Bước tới nội dung

Trận Cao Bằng (1979)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Trận Cao Bằng
Một phần của Chiến tranh biên giới Việt–Trung 1979

Xe tăng Trung Quốc bị bắn cháy tại bản Sẩy, thị trấn Nước Hai, Hoà An, Cao Bằng
Thời gian17 tháng 2 – 5 tháng 3 1979
Địa điểm
Kết quả Trung Quốc chiến thắng[1]
Tham chiến
Trung Quốc Trung Quốc Việt Nam Việt Nam
Chỉ huy và lãnh đạo
Hứa Thế Hữu Đàm Văn Ngụy
Lực lượng
~84.000[2]–200,000[3] 1 sư đoàn chính quy[4] (2 sư đoàn sau ngày 1 tháng 3)
~15.000 quân địa phương, lính biên phòng và dân quân tự vệ.
Thương vong và tổn thất
Theo Việt Nam:
18.000 thương vong
157 xe tăng, thiết giáp và xe quân sự bị phá huỷ[5]
Không rõ
1.500 dân thường thiệt mạng
450 dân thường bị bắt[6]

Trận Cao Bằng là trận chiến giữa Quân đội Giải phóng Nhân dân Trung Quốc (QĐTQ) và Quân đội Nhân dân Việt Nam (QĐNDVN) tại thành phố Cao Bằng và vùng phụ cận, từ đầu Chiến tranh Trung-Việt từ ngày 17 tháng 2 đến ngày 6 tháng 3 năm 1979.[7]

Sau khi chiếm được Cao Bằng vào ngày 25 tháng 2, các lực lượng Trung Quốc vẫn phải vật lộn trong nhiều ngày để giành quyền kiểm soát các khu vực khác trong tỉnh nhằm chống lại sự phòng vệ mạnh mẽ của Việt Nam. Mặc dù mục tiêu của phía Trung Quốc là đánh và tiêu diệt một số đơn vị chủ lực của Quân đội Nhân dân Việt Nam, Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc chủ yếu chạm trán các đơn vị nhỏ của Bộ đội Biên phòng Việt Nam và lực lượng Dân quân tự vệ.

Sau khi chiếm được Cao Bằng, quân Trung Quốc tiếp tục chiếm xã Đức Long trên Quốc lộ 4 vào ngày 3 tháng 3. Đến ngày 5 tháng 3, sau khi chiếm được thị xã Lạng Sơn, theo lời các nhà phân tích “những thắng lợi quân sự khác dọc theo mặt trận dài 800km”, phía Trung Quốc tuyên bố rằng họ đã “hoàn thành các mục tiêu đề ra” trong cuộc chiến biên giới kéo dài 17 ngày và bắt đầu rút quân khỏi Việt Nam. Theo các nhà quan sát tại Việt Nam, một số đơn vị Trung Quốc ở những khu vực không có sự kháng cự mạnh mẽ đã bắt đầu rút quân từ vài ngày trước đó.[8][9]

Tờ The Washington Post ngày 6 tháng 3 năm 1979 đưa tin rằng, mặc dù sự kháng cự quyết liệt của quân đội Việt Nam tại Cao Bằng không thể xoay chuyển được tình thế, một số nhà phân tích ở Bangkok cho rằng Việt Nam đã thành công trong việc giảm thiểu thiệt hại bằng cách tránh đối đầu trực diện giữa các đơn vị chủ lực đóng gần Hà Nội với quân Trung Quốc. Các nhà phân tích phương Tây nhận định rằng, nếu Việt Nam quyết định tấn công quân Trung Quốc trong lúc họ đang rút lui, điều đó có thể khiến Trung Quốc trả đũa và làm cho cuộc chiến tiếp tục leo thang.[9]

Lực lượng

[sửa | sửa mã nguồn]

Theo Edward C. O'Dowd, Trung Quốc đã điều động năm quân đoàn, trong đó lực lược chủ lực là Quân đoàn 41 và 42 của Quân khu Quảng Châu được yểm trợ bởi Quân đoàn 50 của Quân khu Thành Đô, cùng với Quân đoàn 12 và 20 của Quân khu Nam Kinh. Tổng quân số có thể lên tới hơn 200.000 binh sĩ, tập kết tại các huyện Tĩnh TâyLong Châu thuộc Quảng Tây để chuẩn bị cho cuộc tấn công.[10] Tuy nhiên, Zhang Xiaoming đưa ra con số thấp hơn nhiều về lực lượng Trung Quốc tại mặt trận này, cho rằng chỉ có Sư đoàn 129 của Quân đoàn 43 được bổ sung bên cạnh các Quân đoàn chủ lực là 41 và 42.[11] Ngược lại, O'Dowd lại liệt kê sư đoàn này trong đội hình tác chiến của Trung Quốc tại Lạng Sơn.[12]

