Heckler & Koch MP5

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Heckler & Koch MP5
Súng MP5
Loại Súng tiểu liên
Nguồn gốc Flag of Germany.svg Đức
Lược sử hoạt động
Trang bị 1966-nay
Quốc gia sử dụng  Đức
 Việt Nam (trang bị cho cảnh sát đặc nhiệm)
Sử dụng trong  ?
Lược sử chế tạo
Nhà thiết kế Tilo Möller,
Manfred Guhring,
Georg Seidl,
Helmut Baureuter
Năm thiết kế 1964
Nhà sản xuất Heckler & Koch,Oberdorf/Neckar
Giá thành 1465$(MP5SF) đến 2490$(MP5SD)
Giai đoạn sản xuất 1966-nay
Số lượng chế tạo  ?
Các biến thể Xem Sử dụng
Thông số kỹ chiến thuật
Khối lượng 2.54 kg (MP5A2, MP5A4)
3.08 kg (MP5A3, MP5A5)
2 kg (MP5K, MP5KA1, MP5KA4, MP5KA5)
2.78 kg(MP5K-PDW)
2.80 kg (MP5SD1, MP5SD4)
3.10 kg (MP5SD2, MP5SD5)
3.60 kg (MP5SD3, MP5SD6)
2.67 kg fixed stock / 2.85 kg folding stock (MP5/10)
2.67kg fixed stock / 2.85 kg folding stock (MP5/40)
Chiều dài Fixed stock: 680 mm (MP5A2, MP5A4, MP5/10, MP5/40)
790 mm (MP5SD2, MP5SD5)
Telescoping stock: 700 mm stock extended / 550 mm stock collapsed (MP5A3, MP5A5)
603 mm stock extended / 368 mm stock folded (MP5K-PDW)
805 mm stock extended / 670 mm stock collapsed (MP5SD3, MP5SD6)
660 mm stock extended / 490 mm stock collapsed (MP5/10, MP5/40)
Receiver end cap: 325 mm (MP5K, MP5KA1, MP5KA4, MP5KA5)
349 mm (MP5K-PDW)
550 mm (MP5SD1, MP5SD4)

225 mm (MP5A2, MP5A4, MP5A3, MP5A5, MP5/10, MP5/40)
115 mm (MP5K, MP5KA1, MP5KA4, MP5KA5)
140 mm (MP5K-PDW)
146 mm (MP5SD1, MP5SD4, MP5SD2, MP5SD5, MP5SD3, MP5SD6)

Chiều rộng 50 mm (MP5A2, MP5A4, MP5A3, MP5A5, MP5K, MP5KA1, MP5KA4, MP5KA5, MP5K-PDW, MP5/10, MP5/40)
60 mm (MP5SD1, MP5SD4, MP5SD2, MP5SD5, MP5SD3, MP5SD6)
Chiều cao 260 mm (MP5A2, MP5A4, MP5A3, MP5A5, MP5SD1, MP5SD4, MP5SD2, MP5SD5, MP5SD3, MP5SD6, MP5/10, MP5/40)
210 mm (MP5K, MP5KA1, MP5KA4, MP5KA5, MP5K-PDW)

Đạn 9x19mm Parabellum
10mm Auto (MP5/10)
.40 S&W (MP5/40)
Cỡ đạn 9 mm
Cơ cấu hoạt động Roller-delayed blowback, closed bolt
Tốc độ bắn 800 rounds/min (MP5A2, MP5A4, MP5A3, MP5A5) 700 rounds/min (MP5SD1, MP5SD4, MP5SD2, MP5SD5, MP5SD3, MP5SD6)
900 rounds/min (MP5K, MP5KA1, MP5KA4, MP5KA5, MP5K-PDW)
Sơ tốc 400 m/s (MP5A2, MP5A4, MP5A3, MP5A5)
375 m/s (MP5K, MP5KA1, MP5KA4, MP5KA5, MP5K-PDW)
285 m/s (MP5SD1, MP5SD4, MP5SD2, MP5SD5, MP5SD3, MP5SD6)
425 m/s (MP5/10)
315 m/s (MP5/40)
Tầm bắn hiệu quả 25 đến 200 m sight adjustments
Tầm bắn xa nhất  ?
Cơ cấu nạp 15 or 30-round detachable box magazine
Ngắm bắn Rear: rotary drum; front: hooded post

MP5súng tiểu liên 9 mm đo Đức thiết kế, phát triển vào thập niên 1960 bởi nhóm kỹ sư thuộc nhánh công xưởng Tây Đức của Heckler & Koch GmbH (H&K). MP5 lần đầu tiên được giới thiệu năm 1966 với tên HK54. Tên MP5 xuất phát từ Maschinenpistole 5 (súng tiểu liên mẫu số 5). Do sự thành công của mẫu G3, công ty H&K quyết định phát triển 4 nhóm súng với cỡ đạn khác nhau (dựa trên thiết kế mẫu G3): 7,62x51mm NATO, 7,62x39mm M43, 5,56x45mm NATO, 9x19mm Parabellum. Khẩu MP5 là mẫu thứ tư, có tên ban đầu là HK54.

