế độ Saddam Hussein và al-Qaeda [67]. Không tìm thấy kho dự trữ vũ khí hủy diệt hàng loạt hoặc chương trình sản xuất vũ khí hủy diệt hàng loạt nào đang hoạt động ở Iraq [68]. Sau khi cuộc xâm lược diễn ra thành công và Saddam Hussein bị lật đổ, Iraq đã tổ chức các cuộc bầu cử đa đảng vào năm 2005. Nouri al-Maliki trở thành Thủ tướng năm 2006 và giữ chức vụ cho đến năm 2014. Chính phủ al-Maliki ban hành các chính sách được cho là đã khiến cho căng thẳng giáo phái trong nước ngày càng trở nên tồi tệ. Chiến tranh Iraq đã gây ra hơn một trăm ngàn cái chết của dân thường và hàng chục ngàn cái chết của binh lính(xem ước tính dưới đây ). Phần lớn các trường hợp tử vong xảy ra là do các cuộc nổi dậy chống chính phủ và các cuộc xung đột giáo phái từ năm 2004 đến năm 2007.

Bối cảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Nhà độc tài Saddam Hussein

Năm 1979, Saddam Hussein trở thành tổng thống Iraq, ông ta tiếp tục các cải cách xã hội và đàn áp các đối thủ chính trị của đảng Baath. Được Mỹ và cả Liên Xô cổ vũ, ông ta tiến hành chiến tranh chống Iran. Trong cuộc chiến này, quân đội Iraq đã rất nhiều lần thực hiện các vụ tấn công bằng vũ khí hóa học, trong đó có cả những vụ tấn công nhằm vào dân thường, chẳng hạn như ở thị trấn Sardasht [69]. Hầu hết những cuộc tấn công này đều được tiến hành theo mệnh lệnh của Saddam. Tuy vậy cả Mỹ và Liên Xô đều không có phản ứng gì đối với những cáo buộc về việc quân đội Iraq sử dụng vũ khí hóa học.

Trong nước, Saddam Hussein thực hiện chiến dịch đàn áp phong trào đòi độc lập của người Kurd. Trong vụ thảm sát được tiến hành theo chỉ đạo của Saddam Hussein tại làng Halabija, khoảng 3.200 đến 5.000 người Kurd đã thiệt mạng [70][71], đây là vụ tấn công bằng vũ khí hóa học lớn nhất nhằm vào thường dân trong lịch sử, cũng là vụ tấn công bằng vũ khí hóa học có quy mô lớn nhất trong lịch sử hiện đại [72][73]. Trong chiến dịch quân sự ở Anfal (còn gọi là “Diệt chủng Anfal”), quân đội chính phủ Iraq đã giết chết khoảng 50.000-182.000 người Kurd [74]. Ước tính chế độ Saddam Hussein đã gây ra cái chết của 250.000 người Iraq thông qua các chiến dịch thanh trừng và diệt chủng trong hơn 30 năm cầm quyền [66].

Sự phản đối mạnh mẽ của thế giới đối với chế độ độc tài của Saddam Hussein đã bắt đầu kể từ khi Iraq đem quân xâm chiếm Kuwait năm 1990 [75]. Cộng đồng quốc tế đã lên án mạnh mẽ cuộc xâm lược này, và đến năm 1991, một liên minh quân sự do Hoa Kỳ lãnh đạo đã phát động Chiến tranh vùng Vịnh và thành công trong việc đánh đuổi quân đội Iraq ra khỏi lãnh thổ Kuwait.

Sau chiến tranh vùng Vịnh, Mỹ và các đồng minh đã thực hiện nhiều biện pháp để làm suy yếu chế độ Hussein. Những biện pháp này bao gồm các lệnh trừng phạt kinh tế rất khắc nghiệt của Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc khiến cho nền kinh tế Iraq rơi vào khủng hoảng; việc thực thi các khu vực cấm bay tại Iraq mà Mỹ và Anh tuyên bố là để bảo vệ cộng đồng người Kurd và người Hồi giáo Shia; cùng với đó là các cuộc thanh tra nhằm đảm bảo sự tuân thủ của Iraq đối với các nghị quyết của Liên Hợp Quốc liên quan đến kho vũ khí hủy diệt hàng loạt của Iraq.

