Bước tới nội dung

M16

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Súng trường tấn công M16, 5,56 mm
Một khẩu M16A2
LoạiSúng trường tấn công
Nơi chế tạo Hoa Kỳ
Lược sử hoạt động
Phục vụ1963 – nay
Sử dụng bởiXem Các quốc gia sử dụng
TrậnChiến tranh Việt Nam
Chiến dịch Xuân – Hè 1972
Chiến tranh Vùng Vịnh
Chiến tranh Afghanistan
Chiến tranh Iraq
Xung đột vũ trang tại Bắc Ireland
Nội chiến Campuchia
Nội chiến Lào
Nội chiến Syria
Nổi dậy cộng sản Malaysia (1968-1989)
Nội chiến Iraq (2014 đến nay)
Khủng hoảng Marawi
Lược sử chế tạo
Người thiết kếEugene Stoner (AR-10)[1]
L. James Sullivan (AR-15)[2]
Năm thiết kế1959
Nhà sản xuất
Giai đoạn sản xuất1963 – nay[6]
Số lượng chế tạoKhoảng 8 triệu khẩu vào năm 2011 [7][8][9]
Các biến thểXem Các biến thể
Thông số (M16A2)
Khối lượngKhông có đạn:
6.37 lb (2.89 kg) (M16A1)
7.5 lb (3.40 kg) (M16A2 không có băng đạn và dây đeo)[10]
7.5 lb (3.40 kg) (M16A4)
8.81 lb (4.00 kg) (M16A4 được nạp băng đạn 30 viên và dây đeo)[11]
Chiều dài3 38,81 in (986 mm) (M16A1)
39,63 in (1.007 mm) (M16A2)
39,37 in (1.000 mm) (M16A4)
Độ dài nòng20 in (508 mm)

Đạn5,56×45mm NATO
Cơ cấu hoạt độngTrích khí trực tiếp, thoi nạp đạn xoay
Tốc độ bắn700–800 viên/phút (M16A1)[12]
700-900 viên/phút (M16A2, M16A3)[13]
800 viên/phút (M16A4)[13]
Sơ tốc đầu nòng3.150 ft/s (960 m/s) (5.56×45mm NATO M855A1)[14]
Tầm bắn hiệu quả550 m (601 yd)[15]
800 m (875 yd) [16]
Chế độ nạpBăng đạn STANAG
Băng đạn 20, 30, 40, 60 viên
Băng đạn trống Beta C-Mag 100 viên
Ngắm bắnĐiểm ruồi
Các loại ống ngắm

M16 là một loạt súng trường do hãng Colt cải tiến từ súng AR-15 của hãng ArmaLite. Đây là loại súng tác chiến bắn đạn 5,56×45mm NATO. M16 là súng thông dụng của quân đội Hoa Kỳ từ năm 1969.

M16 nhẹ, khoảng 3,1 kg, do có thành phần làm bằng thép, hợp kim, nhôm và nhựa cứng (sợi thủy tinh hoặc polymer), sử dụng kỹ thuật giảm nhiệt bằng hơi, tác động lên cò bằng khí ép, đạn nạp từ băng tiếp đạn với cơ cấu khóa nòng xoay.[17] Có ba loại khác nhau trong qua trình sản xuất súng M16. Loại đầu tiên là M16 và M16A1, sử dụng trong thập niên 1960, bắn đạn M193/M196 (hoặc .223 Remington), có thể bắn hoàn toàn tự động hay bán tự động, và hai mẫu XM16E1 và M16A1 đồng loạt được sử dụng ở chiến trường Việt Nam, sử dụng băng đạn 20 viên. Loại kế tiếp là M16A2, thập niên 1980, bắn đạn M855/M856 (do FN Herstal của Bỉ thiết kế), có khả năng bắn từng viên hay bắn từng loạt 3 viên, băng đạn được cải tiến lên 30 viên. Loại sau cùng là M16A4, súng trường tiêu chuẩn của Thủy quân lục chiến Hoa Kỳ trong chiến tranh Iraq. M16A4 và súng trường M4 Carbine dần dần được dùng thay thế M16A2, vốn đã hơi lỗi thời và kém tiện dụng. So với M16A1 và A2, M16A4 và M4/M4A1 có một số cải tiến về hình dáng ngoài: quai xách tháo rời có thể dùng để gắn kính ngắm, dụng cụ chấm mục tiêu bằng tia laser, kính nhìn ban đêm, đèn pinsúng phóng lựu.

M16A1 với hộp tiếp đạn 30 viên
Một người lính Thủy quân lục chiến Hoa Kỳ với khẩu M16A4.

Lịch sử

[sửa | sửa mã nguồn]

Bối cảnh

[sửa | sửa mã nguồn]

Vào năm 1928, một hội đồng của Lục quân Hoa Kỳ đã thực hiện các thí nghiệm các cỡ đạn tại bãi thử nghiệm Aberdeen và khuyến nghị quân đội dần chuyển sang sử dụng các cỡ đạn nhỏ hơn, cụ thẻ là cỡ đạn .27 inch (6,86mm). Do các lí do, đề xuất này bị quân đội bác bỏ và quân đội lựa chọn cỡ đạn .30 inch (7,62mm) như cỡ đạn tiêu chuẩn trong 35 năm tiếp theo.[18] Sau Thế chiến 2, quân đội Mỹ bắt đầu tìm kiếm một mẫu súng trường tự động để thay thế các khẩu M1 Garand, M1/M2, Browning M1918, M3 "Grease Gun"súng tiểu liên Thompson.[19] Tuy nhiên, các thử nghiệm về một phiên bản của khẩu M1 Garand cho kết quả đáng thất vọng.[20] Trong chiến tranh Triều Tiên, khẩu carbine M2 với chế độ bắn tự chọn thay thế hầu như cá khẩu súng tiểu liên trong biên chế quân đội Mỹ[21] và trở thành phiên bản súng carbine phổ biến nhất.[22] Tuy nhiên, các kinh nghiệm chiến trường cho thấy cỡ đạn .30 carbine có uy lực quá yếu.[23] Các nhà thiết kế vũ khí Mỹ đi đến kết luận rằng một cỡ đạn trung gian là cần thiết, và khuyến nghĩ sử dụng một cỡ đạn nhỏ với vận tốc lớn.[24]

Tuy nhiên, các chỉ huy cấp cao của Mỹ, những người đã đối mặt với các vấn đề về hậu cần trong thế chiến 2chiến tranh Triều Tiên,[25][26] quả quyết rằng phải phát triển một cỡ đạn .30 mới với sức mạnh lớn hơn, không những để dành cho súng trường tự động mà còn cần sử dụng bởi súng máy đa chức năng.[27] Điều này đã dẫn đến sự phát triển của cỡ đạn mới là 7.62×51 mm NATO.[28]

