Súng trường Mosin

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Mosin Nagant)
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Súng trường Mosin
Винтовка Мосина
Mosin Nagant series of rifles.jpg
Từ trên xuống dưới:
Mosin-Nagant M91
Mosin-Nagant M91 "Dragon"
Mosin-Nagant M07
Mosin-Nagant M91/30
Mosin-Nagant M91/30 phiên bản bắn tỉa
Mosin-Nagant M38
Mosin-Nagant M44
Mosin-Nagant M59
LoạiSúng trường, súng trường chiến đấu, súng bắn tỉa
Nơi chế tạo Đế quốc Nga
 Liên Xô
 Nga
Lược sử hoạt động
Phục vụ1891-Nay
Sử dụng bởiXem phần Các quốc gia sử dụng
 Đế quốc Nga
 Liên Xô
 Nga
 Cộng hòa Krym
 Belarus
 Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
 Cộng hòa Miền Nam Việt Nam
 Việt Nam
 Lào
 Trung Quốc
 Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên
 Cộng hòa Nhân dân Campuchia
 Campuchia
 Tiệp Khắc
 România
 Ba Lan
 Hungary
 Đông Đức
 Cộng hòa Liên bang Xã hội chủ nghĩa Nam Tư
 Ukraina
 Cộng hòa Nhân dân Bulgaria
 Phần Lan
 Cuba
Cuộc chiến tranhChiến tranh Nga-Nhật
Nội chiến Nga
Chiến tranh thế giới thứ nhất
Chiến tranh thế giới thứ hai
Chiến tranh Triều Tiên
Chiến tranh Việt Nam
Chiến dịch phản công biên giới Tây-Nam Việt Nam
Chiến tranh Lạnh
Chiến tranh Afghanistan (1978–1992)
Chiến tranh Afghanistan (2001-nay)
Nội chiến Lào
Cách mạng Cuba
Nội chiến Trung Quốc
Chiến tranh Mùa Đông
Chiến tranh Iraq
Nội chiến Tây Ban Nha
Nội chiến Phần Lan
Chiến tranh Đông Dương
Chiến tranh Nga-Ba Lan (1919-1921)
Chiến tranh Liên Xô-Phần Lan
Chiến tranh biên giới Lào-Thái Lan
Chiến tranh Thanh-Nhật
Chiến tranh Trung-Nhật
Chiến tranh Xô Viết-Thổ Nhĩ Kỳ (1917-1918)
Cách mạng Nga (1917)
Chiến tranh Nga-Thổ Nhĩ Kỳ (1877–1878)
Chiến tranh biên giới Việt-Trung, 1979
Mặt trận Phần Lan (Chiến tranh Xô-Đức)
Nội chiến Campuchia
Chiến tranh Donbas
Nội chiến Syria
Lược sử chế tạo
Người thiết kếSergei Ivanovich Mosin, Léon Nagant
Năm thiết kế1891
Nhà sản xuấtTula, Izhevsk,Sestroryetsk, Remington,Westinghouse,Chatellerault
Giai đoạn sản xuất1891-1965
Số lượng chế tạoKhoảng 37.000.000 khẩu ở Liên Xô
Thông số
Khối lượng4 kg (8.8 lb) (M91/30) (M91/30)
3.4 kg (7.5 lb) (M38)
4.1 kg (9 lb) (M44)
Chiều dài1,232 mm (48.5 in) (M91/30)
1,013 mm (39.9 in) (carbine)
Độ dài nòng730 mm (28.7 in) (M91/30)
514 mm (20.2 in) (carbine)

Đạn7.62×54mmR
Cơ cấu hoạt độngBolt-Action
Vận tốc mũi~ 850 m/giây (2,789 ft/giây) đối với súng trường
~800 m/giây (2,625 ft/giây) đối với carbine
Tầm bắn hiệu quả500 m (550 thước), 800+ m (875+ thước) với kính ngắm
Chế độ nạpỔ đạn 5 viên
Ngắm bắnĐiểm ruồi hoặc kính ngắm PU

Súng trường Mosin (tiếng Nga: винтовка Мосина) là một loại súng trường lên đạn từng phát một bằng khóa nòng danh tiếng của đế quốc Nga (sau này là Liên Xô). Phương Tây thường gọi súng này với tên Mosin Nagant, trong khi đế quốc Nga (hay sau này là Liên Xô) gọi nó là "Súng trường ba vạch". Vài dân chơi súng săn của Nga vẫn giữ tên gọi "súng trường ba vạch" này. K44 là cái tên thông dụng nhất của khẩu súng này ở Việt NamTrung Quốc. Súng sử dụng đạn 7.62x54mm danh tiếng của Nga.