Quân đội Nhân dân Việt Nam đã huy động các đơn vị thuộc Sư đoàn 346 vốn được chuyển đổi từ đơn vị xây dựng kinh tế sang đơn vị chiến đấu từ tháng 4 năm 1978, gồm ba trung đoàn bộ binh và một trung đoàn pháo binh. Trung đoàn 246 đóng tại Sóc Giang, phía tây bắc Cao Bằng. Trung đoàn 677 được giao nhiệm vụ phòng thủ khu vực Trà Lĩnh. Trung đoàn bộ binh 851 giữ vai trò lực lượng dự bị ban đầu. Trung đoàn pháo binh 188 đảm nhiệm hỏa lực yểm trợ, bố trí từ Lũng Lợi đến Phù Ngọc. Ngoài ra, sư đoàn còn được tăng cường các Trung đoàn 31 đóng tại Phục Hòa, Trung đoàn 567 tại Trùng Khánh, Trung đoàn 576 tại Trà Lĩnh, cùng khoảng 15,000 lực lượng bán vũ trang, bao gồm một trung đoàn công an vũ trang, năm tiểu đoàn dân quân địa phương và 11 đồn công an biên phòng.[13] Trung đoàn 481 phòng thủ trực tiếp tại thị xã Cao Bằng.[12]

Diễn biến

[sửa | sửa mã nguồn]
Bản đồ diễn biến chiến tranh biên giới tại mặt trận Cao Bằng

Quân đội Trung Quốc mở cuộc tấn công vào Cao Bằng vào rạng sáng ngày 17 tháng 2 năm 1979.[14] Theo kế hoạch Quân đoàn 41 của Giải phóng quân Trung Quốc sẽ đánh chiếm Cao Bằng từ phía bắc sau khi chiếm được Trà Lĩnh, trong khi Quân đoàn 42 sẽ tấn công từ phía đông nam sau khi chiếm được Quảng Uyên. Ngoài ra, một lực lượng khác của Tập đoàn quân 42, nhiều khả năng là Sư đoàn 129[15] sẽ theo Quốc lộ 4 tiến xuống phía nam để hợp lực với các đơn vị ở phía bắc Lạng Sơn, nhằm tạo điều kiện cho việc cơ động giữa hai mặt trận, đồng thời ngăn chặn tiếp viện của Việt Nam từ Thái Nguyên.[12]

Cuộc tiến quân của Quân đoàn 41 gặp trở ngại nghiêm trọng do đụng độ với Trung đoàn 677 của Quân đội Nhân dân Việt Nam trên đường hành quân. Phải mất 5 ngày, quân Trung Quốc mới chiếm được Trà Lĩnh vào ngày 22 tháng 2 và chỉ tiến sâu được 10–15 km về hướng Trùng Khánh, Cao Bằng. Một số đơn vị khác của Quân đoàn 41 cũng bị cầm chân tại Thông Nông.[12] Trận chiến tại Sóc Giang xảy ra ác liệt nhất khi Sư đoàn 122 của Trung Quốc phải mất 5 ngày mới dập tắt được kháng cự của Việt Nam thay vì 2 ngày như dự kiến ban đầu. Ngày 20 tháng 2, hai đại đội Trung Quốc cùng bộ phận yểm trợ bị kìm chân trong hai trận đánh riêng biệt, thương vong 296 binh sĩ và 6 xe tăng bị phá hủy.[15]

Tình hình dễ thở hơn cho Quân đoàn 42 khi đến ngày 22 tháng 2, Quân đoàn đã chiếm được Phục Hòa, Thất Khê, Quảng UyênĐông Khê, tiến sâu khoảng 25 km vào lãnh thổ Việt Nam từ hướng Thủy Khẩu Quan.[16] Tuy nhiên, quân Trung Quốc không đạt được mục tiêu chiếm các khu vực quanh Cao Bằng trong 24 giờ, do địa hình hiểm trở và các cuộc phục kích liên tục từ phía Việt Nam. Sư đoàn 121 của Trung Quốc phải hành quân suốt 6 ngày mới đến được Khau Đồn, phía tây nam Cao Bằng.[17] Trước đó, ngày 20 tháng 2, một đơn vị xe tăng của Quân đoàn 42 dẫn đầu mũi tiến công vào Bắc Sơn thì bị phục kích phá hủy nhiều xe và chỉ thoát khỏi vòng vây sau khi nhận được tiếp tiến từ Quân đoàn.[16]