Lục quân Hoa Kỳ đã tiến hành thử nghiệm các mẫu súng mới để thay thế cho khẩu M1 Garand đã lỗi thời. Mẫu T44E4 của Springfield Armory và phiên bản nặng hơn là T44E5 vốn là phiển bản nâng cấp của khẩu M1 sử dụng cỡ đạn 7.62 mm, trong khi hãng Fabrique Nationale của Bỉ đã đưa khẩu FN FAL với mã định danh T48. ArmaLite tham gia cuộc thi muộn hơn, đưa một vài khẩu AR-10 phiên bản thử nghiệm vào mùa thu năm 1956 tới kho vũ khí Springfield của lục quân Hoa Kỳ để tiến hành thử nghiệm.[29] Phiên bản AR-10 có một thiết kế nòng thẳng hàng với báng tân tiến so với thời bấy giờ, với hộp khóa nòng được gia công từ nhôm và báng làm từ polyme (phenol formaldehyde).[30] Nó cũng có thước ngắm cao hơn so với nòng, loa che lửa bằng nhôm [chú thích 1], và hệ thống trích khí với khả năng tùy chỉnh.[32] Nguyên mẫu cuối cùng có hộp khóa nòng với bản lề và các chốt giống với các phiên bản hiện tại, cần lên đạn được đặt phía trên hộp tiếp đạn thay vì đặt bên trong tay xách súng.[29] So với một khẩu súng dùng cỡ đạn 7.62 mm NATO, khẩu AR-10 có khối lượng nhẹ một cách đáng kinh ngạc với chỉ 6,85 lb (3,11 kg) khi không đạn.[33] Các phản hồi của Springfield Armory là tích cực, và một số người thử nghiệm còn cho rằng AR-10 là khẩu súng trường hạng nhẹ tốt nhất mà họ từng thử nghiệm.[34] Nhưng cuối cùng, Lục quân Mỹ quyết định chọn mẫu T44 vào biên chế với định danh M14,[28] vốn là phiên bản nâng cấp của khẩu M1 Garand với băng đạn 20 viên và chế độ bắn tự động.[35][chú thích 2] Quân đội Hoa Kỳ cũng chấp nhận biên chế súng máy đa chức năng M60.[28] Các nước thành viên NATO cũng đưa vào biên chế mẫu FN FALHK G3, cũng như các súng máy đa chức năng FN MAGRheinmetall MG3.

Cuộc đối đầu đầu tiên giữa AK-47 và M14 xảy ra vào phần đầu của chiến tranh Việt Nam. Các báo cáo chiến trường cho thấy khẩu M14 khi bắn ở chế độ tự động giật một cách không thể kiểm soát và binh sĩ không thể mang đủ đạn để duy trì lợi thế hỏa lực so với khẩu AK-47.[37] Và trong khi khẩu M2 có tốc độ bắn cao hơn, sức xuyên và hỏa lực của nó hoàn toàn bị áp đảo bởi AK-47.[38] Một sự thay thế là cần thiết, một khẩu súng nằm giữa hỏa lực tốt của khẩu M14 và hỏa lực hạng nhẹ của khẩu M2.[39]

Như một kết quả tất yếu, Lục quân buộc phải xem xét đề xuất năm 1957 của tướng Willard G. Wyman để phát triển súng trường có chế độ bắn tùy chọn với băng đạn khoảng 20 viên sử dụng cỡ đạn .223-inch caliber (5.56 mm) và nặng khoảng 6 lb (2,7 kg).[40] Cỡ đạn 5.56 mm phải có thể xuyên được mũ bảo vệ tiêu chuẩn của quân đội Mỹ ở khoảng cách 500 thước Anh (460 mét) và duy trì được vận tốc siêu âm khi giữ được khả năng sát thương của cỡ đạn .30 carbine.[41]

Yêu cầu này dẫn đến một phiên bản thu nhỏ của khẩu Armalite AR-10, với cái tên ArmaLite AR-15.[42] Mẫu AR-15 được giới thiệu lần đầu bởi Eugene Stoner tại Fort Benning vào tháng 5 năm 1957.[43] Khẩu AR-15 dùng cỡ đạn .22, vốn mất sự ổn định sau khi bắn trúng cơ thể người, trái ngược với cỡ đạn .30 khi nó xuyên thẳng qua.. Cỡ đạn nhỏ hơn cũng có nghĩa là khi bắn ở chế độ tự động khẩu súng cũng có thể dễ kiểm soát hơn. Với khối lượng chỉ bằng một phần ba cỡ đạn .30 cũng có nghĩa rằng binh sĩ có thể mang nhiều đạn hơn với khối lượng đạn mang theo là tương đương. Vì các cải tiến về kĩ thuật, AR-15 có thể bắn với tốc độc 600 đến 700 viên/phút với tỉ lệ kẹt đạn rất thấp. Các chi tiết máy được chế tạo bằng phương pháp dập, không phải thao tác thủ công nên có thể sản xuất hàng loạt một các dễ dàng, và phần báng cũng làm bằng nhựa để giảm trọng lượng.[18]

Biên chế

[sửa | sửa mã nguồn]
Từ trên xuống dưới: M16A1, M16A2, M4A1, M16A4

Vào tháng bảy năm 1960, tướng Curtis LeMay cảm thấy ấn tượng bởi sự thể hiện của khẩu ArmaLite AR-15. Vào mùa hè năm 1961, tướng LeMay được bổ nhiệm chức vụ tư lệnh Không quân Hoa Kỳ và ông đã đặt hàng 80.000 khẩu AR-15s. Tuy nhiên, tướng Maxwell D. Taylor, Chủ tịch Hội đồng tham mưu trưởng liên quân, đưa ra lời khuyên tổng thống John F. Kennedy rằng có hai cỡ đạn khác nhau trong biên chế sẽ tạo ra vấn đề và đơn hàng trên bị hủy bỏ.[44] Tháng 10 năm 1961, William Godel, một nhân viên kỳ cựu tại DARPA, đã gửi 10 khẩu AR-15 tới Nam Việt Nam. Những đánh giá gửi về là tích cực, vì vậy ông đã gửi thêm 1.000 khẩu vào năm 1962. [45] Binh sĩ của đơn vị đặc nhiệm Lục quân đã viết báo cáo rằng họ rất thích khẩu AR-15 và sức mạnh của cỡ đạn 5.56 mm và mong muốn rằng nó được đưa vào biên chế.[35]

Sát thương gây ra bởi đạn 5.56 mm do sự nhiễu động của viên đạn khi nó xuyên vào mục tiêu gây ra bởi tỉ lệ xoắn 14 inch (360 mm) của nòng súng.[46] Tuy nhiên, mọi đầu đạn chì đều có sự nhiễu động như vậy sau khi xuyên vào da thịt, bởi vì trọng tâm của đầu đạn được đặt ở rìa sau viên đạn. Vết thương được quan sát thấy ở Việt Nam cho thấy rằng sát thương để gây ra vởi các mảnh vỡ của đạn kết hợp bởi vận tốc và cấu trúc của viên đạn.[47] [48]

Mặc dù các bằng chứng cho thấy AR-15 có thể mang tới nhiều hỏa lực hơn khẩu M14, Lục quân lại không muốn biên chế mẫu súng mới.[49] Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ Robert McNamara bây giờ đứng giữa hai luồng ý kiến: báo cáo từ ARPA[50] cho rằng khẩu AR-15 là tốt hơn và các quan chức Lục quân lại ưa chuộng khẩu M14.[35] Kể cả tổng thống Kennedy cũng bày tỏ sự lo ngại, nên McNamara ra lệnh cho tham mưu trưởng Lục quân Cyrus Vance, thử nghiệm cả M14, AR-15 và AK-47.Báo cáo từ Lục quân cho thấy M14 phù hợp với biên chế, nhưng Vance lo ngại về các sai sót trong thử nghiệm. Ông ra lệnh Thanh tra Lục quân điều tra các thử nghiệm này và cho thấy các thử nghiệm có sự thiên vị rõ rệt với khẩu M14.