Các cuộc thanh tra này được tiến hành bởi Ủy ban Đặc biệt của Liên Hợp quốc (UNSCOM), hợp tác với Cơ quan Năng lượng Nguyên tử Quốc tế, với mục đích đảm bảo rằng chính phủ Iraq sẽ tuân thủ nghị quyết của LHQ và phá hủy tất cả các kho dự trữ cũng như các cơ sở sản xuất vũ khí hóa học, vũ khí sinh học hoặc vũ khí hạt nhân trên toàn lãnh thổ nước này [76]. Trong khoảng một thập kỷ sau cuộc Chiến tranh vùng Vịnh, Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc đã thông qua 16 nghị quyết kêu gọi Iraq loại bỏ hoàn toàn kho vũ khí hủy diệt hàng loạt. Nhiều quốc gia thành viên của LHQ cáo buộc rằng chính phủ Iraq đã liên tục cản trở công việc thanh tra của Ủy ban đặc biệt và không thực hiện nghiêm túc nghĩa vụ giải giáp vũ khí hủy diệt hang loạt. Các quan chức chính phủ Iraq cũng đã nhiều lần quấy rối các thanh tra viên LHQ và không cho các thanh tra viên thực hiện công việc của mình [76]. Đáp trả những cáo buộc này, vào tháng 8 năm 1998 Saddam Hussein đã đình chỉ hoàn toàn việc hợp tác với các thanh tra viên LHQ và trục xuất họ về nước, ông còn cáo buộc rằng những người thanh tra viên này là “gián điệp của Mỹ” [77].

Vào tháng 10 năm 1998, lật đổ chính quyền Saddam Hussein đã trở thành trọng tâm trong chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ với việc ban hành Đạo luật Giải phóng Iraq. Đạo luật này đã cung cấp 97 triệu USD cho các "tổ chức dân chủ đối lập" ở Iraq để "thiết lập một chương trình hỗ trợ cho quá trình chuyển đổi sang nền dân chủ ở Iraq" [78]. Đạo luật này trái ngược với các điều khoản được quy định trong Nghị quyết 687 của Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc, vốn chỉ tập trung vào chương trình vũ khí hủy diệt hàng loạt của Iraq mà không đề cập gì đến việc thay đổi chế độ [79]. Một tháng sau khi Đạo luật Giải phóng Iraq được thông qua, Hoa KỳVương quốc Anh đã phát động một chiến dịch ném bom lãnh thổ Iraq có tên là "Chiến dịch Cáo sa mạc". Mục tiêu của chiến dịch này là cản trở khả năng sản xuất vũ khí hóa học, vũ khí sinh học và vũ khí và hạt nhân của chính phủ Saddam Hussein, nhưng chính phủ Mỹ cũng hy vọng nó cũng sẽ làm suy giảm sức mạnh của Saddam [80].

Sau khi George W. Bush giành thắng lợi trong cuộc bầu cử tổng thống năm 2000 , chính phủ Mỹ đã quyết tâm thực hiện một chính sách cứng rắn hơn đối với Iraq. Nền tảng chiến dịch của Đảng Cộng hòa trong cuộc bầu cử năm 2000 đã kêu gọi "thực hiện đầy đủ" Đạo Luật Giải phóng Iraq như một điểm khởi đầu trong kế hoạch tiêu diệt Saddam [81].

Các sự kiện trước cuộc chiến tranh[sửa | sửa mã nguồn]

Các chú thích của cuộc họp về những lý do có thể được sử dụng để biện minh cho cuộc xâm lược Iraq