MP5 là khẩu súng có uy lực bắn không lớn nhưng bù lại nó có độ giật thấp khi bắn tốc độ bắn nhanh; nhỏ gọn, nhẹ tiện lợi và có thể lắp thêm phụ kiện như ống giảm thanh, kính ngắm laser... nên khẩu tiểu liên này rất được các đội đặc nhiệm nổi tiếng trên thế giới ưa dùng như đặc nhiệm Hải quân Mỹ Navy SEAL, đặc nhiệm SWAT (Mỹ), Hiến binh Pháp (GIGN), đặc nhiệm GSG-9 (Đức). Nhưng do có sức công phá yếu, nên MP5 không thể cạnh tranh với các khẩu súng nổi tiếng như AK47, M16 trên chiến trường.

Được nhà sản xuất Heckler & Koch phát triển trong khoảng những năm 60 của thế kỷ XX, tính đến thời điểm hiện tại, MP5 với khả năng cơ động, gọn nhẹ đã trở thành sự lựa chọn của không ít những lực lượng đặc nhiệm, cảnh sát trên toàn thế giới. Việt Nam cũng trang bị cho một số lực lượng cảnh sát đặc nhiệm phiên bản MP5k (phiên bản rút gọn của MP5) và MP5A3.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

MP5 là súng tiểu liên 9 mm đo Đức thiết kế, phát triển vào thập niên 1960 bởi nhóm kỹ sư thuộc nhánh công xưởng Tây Đức của Heckler & Koch GmbH (H&K). MP- 5 lần đầu tiên dược giới thiệu năm 1966 với tên HK54. Tên MP-5 xuất phát từ Maschinenpistole 5 (súng tiểu liên mẫu số 5). 

MP-5 là khẩu súng có uy lực bắn không lớn nhưng bù lại nó có độ giật thấp khi bắn tốc độ bắn nhanh; nhỏ gọn, nhẹ tiện lợi và có thể lắp thêm phụ kiện như ống hãm thanh, kính ngắm laser... nên khẩu tiểu liên này rất được các đội đặc nhiệm nổi tiếng trên thế giới ưa dùng như đặc nhiệm Hải quân Mỹ Navy SEAL, đặc nhiệm SWAT (Mỹ), Hiến binh Pháp (GIGN), đặc nhiệm GSG-9 (Đức). Nhưng do có sức công phá yếu, nên MP5 không thể cạnh tranh với các khẩu súng nổi tiếng như AK47, M16 trên chiến trường. Sự thành công của MP-5 có thể nói là ngoài mong đợi của nhà sản xuất. Những yếu tố của thành công đó là chất lượng cao và độ tin cậy của súng, khả năng bắn phát một chính xác, rất linh hoạt.

Thiết kế và hoạt động[sửa | sửa mã nguồn]

MP5, về cơ bản giống với khẩu súng trường tấn công HK G-3 với nòng rãnh xoắn, 3 chế độ bắn khác nhau và cơ chế búa điểm hỏa. Ban đầu MP5 sử dụng băng đạn thẳng với cơ chế nạp đạn chậm blowback, sau đó được cải tiến với băng đạn hơi cong có thể nạp 15 hoặc 30 viên và cơ cấu nạp đạn trích khí ngang. Khi viên đạn đi được từ 2/3 đến 3/4 nòng súng (tùy theo từng loại), một lượng khí nén nhất định thoát qua một lỗ nhỏ trên nòng súng, được dẫn vào một xi lanh đặt dọc theo thân súng, ép lên thoi đẩy nối liền với khóa nòng, đẩy khóa nòng lùi về phía sau. Vì lượng khí được trích ra rất nhỏ nên ảnh hưởng của nó không đáng kể đến sơ tốc đầu đạn. Hệ thống trích khí ngang có ưu điểm làm giảm đáng kể sức giật lên toàn bộ thân súng, giúp cho xạ thủ xạ kích ổn định, đạn bắn ra chụm hơn trên mục tiêu. 

Dùng cơ cấu móc vỏ đạn bằng then xoay. Cơ cấu này là cụm khóa nòng gồm then móc đạn và vỏ khóa nòng lắp đồng tâm, đồng trục. Trên then xoay móc đạn có 3 hoặc 4 mấu dương. Trên hộp chứa then móc đạn có 3 hoặc 4 rãnh âm, bước rãnh từ 15 cm đến 30 cm tùy theo cự li tiến-lùi của khóa nòng. Khi khóa nòng lùi sau, móc trên then móc đạn vừa lùi vừa xoay quanh gờ bám của vỏ đạn. Lực kéo tác động đều lên toàn bộ chu vi gờ móc của vỏ đạn, giúp cho việc thoát vỏ đạn dễ dàng hơn. Lực tác động lên vỏ đạn đồng đều và kéo thẳng về phía sau, hạn chế độ lệch khi móc vỏ đạn làm việc, giúp đường đạn đi thẳng đúng theo trục thước ngắm - nóng súng. Nhược điểm của cơ cấu này là nó làm giảm tốc độ bắn của súng do thời gian thải vỏ đạn và đẩy viên đạn mới vào buồng dạn dài hơn kiểu móc thẳng. Để khắc phục nhược điểm này, người ta tăng lực đẩy của lò so và tăng khối lượng thuốc đạn, giảm kích thước đầu đạn để tăng thêm lượng khí đẩy khóa nòng lùi sau. Kết quả là làm tăng tốc độ bắn nhưng động năng của đầu đạn lại giảm đi, cự ly sát thương cũng giảm theo. 