Tháng một năm 1963, bộ trưởng McNamara nhận được các báo cáo về quá trình sản xuất M14 không hiệu quả và không đạt được yêu cầu từ quân đội.[35] Vào thời điểm đó, AR-15 là khẩu súng duy nhất có thể đáp ứng đủ yêu cầu về một vũ khí bộ binh đa năng có thể đưa vào biên chế. McNamara yêu cầu đưa vào biên chế mẫu súng, mặc dù gặp một số nhược điểm, đáng kể nhất là nòng súng không được mạ chrom.[51]

Vào năm 1964, Lục quân nhận được báo cáo rằng DuPont không thể sản xuất hàng loạt loại thuốc súng IMR 4475 để khớp với yêu cầu của M16. Vì vậy, Tập đoàn Olin đã cung cấp thuốc súng mới. Mặc dù mẫu thuốc súng WC 846 của Olin có thể đạt được vận tốc 3.300 ft (1.000 m) trên giây tại đầu nòng, nó sản sinh nhiêu tàn thuốc súng hơn và dẫn đến khẩu súng dễ kẹt đạn nếu không thường xuyên vệ sinh đúng cách.[18]

Từ tháng ba năm 1965, Lục quân bắt đầu biên chế XM16E1 tới các đơn vị bộ binh. Tuy nhiên, khẩu súng ban đầu không đi kèm với một bộ bảo quản súng tử tế[35] hay bất kì hướng dẫn nào do những lời quảng cáo từ hãng Colt rằng vật liệu của M16 khiến nó cần rất ít bảo dưỡng, dẫn đến hiểu lầm rằng nó có khả năng tự làm sạch.[52] Hơn nữa, việc bảo dưỡng súng thường được thực hiện với những dụng cụ không chính thống, như thuốc xịt côn trùng, nước, nhiên liệu máy bay càng làm tăng sự hao mòn của khẩu súng.[53] Như một hệ quả tất yếu, các báo cáo về kẹt đạn bắt đầu xuất hiện từ chiến trường.[35] Vấn đề nổi bật nhất có lẽ là lỗi kẹt vỏ đạn, vỏ đạn sau khi bắn bị kẹt trong nòng.[35][54] Tài liệu cho thấy những người lính Mỹ chết khi khẩu súng của họ bị tháo rời dẫn đến một cuộc điều tra của Quốc hội Mỹ:[55]

Chúng tôi có 72 người trong trung đội nhưng chỉ có 19 người sống sót trở về... Dù bạn tin hay không, bạn biết cái gì giết chúng tôi nhiều nhất không? Chính khẩu súng của chúng tôi. Hầu như mọi người đồng đội đã hy sinh của chúng tôi đều được tìm thấy với khẩu M16 bị tháo rời bởi họ đang cố gắng sửa nó.

Một người lính Thủy quân Lục chiến Hoa Kỳ, Việt Nam.[56]

Vào tháng 2 năm 1967, phiên bản cải thiện XM16E1 được nhận tên định danh M16A1.[57] Súng trường mới có nòng được mạ chrom để loại bỏ sự ăn mòn với một số sửa đổi khác.[35] Bộ bảo quản súng mới và dầu bôi trơn cũng được trang bị cho binh sĩ. Các bài huấn luyện tập trung vào việc bảo quản súng cũng được thực hiện, trong đó còn có các ấn phẩm dạng truyện tranh.[58] Kết quả là, các vấn đề về độ tin cậy đã được giải quyết phần lớn và M16A1 đã được quân đội Hoa Kỳ tại Việt Nam sử dụng rộng rãi.[59]

Vào năm 1969, khẩu M16A1 chính thức thay thế M14 để trở thành súng trường tiêu chuẩn của quân đội Mỹ.[60][61] Vào năm 1970, mẫu thuốc súng WC 844 được sử dụng để giảm lỗi trong hoạt động.[62]

Colt, H&R, và GM sản xuất M16A1 trong giai đoạn chiến tranh Việt Nam.[63] M16s được sản xuất bởi Colt những năm cuối thập niên 1980 trước khi FN Herstal (FN USA) bắt đầu sản xuất mẫu súng.[64]

Độ tin cậy

[sửa | sửa mã nguồn]

Trong giai đoạn đầu phục vụ, M16 có tiếng với độ tin cậy kém với tỷ lệ trục trặc khoảng 2/1000 viên bắn.[65] M16 hoạt động bằng cách dẫn khí thuốc áp suất cao (lấy từ lỗ trích khí trên nòng) qua ống dẫn khí vào cụm mang khóa trong cụm thân súng trên. Khí đi từ ống khí vào chìa nạp khí trên cụm khóa nòng, rồi vào bên trong thân mang, nơi nó giãn nở trong một piston dạng vòng. Vì thoi nạp đạn bị nòng súng chặn không cho tiến thêm, thân mang sẽ bị khí giãn nở đẩy lùi về sau, biến năng lượng khí thành chuyển động của các bộ phận súng. Phần sau của đầu khóa đóng vai đầu piston, còn lòng rỗng trong thân mang là thân piston. Dù người ta thường nói M16 dùng “trích khí trực tiếp”, cách gọi này không chính xác; đúng hơn phải nói nó dùng hệ piston bên trong thân cụm khóa nòng[66] Tuy nhiên, hệ thống này phụ thuộc vào loại đạn, vì không có cổng/van khí điều chỉnh, nên không thể tinh chỉnh súng cho các đặc tính áp suất khác nhau theo thuốc phóng, đầu đạn hay chiều dài nòng.

Hệ thống vận hành của M16 do Stoner thiết kế nhẹ và gọn hơn so với thiết kế piston–dẫn khí. Tuy nhiên, thiết kế này đồng thời dẫn cả muội súng và các sản phẩm khác từ vỏ đạn đã bắn vào thân súng. Muội carbon và kim loại bay hơi tích tụ trong hộp khóa nòng và thoi nạp đạn làm giảm độ tin cậy, buộc người lính phải bảo dưỡng kỹ hơn. Việc dẫn khí vào thân mang khóa khi vận hành cũng tăng lượng nhiệt truyền vào hộp khóa nòng khi bắn và làm cháy mất lớp bôi trơn thiết yếu. Vì vậy cần bôi trơn đúng loại, thường xuyên và đủ nhiều.[67] Thiếu bôi trơn đúng cách là nguyên nhân phổ biến nhất gây kẹt súng.[68]

Mẫu M16 nguyên bản đã hoạt động rất kém trong môi trường rừng núi Việt Nam và nổi tiếng với sự kém tin cậy trong môi trường khắc nghiệt. Max Hastings đã chỉ trích rất nhiều vấn đề nghiêm trọng của M16 trên chiến trường khi các lỗi thiết kế đang được bộc lộ rõ. Ông nói thêm trên tạp chí Shooting Times rằng ông đã trải nghiệm nhiều lỗi liên tiếp khi thử nghiệm một khẩu M16 và nghĩ rằng các lỗi này sẽ được sửa khi khẩu súng được đưa vào biên chế, nhưng sự thật lại không như vậy. Nhiều lính Thủy quân lục chiến và binh sĩ rất tức giận với vấn đề tin cậy của khẩu súng đến mức họ bắt đầu đề cập trong các bức thư gửi về nhà, và vào ngày 26 tháng 3 năm 1967, tờ Washington Daily News đã đăng câu chuyện này.[69] Về sau, M16 trở thành tâm điểm của cuộc điều tra của Quốc hội Hoa Kỳ.[70]

Cuộc điều tra đã vạch trần rằng:[71]

  • M16 được cung cấp cho binh sĩ không đi kèm bộ bảo quản súng và binh sĩ không được hướng dẫn bảo quản đúng cách.
  • Súng M16 và loại đạn 5,56×45mm NATO vốn được thử nghiệm và phê duyệt khi dùng thuốc phóng DuPont IMR8208M dạng đùn. Về sau, chúng bị chuyển sang dùng thuốc phóng Olin Mathieson WC846 dạng bi, vốn tạo cặn bẩn nhiều hơn rất nhiều, nhanh chóng làm kẹt cơ cấu chuyển động của M16, trừ khi súng được vệ sinh kỹ và thường xuyên.
  • M16 không có cần trợ lực đóng khóa nòng, khiến súng có thể không hoạt động nếu cụm nòng–khóa nòng không tiến hết về trước.
  • M16 không có mạ crôm buồng đạn, tạo điều kiện cho ăn mòn và góp phần gây lỗi kéo vỏ, được xem là vấn đề nghiêm trọng nhất, đôi khi phải dùng biện pháp “mạnh” để khắc phục, như luồn cần vệ sinh từ đầu nòng xuống và đóng mạnh để đẩy vỏ đạn kẹt ra.
Bìa trước – “Súng trường M16A1 – Vận hành và Bảo dưỡng Phòng ngừa” do Will Eisner biên soạn, phát cho binh sĩ Mỹ trong Chiến tranh Việt Nam..