Sau vụ khủng bố ngày 11/9, đội an ninh quốc gia của chính quyền Bush đã thảo luận nghiêm túc về một cuộc xâm lược Iraq. Tổng thống Bush đã bàn bạc với Bộ trưởng Quốc phòng Rumsfeld vào ngày 21 Tháng 11 và đưa ra những chỉ đạo cho Rumsfield về việc tiến hành kế hoạch xâm chiếm Iraq có mật danh “OPLAN 1003” [82]. Rumsfeld đã gặp Tướng Tommy Franks, chỉ huy của Bộ Tư lệnh Trung ương Hoa Kỳ vào ngày 27 tháng 11 để soạn thảo cụ thể kế hoạch. Một bản ghi chú của cuộc họp có câu hỏi "Bắt đầu như thế nào?", trong đó liệt kê nhiều lời biện minh có thể được đưa ra cho việc tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược Iraq. [83][84]. Lý do xâm chiếm Iraq như là một phản ứng đáp trả sau vụ khủng bố 11-9 đã được đặt câu hỏi rộng rãi, vì không hề tìm thấy bằng chứng cho thấy sự hợp tác giữa Saddam Husseinal-Qaeda [85].

Tổng thống Bush bắt đầu công khai ý định của ông về một cuộc xâm lược Iraq trong Bản Thông điệp Liên bang tháng 1 năm 2002, trong đó ông gọi Iraq là một trong ba thành viên của “Trục Ma quỷ” (cùng với IranBắc Triều Tiên) và tuyên bố rằng "Hoa Kỳ sẽ không cho phép các chế độ nguy hiểm nhất thế giới này đe dọa chúng ta bằng thứ vũ khí nguy hiểm nhất thế giới" [86]. Bush cũng thể hiện quyết tâm lật đổ chính quyền Saddam Hussein của Hoa Kỳ với cộng đồng quốc tế trong bài phát biểu ngày 12 tháng 9 năm 2002 trước Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc [87].

Vào tháng 10 năm 2002, Quốc hội Hoa Kỳ đã thông qua " Nghị quyết Iraq", cho phép Tổng thống "sử dụng mọi biện pháp cần thiết" để chống lại Iraq. Hầu hết người Mỹ tin rằng Saddam đang sở hữu vũ khí hủy diệt hàng loạt, mặc dù các cuộc thanh tra trước đó của LHQ đã không phát hiện ra những loại vũ khí này. Đến tháng 2 năm 2003, 64% người Mỹ ủng hộ tiến hành một chiến dịch quân sự nhằm lật đổ Saddam Hussein [88].

Vào ngày 5 tháng 2 năm 2003, Ngoại trưởng Colin Powell đã có một bài phát biểu trước Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc để đưa ra bằng chứng cho thấy chính quyền Iraq đang che giấu việc sở hữu vũ khí hủy diệt hàng loạt. Tuy nhiên, các thông tin mà Powell nêu ra hầu hết đều dựa trên tuyên bố của Rafid Ahmed Alwan al-Janabi, mang biệt danh "Curveball", là một người Iraq đang sống lưu vong ở Đức thời điểm đó. “Curveball” kể rằng anh ta từng là một kỹ sư hóa học làm việc tại một nhà máy sản xuất vũ khí hủy diệt hàng loạt bí mật của Iraq, và CIA đã sử dụng lời khai của “Curveball” làm cơ sở để cáo buộc chính quyền Saddam vẫn chưa từ bỏ chương trình chế tạo vũ khí hủy diệt hàng loạt. Tuy vậy câu chuyện của Al-Janabi về sau đã được Nhóm điều tra về Iraq của chính phủ Mỹ xác nhận là không chính xác [89]. Trên thực tế việc chính phủ Mỹ một mực khẳng định rằng Iraq “sở hữu vũ khí hủy diệt hàng loạt” hoàn toàn là do thông tin tình báo bị sai lệch, và Mỹ không hề ngụy tạo bằng chứng để làm cớ cho việc tiến hành chiến tranh.

Vào tháng 3 năm 2003, Hoa Kỳ cùng với các đồng minh của họ là Vương quốc Anh, Ba Lan, Úc, Tây Ban Nha, Đan MạchÝ đã bắt đầu chuẩn bị cho cuộc xâm lược Iraq với một loạt các động thái quân sự, trong khi Pháp, Đức, Canada cùng với Nga đã phản đối kế hoạch này và kêu gọi một giải pháp ngoại giao. Trong một bài phát biểu trước toàn quốc vào ngày 17 tháng 3 năm 2003, Bush yêu cầu Saddam và hai con trai của ông ta là Uday và Qusay hãy đầu hàng và rời khỏi Iraq trong vòng 48 giờ [90].