Theo phía Việt Nam chỉ sau 3 ngày chiến đấu, Quân đội Nhân dân Việt Nam đề đã gây thiệt hại nặng cho 4 tiểu đoàn Trung Quốc và phá hủy hàng chục xe tăng cùng phương tiện cơ giới của đối phương.[18]

Ngày 23 tháng 2, Nhận thấy phía Việt Nam chỉ để lực lượng nhỏ tại thị xã Cao Bằng. Thay vì chờ Tập đoàn quân 41 phá vỡ phòng tuyến từ phía bắc, tổng chỉ huy chiến dịch Trung Quốc là Hứa Thế Hữu ra lệnh tấn công trực tiếp vào thị xã.[19] Cao Bằng thất thủ ngày 25 tháng 2, nhưng giao tranh vẫn tiếp diễn dữ dội ở nhiều nơi trong tỉnh.

Ngày 26 tháng 2, Bộ chỉ huy Mặt trận Cao Bằng được thành lập, đứng đầu là Đại tá Đàm Văn Ngụy. Ba ngày sau, Sư đoàn 311 được thành lập gồm các Trung đoàn 169, 529, 531 bộ binh và Trung đoàn pháo binh 456 để chiến đấu cùng Sư đoàn 346.[7] Ngày 27 tháng 2, quân Trung Quốc chiếm sân bay Guen Tiat, phía tây nam Thất Khê, khu vực này tiếp tục xảy ra giao tranh giữa hai bên. Trong cùng ngày, phía Việt Nam phản công nhằm tái chiếm Quảng UyênTrà Lĩnh, Trung Quốc chỉ khôi phục kiểm soát hoàn toàn hai thị trấn này vào ngày 2 và 3 tháng 3. Đến 19 giờ 30 phút ngày 3 tháng 3, Trung Quốc chiếm được Đức Long, nối liền các khu vực tác chiến ở Cao Bằng và Lạng Sơn.[16] Ngày 5 tháng 3, chính phủ Trung Quốc tuyên bố đã đạt được các mục tiêu trong cuộc chiến biên giới kéo dài 17 ngày và bắt đầu rút quân khỏi Việt Nam. Hà Nội không có phản ứng ngay lập tức trước tuyên bố này.[20][8]

Hậu quả

[sửa | sửa mã nguồn]

Mặc dù Quân đội Giải phóng Nhân dân Trung Quốc đã chiếm được thị xã Cao Bằng từ tay Sư đoàn 346 Quân đội Nhân dân Việt Nam, nhưng việc chiếm được thị xã đã làm phá vỡ nghiêm trọng kế hoạch ban đầu đã đề ra.[21] Tính đến ngày 26 tháng 2, Trung Quốc tuyên bố rằng họ đã “tiêu diệt hoàn toàn” các Trung đoàn 677, 681 (có thể là 481) và 246 của Việt Nam. Trong suốt trận đánh, các đơn vị Trung Quốc đã bị cầm chân suốt gần 10 ngày chỉ bởi một sư đoàn duy nhất của Việt Nam.[16] Ngoài ra quân Trung Quốc không đạt được mục tiêu tìm và giao chiến với các đơn vị chủ lực của Việt Nam. Ví dụ, quân Trung Quốc đã mất cả ngày lùng sục khu vực Ke Map Nua, cách Cao Bằng 3 km về phía bắc, mà không tìm thấy bất kỳ đơn vị chính quy nào của Việt Nam.[21] Ngoại trừ trận đánh tại Sóc Giang, phần lớn các cuộc giao chiến còn lại diễn ra giữa quân Trung Quốc với lực lượng dân quân và tự vệ địa phương của Việt Nam. Các lực lượng này đã gây thiệt hại đáng kể, đồng thời làm chậm đáng kể tốc độ tiến công của quân Trung Quốc.[19] Tuy nhiên, việc Việt Nam để mất Cao Bằng và Lạng Sơn đã gây thiệt hại nghiêm trọng cho nền kinh tế khu vực. Trong quá trình rút quân, lực lượng Trung Quốc áp dụng chiến thuật tiêu thổ, tiến hành phá hủy hạ tầng cơ sở cơ sở công nghiệp và các khu dân cư. Công cuộc khôi phục các trung tâm kinh tế này diễn ra chậm chạp, một phần do chiến tranh tâm lý từ phía Trung Quốc khiến Việt Nam phải duy trì trạng thái sẵn sàng chiến đấu.