Khi các vấn đề này được đề cập và khắc phục với khẩu M16A1, các vấn đề liên quan đến độ tin cậy của súng giảm rõ rệt.[57] Theo báo cáo năm 1968 của Bộ Lục quân Hoa Kỳ, súng trường M16A1 được đón nhận rộng rãi từ binh sĩ Mỹ đóng tại Việt Nam.[72]“Phần lớn binh sĩ mang M16 ở Việt Nam đánh giá cao hiệu năng của khẩu súng này; tuy vậy, nhiều người vẫn có đôi chút hoài nghi về độ tin cậy của M16. Khi được hỏi muốn mang loại vũ khí nào trong chiến đấu, 85% cho biết họ muốn M16 hoặc phiên bản carbine ngắn hơn của nó, XM177E2.” Ngoài ra: “M14 được 15% ưa thích, trong khi dưới 1% muốn mang súng trường Stoner, AK-47, carbine [M1] hoặc súng ngắn.”[73]Vào tháng 3 năm 1970, “Nhóm Ủy ban Bảo vệ Dải băng Xanh của Tổng thống” (President’s Blue Ribbon Defense Panel) kết luận rằng việc trang bị M16 đã cứu sống khoảng 20.000 binh sĩ Hoa Kỳ trong Chiến tranh Việt Nam—những người lẽ ra đã thiệt mạng nếu M14 vẫn tiếp tục được sử dụng.[74] Tuy nhiên, danh tiếng của M16 bị ảnh hưởng đến tận 2011.[75]

Một nguyên nhân nền tảng khác gây kẹt trên M16 được các cán bộ tiếp liệu xác định: họ phát hiện Stoner và các hãng đạn ban đầu đã thử nghiệm AR-15 với thuốc phóng DuPont IMR8208M dạng đùn. Về sau, các nhà sản xuất đạn chuyển sang dùng Olin Mathieson WC846 dạng bi dễ kiếm hơn. Thuốc phóng dạng bi tạo đỉnh áp suất buồng đạn kéo dài hơn, dẫn tới hiệu ứng thời điểm không mong muốn. Khi bắn, vỏ đạn nở ra và bịt kín buồng đạn. Khi đỉnh áp bắt đầu giảm, vỏ đạn co lại và có thể được kéo ra. Với thuốc phóng dạng bi, do đỉnh áp kéo dài, vỏ chưa co đủ tại thời điểm kéo vỏ. Bộ kéo vỏ khi đó không nhổ được vỏ, có thể xé rách vành vỏ đạn, để lại một vỏ đạn bịt kín trong buồng đạn.[76]

Sau khi đưa vào sử dụng M4 carbine, người ta phát hiện chiều dài nòng ngắn hơn (14,5 inch) cũng làm giảm độ tin cậy, vì lỗ trích khí nằm gần buồng đạn hơn so với súng trường M16 tiêu chuẩn: 7,5 inch so với 13 inch.[77]Điều này ảnh hưởng đến nhịp vận hành của M4 và làm tăng ứng suất cùng nhiệt lên các cụm chi tiết then chốt, từ đó giảm độ tin cậy.[77] Trong một đánh giá năm 2002, Thủy quân Lục chiến Hoa Kỳ (USMC) kết luận M4 thường trục trặc gấp ba lần so với M16A4 (M4 hỏng 186 lần/69.000 viên, trong khi M16A4 hỏng 61 lần).[78] Sau đó, Lục quân và hãng Colt đã tiến hành các sửa đổi đối với M4 và M16A4 để khắc phục các vấn đề được phát hiện.[78] Trong các thử nghiệm năm 2005 và 2006, Lục quân ghi nhận trung bình các M4/M16 mới bắn khoảng 5.000 viên giữa các lần kẹt.[78][79]

Tháng 12 năm 2006, Trung tâm Phân tích Hải quân (CNA) công bố báo cáo về vũ khí bộ binh Mỹ trong tác chiến, dựa trên khảo sát 2.608 quân nhân vừa trở về từ Iraq và Afghanistan trong 12 tháng, chỉ bao gồm những người đã nổ súng vào mục tiêu địch; trong số này, 1.188 người (46%) trang bị M16A2/A4. Kết quả cho thấy 75% người dùng M16 (891 người) hài lòng với vũ khí; 60% (713 người) hài lòng với khả năng thao tác như ốp tay, kích thước và trọng lượng, còn trong 40% không hài lòng thì phần lớn phàn nàn về kích thước. Chỉ 19% (226 người) báo cáo gặp kẹt súng, và 80% trong số đó nói sự cố ít ảnh hưởng đến khả năng xử lý kẹt và tiếp tục giao chiến; một nửa người dùng M16 từng gặp lỗi tiếp đạn do hộp tiếp đạn. Có 83% (986 người) không cần sửa chữa súng trong thời gian làm nhiệm vụ; 71% (843 người) tin cậy vào độ tin cậy (vũ khí bắn không trục trặc) và 72% (855 người) tin cậy vào độ bền (không gãy/hỏng, không cần sửa), những đánh giá này được cho là nhờ mức độ bảo dưỡng cao do binh sĩ thực hiện. Đồng thời, 60% người dùng M16 đề xuất cải tiến như tăng sát thương đầu đạn, cấp súng mới thay vì tân trang, hộp tiếp đạn chất lượng hơn, giảm trọng lượng và trang bị báng gập/điều chỉnh; một số khuyến nghị dùng vũ khí ngắn nhẹ hơn như carbine M4.[80] Một số vấn đề sau đó đã được khắc phục với hộp tiếp đạn STANAG cải tiến phát hành tháng 3/2009,[81][82] và đạn M855A1 (Enhanced Performance Round) vào tháng 6/2010.[83]

Đầu năm 2010, hai phóng viên của The New York Times đã dành ba tháng cùng binh sĩ Lục quân và Thủy quân Lục chiến Mỹ tại Afghanistan. Tại đây, họ hỏi khoảng 100 lính bộ binh về độ tin cậy của súng trường M16 cũng như carbine M4. Những người được hỏi không báo cáo vấn đề về độ tin cậy của súng. Dù chỉ 100 người được khảo sát, họ đều tham chiến hằng ngày ở Marja, gồm ít nhất hàng chục trận đánh ác liệt tại tỉnh Helmand, nơi mặt đất phủ lớp cát mịn (binh sĩ gọi là “bụi mặt trăng”) rất dễ bám vào vũ khí[84] Súng thường bám bụi, ướt và lấm bùn; các trận đấu súng dữ dội kéo dài hàng giờ với nhiều băng đạn được bắn hết. Chỉ một binh sĩ báo bị kẹt sau khi khẩu M16 của anh bị bùn phủ kín khi trèo khỏi kênh; súng được xử lý kẹt và bắn lại ngay với viên tiếp theo vào buồng đạn. Ngoài ra, sĩ quan kỹ thuật phụ trách huấn luyện và đánh giá vũ khí của Tiểu đoàn 3, Trung đoàn 6 TQLC cho biết: “Chúng tôi hầu như không gặp vấn đề gì; không có trục trặc,” với 350 khẩu M16 và 700 khẩu M4 của đơn vị.[84]

Thiết kế

[sửa | sửa mã nguồn]
Video về nguyên mẫu súng trường 5.56mm, XM16E1, cách hoạt động và cơ chế
Piston bên trong M16

M16 là súng trường tấn công cỡ 5,56 mm, nhẹ, làm mát bằng không khí, hoạt động bằng trích khí, sử dụng hộp tiếp đạn, dùng khóa nòng xoay. Hộp khóa nòng làm từ hợp kim nhôm 7075; nòng, khóa nòng và thân mang khóa nòng làm bằng thép; ốp tay, tay cầm súng ngắn và báng súng làm bằng nhựa.