Hạ viện Anh đã tổ chức một cuộc bỏ phiếu để quyết định về việc nên hay không nên tiến hành chiến tranh vào ngày 18 tháng ba năm 2003, và kết quả là số nghị sĩ ủng hộ chiến tranh đã áp đảo với 412 phiếu [91]. Có ba bộ trưởng thuộc chính phủ Anh đã từ chức để phản đối cuộc chiến là John Denham, Lord Hunt of Kings Heath, và lãnh đạo Hạ viện Robin Cook .

Chú thích và tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Cuộc xung đột này cũng được gọi là Chiến tranh vùng Vịnh thứ 2 để phân biệt nó với Chiến tranh vùng Vịnh năm 1991. Ngày nay, các thuật ngữ này được sử dụng ít hơn "Chiến tranh Iraq" hay "Chiến tranh của Bush năm 2003" (tên thứ hai được sử dụng nhất là bởi các nhà hoạt động chống chiến tranh.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Reuters (31 tháng 8 năm 2010). “Iraq Hails Sovereignty as U.S. Departs”. The New York Times. Truy cập 31 tháng 8 năm 2010. 
  2. ^ New York Times: Bremer Says U.S. Was Short on Troops for Occupation of Iraq
  3. ^ “Sectarian divisions change Baghdad’s image”. MSNBC. Ngày 3 tháng 7 năm 2006. Truy cập ngày 18 tháng 2 năm 2007. 
  4. ^ “DoD News Briefing with Secretary Gates and Gen. Pace from Pentagon” (Thông cáo báo chí). U.S. Department of Defense. Ngày 2 tháng 2 năm 2007. Truy cập ngày 10 tháng 5 năm 2008. 
  5. ^ Greg Weston (16 tháng 5 năm 2011). “Canada offered to aid Iraq invasion: WikiLeaks”. CBC News. 
  6. ^ Regering. “Rapport Commissie-Davids”. rijksoverheid.nl. Truy cập ngày 26 tháng 2 năm 2017. 
  7. ^ Elaheh Rostami-Povey, Iran's Influence: A Religious-Political State and Society in Its Region, pp. 130–154, Zed Books Ltd, 2010.
  8. ^ “Archived copy” (PDF). Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 5 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 12 tháng 1 năm 2016.  Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  9. ^ https://www.nytimes.com/2007/10/07/world/middleeast/07syria.html
  10. ^ https://www.albawaba.com/news/report-former-vice-president-iraq-under-syrian-army-protection
  11. ^ President Barack Obama Speaks With VICE News. YouTube. 16 tháng 3 năm 2015. 
  12. ^ https://www.longwarjournal.org/archives/2012/07/omar_farouq_brigade.php
  13. ^ https://www.theguardian.com/world/2005/jun/08/iraq-al-qaida
  14. ^ “Operations By Iran's Military Mastermind – Business Insider”. Business Insider. 9 tháng 7 năm 2014. 
  15. ^ Fadel, Leila (13 tháng 7 năm 2010). “Amid threat, U.S. heightens security at its Iraq bases”. The Washington Post. 
  16. ^ Rubin, Alissa J.; Nordland, Rod (ngày 29 tháng 3 năm 2009). “Troops Arrest an Awakening Council Leader in Iraq, Setting Off Fighting”. The New York Times. Truy cập ngày 30 tháng 3 năm 2010. 
  17. ^ Bendern, Paul de (ngày 22 tháng 2 năm 2008). “Turkey launches major land offensive into N. Iraq”. Reuters. Truy cập ngày 22 tháng 2 năm 2008. 
  18. ^ The Brookings Institution Iraq Index: Tracking Variables of Reconstruction & Security in Post-Saddam Iraq 1 tháng 10 năm 2007
  19. ^ Ricks, Thomas E.; Ann Scott Tyson (ngày 11 tháng 1 năm 2007). “Intensified Combat on Streets Likely”. Washington Post. tr. A01. 
  20. ^ Pincus, Walter. "Violence in Iraq Called Increasingly Complex". Washington Post, 17 tháng 11 năm 2006.
  21. ^ “Toll rises in Turkey-PKK conflict”. Al Jazeera. Ngày 25 tháng 2 năm 2008. 