Khi rút quân, quân đội Trung Quốc tiến hành một chiến dịch phản du kích quy mô lớn để bảo vệ cho cuộc rút lui. Trong quá trình này, Trung Quốc bị phía Việt Nam cáo buộc đã phạm nhiều tội ác chiến tranh, trong đó có vụ thảm sát Tổng Chúp, binh sĩ của Quân đoàn 42 Trung Quốc đã tấn công vào một trại nuôi lợn ở làng Tổng Chúp, huyện Hoà An giết chết 43 người, bao gồm phụ nữ, trẻ em và vùi xác trong một cái giếng.[22][23] Các cáo buộc này hiện chưa thể được xác minh độc lập và hầu như không được cộng đồng quốc tế tiếp cận, do khu vực biên giới Trung–Việt bị phong tỏa với giới truyền thông phương Tây trong suốt thời gian giao tranh. Tuy nhiên, phía Việt Nam cho biết đã thu thập được bằng chứng hình ảnh và lời khai nhân chứng về vụ việc. Về phần mình, Tân Hoa Xã đã bác bỏ mọi cáo buộc cho rằng quân đội Trung Quốc liên quan đến các hành động tàn bạo nói trên.[24]

Tham khảo

[sửa | sửa mã nguồn]
  1. ^ "China Announces End of Invasion". Washington Post (bằng tiếng Anh). ngày 21 tháng 12 năm 2023. ISSN 0190-8286. Truy cập ngày 9 tháng 3 năm 2024.
  2. ^ Zhang, p. 91. Each Chinese infantry division had about 12,000–13,000 troops; therefore, a force of 7 divisions as given by Zhang was equivalent to about 84,000–91,000 troops. See Blasko, Dennis J. (2002). "PLA Ground Forces: Moving toward a Smaller, More Rapidly Deployable, Modern Combined Arms Force". Trong Mulvenon, James C.; Yang, Andrew N. D. (biên tập). The People's Liberation Army as Organization: Reference Volume v1.0. RAND. tr. 319. ISBN 0833033034.
  3. ^ Edward C. O'Dowd 2007, tr. 63.
  4. ^ Each Vietnamese division had about 10,000 troops. O'Dowd, tr. 63.
  5. ^ Trường, Sơn (ngày 17 tháng 2 năm 2015). "Biên giới phía Bắc 1979: 30 ngày không thể nào quên (3)". Infonet. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 7 năm 2017.
  6. ^ LỊCH SỬ ĐẢNG BỘ TỈNH CAO BẰNG (1930-2020) tr. 450
  7. ^ a b "Chiến tranh bảo vệ biên giới phía Bắc 1979: Khốc liệt Lạng Sơn - Cao Bằng". Infonet. Trường Sơn. Truy cập ngày 10 tháng 11 năm 2018.
  8. ^ a b Times, Fox Butterfield Special to The New York (ngày 6 tháng 3 năm 1979). "China Reports It Has Begun Withdrawal From Vietnam". The New York Times (bằng tiếng Anh). ISSN 0362-4331. Truy cập ngày 27 tháng 8 năm 2021.
  9. ^ a b Matthews, Jay. "China Announces End of Invasion". Washington Post.
  10. ^ Edward C. O'Dowd 2007, tr. 58-59.
  11. ^ Xiaoming Zhang 2015, tr. 91.
  12. ^ a b c d Edward C. O'Dowd 2007, tr. 59.
  13. ^ Xiaoming Zhang 2015, tr. 93.
  14. ^ Edward C. O'Dowd 2007, tr. 58.
  15. ^ a b Xiaoming Zhang 2015, tr. 92.
  16. ^ a b c d Edward C. O'Dowd 2007, tr. 60.
  17. ^ Xiaoming Zhang 2015, tr. 93-94.
  18. ^ King C. Chen 1987, tr. 108.
  19. ^ a b Xiaoming Zhang 2015, tr. 94.
  20. ^ King C. Chen 1987, tr. 111.
  21. ^ a b Xiaoming Zhang 2015, tr. 95.
  22. ^ Minh Hải (ngày 11 tháng 2 năm 2019). "Ký ức 17/2/1979: Thảm sát Tổng Chúp, nỗi đau còn ám ảnh". Kiến Thức. Truy cập ngày 27 tháng 7 năm 2020.
  23. ^ Mai Vân (ngày 18 tháng 2 năm 2019). "Người ở lại biên giới". Nhân Dân. Truy cập ngày 27 tháng 7 năm 2020.
  24. ^ Peter Eng, "A Village Recalls Alleged Massacre", Associated Press, 2 January 1987.

Danh mục

[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài

[sửa | sửa mã nguồn]