Cơ cấu piston trong của M16 được kế thừa từ cơ cấu gốc của ArmaLite AR-10AR-15. Hệ thống khí do Eugene Stoner thiết kế này thường được gọi là trích khí trực tiếp, nhưng thực tế không phải là kiểu trích khí trực tiếp thông thường. Trong Bằng sáng chế Hoa Kỳ số 2.951.424, nhà thiết kế nêu rõ: “Phát minh này là một hệ thống khí giãn nở thực thụ, thay vì hệ thống trích khí thông thường.″[85] Hệ thống dẫn khí, thân mang khóa nòng và cơ cấu khóa nòng của M16 phụ thuộc vào loại đạn sử dụng, vì súng không có lỗ trích khí để tùy chỉnh hoạt động theo các đặc tính áp suất khác nhau do thuốc phóng, đầu đạn hay chiều dài nòng gây ra.

M16A1 đặc biệt nhẹ, nặng 7,9 pound (3,6 kg) với băng đạn 30 viên.[86] Con số này nhẹ hơn đáng kể so với M14 mà nó thay thế,tận 10,7 pound (4,9 kg) với băng đạn 20 viên.[87] So với AKM, M16A1 cũng nhẹ hơn (AKM 8,3 pound (3,8 kg)) với băng 30 viên).[88]

M16A2 nặng 8,8 lb (4,0 kg) khi lắp băng 30 viên do nhận cấu hình nòng dày hơn. Nòng dày chống hư hại tốt hơn khi thao tác thô bạo và chậm quá nhiệt hơn khi bắn liên tục. Khác với nòng dày toàn bộ chiều dài, nòng M16A2 chỉ dày ở đoạn phía trước ốp tay; phần nòng bên dưới ốp tay vẫn giữ như M16A1 để tương thích với súng phóng lựu M203.

Nòng súng

[sửa | sửa mã nguồn]

Các mẫu M16 đời đầu dùng nòng có 4 rãnh, xoắn phải, bước xoắn 1 vòng/14 inch (tương đương 1:355,6 mm hay 64 calibers) đúng loại xoắn dùng cho đạn thể thao .222 Remington. Sau khi phát hiện trong điều kiện bất lợi, đầu đạn quân dụng có thể lắc và đảo hướng trên quỹ đạo ở cự ly xa, bước xoắn đã được chỉnh lại. Các mẫu M16 đời sau và M16A1 dùng 6 rãnh, xoắn phải, 1 vòng/12 inch (1:304,8 mm hay 54,8 calibers) để tăng độ chính xác và ổn định tốt cho đạn M193 ball và M196 tracer. M16A2 và các mẫu hiện nay được tối ưu cho đạn nặng hơn NATO SS109 ball và đạn vạch đường L110, với 6 rãnh, xoắn phải, 1 vòng/7 inch (1:177,8 mm hay 32 calibers).[89][90]

Đạn M193 ball và M196 tracer có thể bắn bằng nòng 1 vòng/7 inch (1:177,8 mm/32 calibers). Đạn NATO SS109 ball và L110 tracer chỉ nên dùng khẩn cấp ở cự ly dưới 90 m (98 yd) với nòng 1 vòng/12 inch (1:304,8 mm/54,8 calibers), vì bước xoắn này không đủ để ổn định các đầu đạn đó.[91] Những vũ khí được thiết kế để ổn định cả M193 lẫn SS109 (như các bản sao dân sự) thường dùng nòng 6 rãnh, xoắn phải, 1 vòng/9 inch (1:228,6 mm/41,1 calibers) hoặc 1 vòng/8 inch (1:203,2 mm/36,5 calibers); ngoài ra các tốc độ xoắn 1:7 inch cũng phổ biến.

Lực giật

[sửa | sửa mã nguồn]

Hệ thống Stoner (của M16) tạo ra một thiết kế rất đối xứng, cho phép các cụm chuyển động vận hành theo đường thẳng. Nhờ đó, lực giật truyền thẳng về phía sau. Thay vì dùng các thanh nối hay cơ cấu cơ khí khác để dẫn động, khí thuốc áp suất cao đảm nhiệm chức năng này, giúp giảm khối lượng các bộ phận chuyển động và giảm trọng lượng khẩu súng nói chung.[66]

M16 sử dụng thiết kế giật lùi “thẳng trục”, trong đó lò xo giật đặt trong báng súng ngay phía sau cụm khóa nòng,[60] kiêm lò xo hoạt động và bộ đệm giật.[60] Việc báng nằm thẳng hàng với trục nòng cũng giảm hất nòng, đặc biệt khi bắn tự động. Do lực giật không làm lệch đáng kể điểm ngắm, người bắn có thể bắn loạt tiếp theo nhanh hơn và đỡ mệt hơn. Ngoài ra, trên các mẫu M16 hiện nay, bộ triệt chớp lửa còn đồng thời đóng vai trò bù giật để giảm giật thêm nữa.[86]

Độ giật[92]
M16
Động năng 40.4 lb-ft/s
Vận tốc 5,1 ft/s (1,6 m/s)
Năng lượng 3,2 ft⋅lb (4,3 J)

Ghi chú: Độ giật tự do được tính dựa trên khối lượng súng, khối lượng đầu đạn, vận tốc đầu nòng và khối lượng thuốc phóng.[92] Đây là giá trị sẽ đo được nếu bắn súng khi nó treo bằng dây và tự do giật lùi.[92] Cảm nhận độ giật của một khẩu súng còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác khó định lượng một cách trực tiếp.[92]

Lỗ ngắm

[sửa | sửa mã nguồn]
Hình ảnh ngắm qua lỗ ngắm 0,070 in (1,78 mm)
M16A2 với lỗ ngắm sau không đánh dấu dùng cho các tình huống bắn thông thường đang được dựng lên. Lỗ ngắm lớn hơn, đánh dấu '0-2', đang được gập xuống.
Thước ngắm sau có thể điều chỉnh, bộ phận hất vỏ đạn và bộ phận trợ lực đóng khóa nòng của M16A2

Đặc điểm công thái học nổi bật nhất của M16 là tay xách súng và lỗ ngắm sau được gắn vào phía trên thân súng. Thiết kế này được thừa hưởng từ mẫu AR-10, khi mà tay xách súng có thể tùy chỉnh cho từng cự li bắn và cũng để bao vệ tay lên đạn .[60] Tay xách của M16 cũng có rãnh và lỗ ở đáy tay cần để có thể lắp kính ngắm Colt 3×20 với núm để điều chỉnh theo độ rơi của đạn ở khoảng cách 100 đến 500 yd (91 đến 457 m). Điều này phù hợp với tầm bắn của các mẫu trước M16A2 với tầm bắn hiệu quả tối đa vào khoảng 460 m (503 yd).[93] Kính ngắm Colt 3×20 được điều chỉnh tại nhà máy để không có thị sai ở khoảng cách 200 yd (183 m).[94][95] Ở Delft, hãng Artillerie-Inrichtingen của Hà Lan đã sản xuất mẫu kính ngắm tương tự với mẫu 3×25 để tương thích với tay xách.[96]