  22. ^ “Operation Iraqi Freedom”. iCasualties. Truy cập ngày 24 tháng 8 năm 2010. 
  23. ^ CNN http://www.cnn.com/SPECIALS/2003/iraq/forces/casualties/index.html. Truy cập ngày 30 tháng 3 năm 2010.  |tựa đề= trống hay bị thiếu (trợ giúp)
  24. ^ http://www.defenselink.mil/news/casualty.pdf
  25. ^ “Ministry of Defence | Fact Sheets | Operations Factsheets | Operations in Iraq: British Fatalities”. Mod.uk. Truy cập ngày 17 tháng 10 năm 2009. 
  26. ^ CNN http://www.cnn.com/SPECIALS/2003/iraq/forces/pow.mia/index.html. Truy cập ngày 30 tháng 3 năm 2010.  |tựa đề= trống hay bị thiếu (trợ giúp)
  27. ^ http://www.defense.gov/NEWS/casualty.pdf
  28. ^ a ă Many official U.S. tables at "Military Casualty Information". See latest totals for injury, disease/other medical. See also: Latest fatality and wounded-in-action totals.
  29. ^ "Casualties in Iraq".
  30. ^ a ă iCasualties.org (was lunaville.org). Benicia, California. Patricia Kneisler, et al., "Iraq Coalition Casualties"[liên kết hỏng].
  31. ^ a ă "Defence Internet Fact Sheets Operations in Iraq: British Casualties". U.K. Ministry of Defense. Latest combined casualty and fatality tables.
  32. ^ http://siadapp.dmdc.osd.mil/personnel/CASUALTY/oif-total.pdf
  33. ^ a ă "In outsourced U.S. wars, contractor deaths top 1,000". By Bernd Debusmann. Reuters. 3 tháng 7 năm 2007. 10,569 wounded and 933 deaths in Iraq. 224 are U.S. citizens.
  34. ^ "Iraq Coalition Casualties: Contractor Deaths – A Partial List"[liên kết hỏng]. icasualties.org
  35. ^ a ă Turkish incursion into Northern Iraq: Military Fiasco, Political Debacle | Global Research
  36. ^ Yigal Schleifer. “Turkey's Army loses luster over PKK attack | csmonitor.com”. Csmonitor.com - Correspondent of The Christian Science Monitor. Truy cập ngày 27 tháng 10 năm 2008. 
  37. ^ Steele, Jonathan (28 tháng 5 năm 2003). “Body counts”. The Guardian (London). Truy cập ngày 30 tháng 3 năm 2010. 
  38. ^ Iraq War Facts, Results & Statistics at 8 tháng 7 năm 2009 | Iraq |Axisoflogic.com
  39. ^ TKS on National Review Online
  40. ^ 2008 Election: Real Information
  41. ^ “U.S. military shuts largest detainee camp in Iraq”. Reuters. 17 tháng 9 năm 2009. Truy cập ngày 17 tháng 9 năm 2009. 
  42. ^ “US military: More than 11,000 Iraqis freed in 2008 - Yahoo! News”. News.yahoo.com. Truy cập ngày 10 tháng 9 năm 2008. [liên kết hỏng]
  43. ^ “U.S. says 11,000 Iraq detainees freed this year - Yahoo! News”. News.yahoo.com. Truy cập ngày 10 tháng 9 năm 2008. [liên kết hỏng]
  44. ^ “Iraq Body Count”. Iraq Body Count. Truy cập ngày 11 tháng 12 năm 2009. 
  45. ^ "Mortality after the 2003 invasion of Iraq: a cross-sectional cluster sample survey"[liên kết hỏng]PDF (242 KB). By Gilbert Burnham, Riyadh Lafta, Shannon Doocy, and Les Roberts. The Lancet, 11 tháng 10 năm 2006
  46. ^ The Human Cost of the War in Iraq: A Mortality Study, 2002–2006PDF (603 KB). By Gilbert Burnham, Shannon Doocy, Elizabeth Dzeng, Riyadh Lafta, and Les Roberts. A supplement to the second Lancet study.
  47. ^ [http://www.justforeignpolicy.org/iraq Total: 68,509–100,537 “Iraq Deaths”]. Just Foreign Policy. Truy cập ngày 17 tháng 10 năm 2009. 
  48. ^ Roberts, Michelle (ngày 24 tháng 2 năm 2007). “Contractor deaths add up in Iraq”. Associated Press. 