MP5 sử dụng cơ cấu ngắm bắn  khe ngắm – đầu ruồi,  cơ cấu này dùng vật chuẩn thứ nhất (đầu ruồi) hình chữ I đặt trong khe ngắm hình chữ V, chia đôi khe sáng ở khe ngắm thành hai phần bằng nhau, đầu ruồi ngang bằng với vai ngắm. Đường ngắm cơ bản đi qua đầu ruồi. Tùy theo cấu tạo, yêu cầu tác xạ mà có loại súng dạng "ngắm đâu trúng đó" và có loại súng "ngắm dưới trúng trên". Phương pháp ngắm dưới trúng trên thường được hệ thống vũ khí khối Warsava (cũ) sử dụng, có độ lệch lên từ 12 đến 20 cm tùy theo loại súng. Cơ cấu này có ưu điểm là xạ thủ quan sát được toàn bộ phần trên (phần quan trọng nhất) của mục tiêu. Cách lấy đường ngắm cơ bản tuy phức tạp hơn nhưng nếu tập luyện tốt có thể đạt hiệu quả cao hơn phương pháp "vòng tròn đồng tâm" trong điều kiện tác chiến ác liệt, đối phương phát huy hỏa lực mạnh. Trong điều kiện chiến đấu thực tế, không cần độ chính xác cao mà chỉ cần sát thương đối phương với yêu cầu tương đối chính xác, chỉ cần đặt đầu ruồi trong khe ngắm là đủ để xác định hướng bắn. Còn tầm đạn sẽ bị sức giật chi phối. Điều này đặc biệt hiệu quả khi dùng với súng có cơ chế giảm giật bằng đầu nòng vát xuống. Khi khe ngắm và đầu ruồi bị đất, bùn hoặc các chất bẩn bám vào, việc lau chùi và khôi phục khe sáng dễ dàng và nhanh, đáp ứng được điều kiện chiến đấu khẩn trương. Tuy nhiên có thể thay bằng ống ngắm quang học, kính nhìn đêm hay kính red-dot.

Súng có ba chế độ bắn, bao gồm: an toàn, bán tự động bắn 1 viên, tự động bắn liên tục. Trang bị loại đạn cỡ 10mm (10x25mm) và 40S&W (10x22mm). Tốc độ bắn 800 viên / phút, tốc độ đạn 400 m/s, tầm bắn hiệu quả 25m đến 100m, tầm bắn tối đa 150 m.

Phụ kiện và các biến thể[sửa | sửa mã nguồn]

Giống như khẩu M4 Carbine, MP5 được trang bị nhiều phụ kiện giúp tối ưu hóa khả năng sử dụng trong nhiều trường hợp khác nhau. Rãnh barrel nòng súng có thể lắp thêm đèn flash, ngắm bắn laser, ống phóng lựu 22mm có khả năng trang bị lựu đạn hơi cay, nòng giảm thanh.

Trong khi tất cả các khẩu MP-5 đều có thể tích hợp ống giảm thanh, thì đã có hẳn một phiên bản giảm thanh hoàn toàn của họ MP-5, đó là MP-5SD3 hay SD2 (phụ thuộc vào loại báng cố định hay rút vào). Phiên bản này có ống giảm thanh gắn hoàn toàn vào súng, có nòng để giảm vận tốc viêc đạn xuống dưới vận tốc âm thanh (330 m/s). MP-5SD có thể bắn bất kì loại đạn 9mm, ko nhất thiết phải là đạn cận âm. 

MP5K  là phiên bản rút gọn, không có báng súng đỡ vai, kích thước và trọng lượng giảm đáng kể chưa đến 2 kg và chỉ dài khoảng 32 cm nên rất dễ dàng mang theo, tính cơ động tăng cao. Được sử dụng trong các hoạt động bí mật, những khu vực hẹp và hạn chế về không gian, được sử dụng để bảo vệ những nhân vật quan trọng. Các biến thể khác là MP5K, MP5KA4, MP5KA1, MP5KA5. 

Phiên bản dành cho hải quân MP5N có khả năng chống nước, trang bị đèn chiếu sáng tritium có khả năng chiếu xa hơn 200m, nòng giảm thanh và 4 chế độ: an toàn, bán tự động 1 viên, burst 3 viên và chế độ tự động. Đây là một trong những vũ khí yêu thích nhất được sử dụng bởi những người lính thuộc lực lượng SEAL.


Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Hình ảnh
Cảnh sát đặc nhiệm Hà Nội diễu hành với MP-5 trong Đại lễ 1000 năm Thăng Long