Đường ngắm của M16 có bán kính đường ngắm 19,75 in (502 mm).[89] Khi các thiết kế của lỗ ngắm sau, chốt ngắm trước và đầu ruồi được sửa đổi theo thời gian và các kính ngắm quang học cùng các loại đạn mới được đưa vào sử dụng, quy trình hiệu chỉnh tâm ngắm cũng thay đổi.[97]

Hê thống đầu ngắm ban ngày "Daylight Sight System" sử dụng trên các mẫu trước M16A2 dùng hai lỗ ngắm đặt trên một thanh chữ L, có thể chuyển đổi nhanh với hai lỗ ngắm sau với tình huống tác chiến ở cự li ngắn 0 đến 300 m (0 đến 328 yd) và tầm xa 300 đến 400 m (328 đến 437 yd), đánh dấu là 'L'.[98] Hệ thống "Daylight Sight System" của các phiên bản trước M16A2 có các mức hiệu chuẩn tầm ngắn và tầm xa là 250 và 375 m (273 và 410 yd) khi sử dụng loại đạn M193.[98] Thước ngắm sau được trang bị một trống điều chỉnh độ lệch gió có thể tùy chỉnh trong quá trình hiệu chuẩn với mỗi nấc chia khoảng 1 MOA. Đầu ruồi là một cọc tròn thuôn nhọn có đường kính xấp xỉ 0,0625 in (1,59 mm), có thể điều chỉnh trong khi hiệu chuẩn với các nấc chia khoảng 1 MOA. Việc thực hiện hiệu chuẩn (hoặc hiệu chuẩn lại) đường ngắm đòi hỏi phải có một viên đạn hoặc dụng cụ chuyên dụng.[99][97]

Một hệ thống thay thế khác thời trước mẫu M16A2 là "Low Light Level Sight System", bao gồm một cọc đầu ruồi tích hợp nguồn sáng yếu từ sự phát quang phóng xạ tritium bên trong một ống thủy tinh nhỏ, đi kèm thước ngắm sau có hai lỗ ngắm. Lỗ ngắm có đường kính 2 mm (0,079 in) đánh dấu chữ 'L' dùng cho mục đích thông thường ở khoảng cách lên đến 460 m (503 yd) và một lỗ ngắm lớn đường kính 7 mm (0,276 in) dành cho việc bắn đêm.[98] Quy định yêu cầu cọc đầu ruồi phát quang phải được thay thế nếu đã quá 144 tháng (12 năm) kể từ ngày sản xuất.[100] Các nấc điều chỉnh độ cao và độ lệch gió của hệ thống này thô hơn một chút so với hệ thống "Daylight Sight System".[98]

Với sự ra đời của M16A2, một thước ngắm sau có khả năng điều chỉnh toàn diện nhưng phức tạp hơn đã được bổ sung, cho phép xoay bánh xe cao độ để thiết lập các mức khoảng cách cụ thể từ 300 và 800 m (328 và 875 yd) với mỗi nấc chia 100 m, đồng thời cho phép điều chỉnh độ lệch gió bằng núm vặn mà không cần dùng đến viên đạn hay dụng cụ hỗ trợ. Lỗ ngắm sau không đánh dấu với đường kính khoảng 0,070 in (1,78 mm) dùng cho các tình huống bắn thông thường, hiệu chuẩn súng và kết hợp với núm chỉnh độ cao để bắn mục tiêu lên đến 800 mét. Nhược điểm của các lỗ ngắm sau tương đối nhỏ là lượng ánh sáng truyền qua ít hơn và trường nhìn bị hạn chế. Một lỗ ngắm mới lớn hơn với đường kính khoảng 0,2 in (5,08 mm) được đánh dấu '0-2' và có vạch chỉ số thiết lập độ lệch gió, cung cấp trường nhìn rộng hơn trong điều kiện chiến đấu và được sử dụng như một vòng ngắm mờ để bắt mục tiêu nhanh hoặc trong điều kiện tầm nhìn hạn chế. Khi gập xuống, vạch lệch gió được khắc trên đỉnh vòng lỗ ngắm '0-2' sẽ hiển thị thiết lập độ lệch gió đã chọn trên thang đo phía sau cụm thước ngắm. Khi lỗ ngắm thông thường được hiệu chuẩn ở mức 300 m với đạn SS109/M855 (lần đầu sử dụng trên M16A2), lỗ ngắm '0-2' sẽ được hiệu chuẩn ở mức 200 m. Cọc đầu ruồi cũng được mở rộng lên đường kính khoảng 0,075 in (1,91 mm) chuyển sang dạng vuông và có thể điều chỉnh khi hiệu chuẩn với các nấc chia khoảng 1.2 MOA.[101][102]

Phiên bản M16A4 đã loại bỏ tay xách và cụm thước ngắm cố định trên thân súng. Thay vào đó, nó trang bị thân trên phẳng với đường ray Picatinny (MIL-STD-1913) để lắp đặt các thiết bị ngắm quang học khác nhau, hoặc một tay xách rời mới tích hợp cụm thước ngắm kiểu M16A2. Hiện nay, súng carbine M4A1 trang bị cho Lục quân và Không quân Hoa Kỳ đi kèm với kính ngắm Aimpoint CompM2 và thước ngắm sắt dự phòng.[103] Thủy quân lục chiến Hoa Kỳ sử dụng kính ngắm tác chiến ACOG[104][105] trong khi Hải quân Hoa Kỳ sử dụng kính ngắm hologram EOTech.[106]

Các biến thể

[sửa | sửa mã nguồn]
M16A4 với kính ngắm ACOG, ray Picatinny và chân chống chữ Y.
Thủy quân Lục chiến Hoa Kỳ tập bắn M16A3.

Phiên bản đầu tiên của dòng M16, cải tiến từ khẩu AR-15, có ốp lót tay hình tam giác và hộp tiếp đạn 20 viên. Tuy nhiên, loại súng này rất dễ kẹt đạn vì hãng Colt làm nhẹ các bộ phận chuyển động của mẫu AR-15 đi.

Cải tiến từ M16, sửa một số lỗi, đặc biệt ít kẹt đạn hơn hẳn. Thay đổi rõ rệt nhất là M16A1 có một cần đẩy với nút nhấn ở bên phải cò súng (Foward Assist) giúp thay đạn nhanh hơn. Phiên bản hoàn chỉnh được thông qua và sản xuất vào năm 1967.

Đây là phiên bản cải tiến lớn của dòng súng M16. Ngoài thay đổi về độ xoắn nòng, Colt cũng trang bị cho M16A2 một nòng dày và chịu lực tốt hơn, giúp chống uốn cong và cho phép bắn trong thời gian dài. Đặc biệt, nó có một loa che lửa mới giúp tránh bám bụi tốt hơn. Ngoài ra, hãng Colt còn thay đổi ốp lót tay của súng từ dạng tam giác sang dạng tròn với nhiều vân giúp cầm nắm dễ dàng hơn. Đặc biệt, M16A2 không còn chế độ bắn tự động mà thay vào đó là điểm xạ loạt 3 viên. Được thông qua và sử dụng vào đầu những năm 1980. M16A2 còn là tiền đề để hãng Colt thiết kế khẩu M4A1 danh tiếng của họ

Cải tiến từ M16A2 với chức năng chọn chế độ bắn: tự động, bán tự động và khoá an toàn. Được sử dụng với số lượng nhỏ, chủ yếu trong một số lực lượng của Thủy quân lục chiến Hoa Kỳ.