  49. ^ U.S. Office of Personnel Management
  50. ^ Flintoff, Corey (25 tháng 9 năm 2009). “Blackwater's Prince Has GOP, Christian Group Ties”. National Public Radio. Truy cập ngày 28 tháng 2 năm 2009. 
  51. ^ Gordon, Michael; Trainor, Bernard (1 tháng 3 năm 1995). The Generals' War: The Inside Story of the Conflict in the Gulf. New York: Little Brown & Co. 
  52. ^ Collins, Dan. “Congress Says Yes To Iraq Resolution”. CBS News. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 8 năm 2019. Truy cập ngày 12 tháng 3 năm 2019. 
  53. ^ “Iraq War | 2003–2011”. Encyclopædia Britannica (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 31 tháng 1 năm 2017. 
  54. ^ “Timeline: Invasion, surge, withdrawal; U.S. forces in Iraq”. Reuters. Truy cập ngày 14 tháng 3 năm 2019. 
  55. ^ Hanson, Victor Davis. “Iraq and Afghanistan: A tale of two surges”. CBS News. Truy cập ngày 14 tháng 3 năm 2019. 
  56. ^ Feller, Ben (27 tháng 2 năm 2009). “Obama sets firm withdrawal timetable for Iraq”. Yahoo! News. Associated Press. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 3 năm 2009.  Đã bỏ qua tham số không rõ |url-status= (trợ giúp)
  57. ^ “Raw Data: Text of Resolution on Iraq”. Fox News. Associated Press. Truy cập ngày 14 tháng 3 năm 2019. 
  58. ^ Center for American Progress (29 January 2004) "In Their Own Words: Iraq's 'Imminent' Threat" Lưu trữ 15 January 2016 tại Wayback Machine. americanprogress.org
  59. ^ Senator Bill Nelson (28 January 2004) "New Information on Iraq's Possession of Weapons of Mass Destruction", Lưu trữ 20 April 2016 tại Wayback Machine. Congressional Record
  60. ^ “Saddam's al Qaeda Connection”. The Weekly Standard. 
  61. ^ “Attacks draw mixed response in Mideast”. CNN. 12 tháng 9 năm 2001. Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 8 năm 2007. Truy cập ngày 29 tháng 5 năm 2014. 
  62. ^ "President Discusses the Future of Iraq" Lưu trữ 1 August 2016 tại Wayback Machine. The White House, 26 February 2003
  63. ^ "Bush Sought 'Way' To Invade Iraq?" Lưu trữ 8 October 2013 tại Wayback Machine. 60 Minutes
  64. ^ “Seventy-Two Percent of Americans Support War Against Iraq”. Gallup. 24 tháng 3 năm 2003. 
  65. ^ a ă “War in Iraq: Not a Humanitarian Intervention”. Human Rights Watch. 25 tháng 1 năm 2004. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2017. Having devoted extensive time and effort to documenting [Saddam's] atrocities, we estimate that in the last twenty-five years of Ba'ath Party rule the Iraqi government murdered or 'disappeared' some quarter of a million Iraqis, if not more. 
  66. ^ “Cheney on torture report: Saddam Hussein 'had a 10-year relationship with al-Qaida'. @politifact (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 28 tháng 5 năm 2019. 
  67. ^ “The Iraq War and WMDs: An intelligence failure or White House spin?”. The Washington Post. 2019. 
  68. ^ Daraghai, Borzou. “1987 Chemical Strike Still Haunts Iran”. Los Angeles Times. 
  69. ^ “BBC ON THIS DAY | 16 | 1988: Thousands die in Halabja gas attack”. BBC News. Truy cập ngày 28 tháng 8 năm 2013. 
  70. ^ “Halabja, the massacre the West tried to ignore”. The Times. Truy cập ngày 28 tháng 8 năm 2013. 
  71. ^ 1988 Kurdish massacre labeled genocide, United Press International (UPI), 8 March 2010