Phiên bản cuối cùng của dòng M16, được chia thành hai loại chính với các chế độ bắn khác nhau. Phiên bản có số hiệu R0901/ NSN 1005-01-383-2872 có 3 chế độ: khóa an toàn, bán tự động và tự động hoàn toàn. Còn phiên bản R0905 có 3 chế độ là: khóa an toàn, bán tự động và loạt 3 viên. Phiên bản này được nhận xét là tốt nhất trong dòng súng M16 với khả năng tản nhiệt tốt hơn và giảm tỉ lệ bị kẹt đạn đi rất nhiều lần so với các phiên bản trước. Ngoài ra, Colt đã gỡ bỏ quai xách đặc trưng phía bên trên thân súng và thay vào đó là hệ thống ray Picatinny hoàn chỉnh, giúp súng có khả năng gắn được nhiều loại kính ngắm hơn.

Các quốc gia sử dụng

[sửa | sửa mã nguồn]
Các quốc gia sử dụng M16 trên thế giới.

M16 là súng trường được sản xuất phổ biến thứ hai ( sau AK-47 ) trên thế giới. Hiện tại, M16 đang được sử dụng bởi 15 quốc gia NATO và hơn 80 quốc gia trên toàn thế giới. Nhiều công ty ở Hoa Kỳ, CanadaTrung Quốc đã sản xuất hơn 8.000.000 khẩu súng trường của tất cả các biến thể M16. Khoảng 90% trong số chúng vẫn đang được sử dụng hết sức rộng rãi. M16 đã thay thế súng trường M14 và súng M2 Carbine làm súng trường bộ binh tiêu chuẩn của lực lượng vũ trang Hoa Kỳ, mặc dù M14 vẫn được sử dụng hạn chế, chủ yếu là hỗ trợ trong chiến đấu và sử dụng trong các nghi lễ.

Khoảng 8 triệu khẩu M16 thuộc mọi phiên bản đã được sản xuất và bán cho nhiều lực lượng, đã hoặc đang là súng trường tấn công tiêu chuẩn của 10 nước:

Cùng hơn 80 quốc gia khác trên thế giới.

Quốc gia cũ từng sử dụng

[sửa | sửa mã nguồn]

Phiến quân khủng bố

[sửa | sửa mã nguồn]

Xung đột

[sửa | sửa mã nguồn]

M16 xuất hiện các sự kiện chiến tranh, xung đột, nội chiến như sau:

(Lưu ý: Thông tin có thể sai sót hoặc thiếu các sự kiện chiến tranh, nội chiến, xung đột.)

Thập niên 1960:

Thập niên 1970:

Thập niên 1980:

Thập niên 1990:

Thập niên 2000:

Thập niên 2010:

Thập niên 2020:

Chú thích

[sửa | sửa mã nguồn]
  1. National Rifle Association of America (2018), tr. 1.
  2. Chasmar (2016), tr. 1; Ezell (2001), tr. 1.
  3. "Forgotten M16A1 Rifle Manufacturers – GM/Hydra-Matic and Harrington & Richardson – Part II". Small Arms Review. ngày 20 tháng 12 năm 2022. Truy cập ngày 20 tháng 12 năm 2022.
  4. "Forgotten M16A1 Rifle Manufacturers: GM/Hydra-Matic and Harrington & Richardson – Part I". Small Arms Review. ngày 15 tháng 12 năm 2022. Truy cập ngày 15 tháng 12 năm 2022.
  5. "U.S. Army places order for 24,000 M4A1 carbines with Remington". Military Times. ngày 21 tháng 4 năm 2012. Truy cập ngày 21 tháng 4 năm 2012.
  6. Mizokami, Kyle (ngày 21 tháng 9 năm 2021). "The Story Behind the Legendary M16 Rifle". The National Interest. Truy cập ngày 21 tháng 9 năm 2021.
  7. Rottman (2011), tr. 74.
  8. "M16: The Weapon That Changed The World". Forces News. ngày 21 tháng 10 năm 2019. Truy cập ngày 21 tháng 10 năm 2019.
  9. "M16: 4 Incredible Facts You Might Not Know". The National Interest. ngày 22 tháng 12 năm 2023. Truy cập ngày 22 tháng 12 năm 2023.
  10. Department of the Army & Department of the Air Force (1991), tr. 26.
  11. Department of the Army & Department of the Air Force (1991), tr. 26; McNab, Shumate & Gilliland (2021), tr. 13.
  12. Rottman (2011), tr. 26.
  13. 1 2 Rottman (2011), tr. 40.
  14. Clark (2012), tr. 1.
  15. PEO Soldier (2011), tr. 1.
  16. Army Study Guide (2005), tr. 1.
  17. tiếng Anh: Rotating bolt - một cơ động nạp và khóa cò trong hộp súng.
  18. 1 2 3 Fallows (1981), tr. 56-65.
  19. Ehrhart (2009), tr. 12-16; Rottman (2011), tr. 6.
  20. Schreier (2001), tr. 1.
  21. Rottman (2011), tr. 6.
  22. Thompson (2011), tr. 35.
  23. Canfield (2010), tr. 1.
  24. Hall (1952), tr. 593.
  25. Pacific War Historical Society (2010).
  26. Appleman (1992), tr. 20; Godfrey (2003), tr. 44-49; Gropman (1997), tr. 25; Hughes & Johnson (2005), tr. 47.
  27. Harrison (1957), tr. 15-17; Rose (2008), tr. 4; Williams (2014), tr. 1.
  28. 1 2 3 Harrison (1957), tr. 15-17.
  29. 1 2 Pikula (1998), tr. 36, 38.
  30. Pikula (1998), tr. 27-29.
  31. Pikula (1998), tr. 38.
  32. Pikula (1998), tr. 27-30.
  33. Pikula (1998), tr. 36, 38".
  34. Lewis (1962), tr. 21; Pikula (1998), tr. 39-40.
  35. 1 2 3 4 5 6 7 8 Bruce (2002), tr. 20-27.
  36. Jane's International Defense Review, April 2003, p.43.
  37. Bruce (2002), tr. 20-27; Emerson (2006), tr. 1.
  38. Rottman (2011), tr. 41.
  39. Godfrey (2003), tr. 44-49.
  40. Ehrhart (2009), tr. 16-19.
  41. Hutton (1970), tr. 32-41.
  42. Ezell và đồng nghiệp (1993), tr. 46-47; Kern (2006), tr. 10; Kokalis (2010), tr. 1.
  43. Rottman (2011), tr. 8.
  44. Rose (2008), tr. 372.
  45. Rose (2008), tr. 372–373.
  46. Bruce (2002), tr. 20-27; Rose (2008), tr. 372.
  47. AR15.com (2008).
  48. Rose (2008), tr. 373.
  49. Bruce (2002), tr. 20-27; Kern (2006), tr. 10.
  50. DARPA (1962).
  51. Defense Technical Information Center (DTIC) (1968), tr. 5; Sweeney & Ferguson (2004), tr. 240.
  52. Rottman (2011), tr. 20.
  53. Rottman (2011), tr. 24.
  54. The New York Times, At War Blog, November 12, 2009.
  55. Bruce (2002), tr. 20-27; Fuerbringer (1967), tr. 7.
  56. Fuerbringer (1967), tr. 7.
  57. 1 2 Ezell và đồng nghiệp (1993), tr. 46-47.
  58. Eisner (1968), tr. 4; Rottman (2011), tr. 79.
  59. Bruce (2002), tr. 20-27; Coomer (1968), tr. 7.
  60. 1 2 3 4 Ezell và đồng nghiệp (1993), tr. 746–762.
  61. Urdang (1968), tr. 801.
  62. Watters (2004), tr. 1.
  63. Iannamico, Frank (ngày 15 tháng 12 năm 2022). "Forgotten M16A1 Rifle Manufacturers: GM/Hydra-Matic and Harrington & Richardson – Part I". smallarmsreview.com. Truy cập ngày 15 tháng 4 năm 2025.
  64. Rosenthal (1988), tr. 32.
  65. HCAS Hearings (1969), tr. 2326.
  66. 1 2 Armalite (2010).
  67. Ehrhart (2009), tr. 39.
  68. Ehrhart (2009), tr. 39-41.
  69. Hastings (2018), tr. 350-354.
  70. Kahaner (2007), tr. 236.
  71. Defense Technical Information Center (DTIC) (1968), tr. 5.
  72. Coomer (1968), tr. 10.
  73. Coomer (1968), tr. 25.
  74. Hallock (1970), tr. 18-33.
  75. Ezell và đồng nghiệp (1993), tr. 46-47; Rottman (2011), tr. 30.
  76. Fenix Ammunition, History of the .223... (2021).
  77. 1 2 Armalite (2003).
  78. 1 2 3 Defense Industry Daily (2011).
  79. Jenkins & Lowrey (2004), tr. 25.
  80. Russell (2006), tr. 25.
  81. The Firearm Blog, 13 June 2009.
  82. The Firearm Blog, 16 December 2009.
  83. Picatinny Arsenal, 24 June 2010.
  84. 1 2 The New York Times, At War Blog, July 7, 2010.
  85. Patent US2951424 (1956).
  86. 1 2 Meehan (1985), tr. 32.
  87. Lambert (1965), tr. 4.
  88. AK-47 Technical Description (2010).
  89. 1 2 Colt, M16 5.56mm Rifle (2003).
  90. Cooke (2005), tr. 1; Hickerson (1991), tr. 9; Hogg & Weeks (1985), tr. 195-196; Simpson (2011), tr. 1.
  91. Cooke (2005), tr. 1.
  92. 1 2 3 4 KS, Recoil Calculator.
  93. Hickerson (1991), tr. 9.
  94. RBR, Early Colt 3× Scope (2020).
  95. RBR, Late Colt 3× Scope (2020).
  96. RBR, Delft 3x25 Scope (2020).
  97. 1 2 ARM, New Zeroing Procedures (2018).
  98. 1 2 3 4 Meehan (1985), tr. 50-52.
  99. Fitchett (2023), tr. 1; Meehan (1985), tr. 50-52.
  100. Hickerson (1991), tr. 145.
  101. Meehan (1985), tr. 53; Venola (2005), tr. 6-18.
  102. The New Rifleman (2016).
  103. Department of the Air Force (2004), tr. 183; Henderson (2010), tr. 1.
  104. Defense Industry Daily (2005).
  105. Trijicon® (2011).
  106. Hopkins (2009), tr. 1.
  107. "M-16 Rifle Fact File for the United States Army". Army.mil. Truy cập ngày 22 tháng 8 năm 2010.
  108. Exposición del Ejército Argentino en Palermo, Buenos Aires- Mayo de 2005. saorbats.com.ar
  109. 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 Jane's Special Forces Recognition Guide, Ewen Southby-Tailyour (2005) p. 446
  110. Report of the Bahrain Independent Commission of Inquiry (PDF) (Báo cáo). Bahrain Independent Commission of Inquiry. ngày 23 tháng 11 năm 2011.
  111. "AR 15 (M16/M4)". SALW Guide.
  112. 1 2 3 4 5 "Report: Profiling the Small Arms Industry – World Policy Institute – Research Project". World Policy Institute. tháng 11 năm 2000. Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 10 năm 2017. Truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2010.{{Chú thích web}}: Quản lý CS1: năm (liên kết)
  113. Working Papers Lưu trữ ngày 4 tháng 7 năm 2010 tại Wayback Machine. Small Arms Survey (2011-05-05). Truy cập 2011-09-27.
  114. 1 2 Miller, David (2001). The Illustrated Directory of 20th Century Guns. Salamander Books Ltd. ISBN 1-84065-245-4.
  115. "Bản sao đã lưu trữ". Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 9 năm 2011. Truy cập ngày 27 tháng 7 năm 2012.
  116. Jane's Sentinel Security Assessment – Southeast Asia. Issue 20 – 2007. Pages 146 and 152.
  117. "Eesti Kaitsevägi – Tehnika – Automaat M-16 A1". Mil.ee. Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 6 năm 2008. Truy cập ngày 8 tháng 9 năm 2008.
  118. Gander, Terry J.; Hogg, Ian V. Jane's Infantry Weapons 1995/1996. Jane's Information Group; 21 edition (May 1995). ISBN 978-0-7106-1241-0.
  119. "First steps to arming Iraq's soldiers". BBC News. ngày 18 tháng 5 năm 2007. Truy cập ngày 12 tháng 5 năm 2010.
  120. Unwin, Charles C.; Vanessa U., Mike R., biên tập (2002). 20th Century Military Uniforms (ấn bản thứ 2). Kent: Grange Books. ISBN 1-84013-276-3. {{Chú thích sách}}: Kiểm tra giá trị |isbn=: giá trị tổng kiểm (trợ giúp)
  121. "Lietuvos kariuomenė:: Ginkluotė ir karinė technika » Automatiniai šautuvai » Automatinis šautuvas M-16". Kariuomene.kam.lt. ngày 17 tháng 4 năm 2009. Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 3 năm 2010. Truy cập ngày 22 tháng 8 năm 2010.
  122. "Recession? What Recession? - CNN iReport". CNN. Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 1 năm 2016. Truy cập ngày 27 tháng 7 năm 2012.
  123. Sharma, Sushil (ngày 6 tháng 1 năm 2003). "Nepal takes delivery of US rifles". BBC News. Truy cập ngày 12 tháng 5 năm 2010.
  124. "Pakdef.info — Pakistan Military Consortium: Special Service Group". Saad, S.; Ali, M.; Shabbir, Usman. 1998. Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 5 năm 2011. Truy cập ngày 15 tháng 8 năm 2009.
  125. "Army seeks Sénégal ear-choppers". BBC News. ngày 9 tháng 5 năm 2008. Truy cập ngày 12 tháng 5 năm 2010.
  126. Smith, Chris (tháng 10 năm 2003). In the Shadow of a Cease-fire: The Impacts of Small Arms Availability and Misuse in Sri Lanka (PDF). Occasional Paper No. 11. Small Arms Survey. tr. 13. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 5 tháng 7 năm 2017. Truy cập ngày 6 tháng 9 năm 2018.
  127. "Australian weapons, Viet Nam and since". Diggerhistory.info. ngày 11 tháng 11 năm 2002. Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 8 năm 2010. Truy cập ngày 22 tháng 8 năm 2010.
  128. Poyer, Joe. "Modern Firearms – AR-15 M16 M16A1 M16A2 M16A3 assault rifle". World.guns.ru. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 2 năm 2010. Truy cập ngày 22 tháng 8 năm 2010.

Nguồn tham khảo

[sửa | sửa mã nguồn]

Further reading

Liên kết ngoài

[sửa | sửa mã nguồn]
  1. Về sau đựuoc làm bằng titan.[31]
  2. Theo Jane's International Defense Review: "The M14 is basically an improved M1 with a modified gas system and detachable 20-round magazine."[36]
Lỗi chú thích: Tồn tại thẻ <ref> cho nhóm chú thích với tên "chú thích", nhưng không tìm thấy thẻ <references group="chú thích"/> tương ứng