  72. ^ “Chemical Weapons Programs – Iraq Special Weapons Facilities”. Federation of American Scientists. Truy cập ngày 28 tháng 8 năm 2013. 
  73. ^ The Crimes of Saddam Hussein – 1988 The Anfal Campaign PBS Frontline
  74. ^ "World Acts Against Iraqi Invasion of Kuwait." Lưu trữ 21 September 2016 tại Wayback Machine.. GlobalSecurity.org.
  75. ^ a ă Zilinskas, Raymond A., "UNSCOM and the UNSCOM Experience in Iraq", Politics and the Life Sciences, Vol. 14, No. 2 (Aug. 1995), 230.
  76. ^ Robert Fisk (18 tháng 12 năm 2007). The Great War for Civilisation: The Conquest of the Middle East. Knopf Doubleday Publishing Group. ISBN 978-0-307-42871-4.  Digital copy, does not include page numbers.
  77. ^ “Iraq Liberation Act of 1998 (Enrolled as Agreed to or Passed by Both House and Senate)”. Library of Congress. 31 tháng 10 năm 1998. Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 7 năm 2008. Truy cập ngày 25 tháng 5 năm 2006.  Đã bỏ qua tham số không rõ |url-status= (trợ giúp)
  78. ^ “Resolution 687 (1991)”. 8 tháng 4 năm 1991. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 5 năm 2006. Truy cập ngày 25 tháng 5 năm 2006.  Đã bỏ qua tham số không rõ |url-status= (trợ giúp)
  79. ^ William, Arkin (17 tháng 1 năm 1999). “The Difference Was in the Details”. The Washington Post. tr. B1. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 9 năm 2006. Truy cập ngày 23 tháng 4 năm 2007.  Đã bỏ qua tham số không rõ |url-status= (trợ giúp)
  80. ^ “Republican Platform 2000”. CNN. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 4 năm 2006. Truy cập ngày 25 tháng 5 năm 2006. 
  81. ^ Bob Woodward (2004). Plan of Attack: The Definitive Account of the Decision to Invade Iraq. Simon & Schuster. ISBN 978-0743255486. [cần số trang]
  82. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên tv.msnbc.com
  83. ^ Michael Isikoff (16 tháng 3 năm 2013). 'Building momentum for regime change': Rumsfeld's secret memos”. MSNBC. Truy cập ngày 31 tháng 3 năm 2013. 
  84. ^ Smith, Jeffrey R. "Hussein's Prewar Ties To Al-Qaeda Discounted". The Washington Post, Friday, 6 April 2007; Page A01. Retrieved on 23 April 2007.
  85. ^ “President Delivers State of the Union Address”. georgewbush-whitehouse.archives.gov. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 5 năm 2009.  Đã bỏ qua tham số không rõ |url-status= (trợ giúp)
  86. ^ George W. Bush, "President's Remarks at the United Nations General Assembly: Remarks by the President in Address to the United Nations General Assembly, New York City", official transcript, press release, The White House, 12 September 2002. Retrieved 24 May 2007.
  87. ^ "Poll: Talk First, Fight Later". CBS.com, 24 January 2003. Retrieved on 23 April 2007.
  88. ^ Ferran, Lee (15 tháng 2 năm 2011). “Iraqi Defector 'Curveball' Admits WMD Lies, Is Proud of Tricking U.S.”. ABC News. 
  89. ^ “President Says Saddam Hussein Must Leave Iraq Within 48 Hours” (Thông cáo báo chí). White House Office of the Press Secretary. 17 tháng 3 năm 2003. Truy cập ngày 28 tháng 7 năm 2010. 
  90. ^ “Division No. 117 (Iraq)”. Hansard (Parliament of the United Kingdom) 401 (365). 18 tháng 3 năm 2003. Truy cập ngày 29 tháng 10 năm 2011. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]