Súng được sử dụng bởi quân đội Đế quốc Nga từ năm 1891. Sau này, một ủy ban chuyên môn hiện đại hóa vũ khí cũ của Hồng Quân Liên Xô đã tiến hành hiện đại hóa súng vào năm 1930 và sau đó, họ lại tiếp tục sản xuất và sử dụng nó trong suốt Thế chiến 2 và hậu chiến. Liên Xô dừng sản xuất súng vào năm 1965 vì họ đã lựa chọn súng trường bắn tỉa SVD (của nhà thiết kế Yevgeny Fyodorovich Dragunov) làm súng bắn tỉa tiêu chuẩn thay cho Mosin-Nagant. Thêm nữa, cho đến năm 1965, mặc cho đã có rất nhiều lần nó được hiện đại hóa thì khẩu súng này cũng ngày một lạc hậu và cũ kĩ dần.

Sau Thế chiến 2 thì nhiều quân đội của các nước Đông Âu tiếp tục sử dụng nó. Và Liên Xô cũng cho phép họ được sản xuất nó mãi cho đến tận khi họ phát triển được dây chuyền sản xuất súng trường bắn tỉa SVD (hoặc những mẫu súng trường bắn tỉa khác do họ tự phát triển) thay thế. Đến nay, Degtyaryov và Tula của Nga vẫn còn duy trì việc sản xuất phiên bản dân sự của khẩu Mosin-Nagant.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Thiết kế ban đầu[sửa | sửa mã nguồn]

Trong Chiến tranh Nga-Thổ Nhĩ Kỳ, binh sĩ Nga được trang bị loại súng trường Berdan cũ kĩ từ những năm 1868 mà nước này mua từ Mỹ. Trong khi đó, binh sĩ Thổ Nhĩ Kỳ được trang bị súng trường Winchester hiện đại cũng được mua trực tiếp từ Mỹ có cơ chế nạp đạn bằng đòn bảy khiến cho phía Nga bị thương vong lớn vì những khẩu Winchester của quân Thổ có tốc độ bắn cao hơn, lượng đạn bắn ra nhiều hơn (khẩu Berdan chỉ cho phép lính Nga "nạp một viên, bắn một phát", trong khi những khẩu Winchester được trang bị một "ống đạn" lên tới 15 viên). Dù cho là nước chiến thắng nhưng Nga lại chịu thiệt hại năng nề về quân số (34,742 lính Nga thiệt mạng trong chiến đấu , còn con số này phía Thổ là khoảng 30,000 lính). Sau khi cuộc chiến kết thúc, các chỉ huy Nga đã yêu cầu Nga Hoàng phải tiến hành hiện đại hóa trang bị và vũ khí của quân đội đế quốc Nga. Trong nỗ lực hiện đại hóa này, thiết kế của đại úy Nga Sergei Ivanovich Mosin cùng với thiết kế của một thợ súng người BỉLéon Nagant đã được chấp nhận và kết hợp lại thành mẫu súng trường dùng đạn cỡ 7,62x54mm vào năm 1891. Việc sản xuất súng được tiến hành ngay từ năm 1892 tại Tula Arms Plant (được thành lập từ năm 1712) của Nga và Manufacture d'armes de Chatellerault của Pháp. 4 năm sau, năm 1896, Tula (của Nga) đã tiến hành đàm phán với Chatellerault (của Pháp) về việc họ xin rút sản xuất Mosin-Nagant từ Chatellerault về Tula. Đồng thời, Tula cũng tiến hành chi trả khoản tiền mà Tula còn nợ Chatellerault về hợp đồng sản xuất khoảng 500,000 khẩu súng trường Mosin-Nagant mà Chatellerault đã sản xuất trong giai đoạn từ 1892 đến 1896. Từ sau năm 1896 thì Mosin-Nagant được Tula Arms Plant (của đế quốc Nga) sản xuất là chủ yếu. Sau Tula còn có Sestroryetsk và Izhmash.

Chiến tranh thế giới thứ nhất và thời kì nội chiến Nga[sửa | sửa mã nguồn]

Trong chiến tranh Nga-Nhật 1904, khoảng 3,8 triệu khẩu Mosin-Nagant 1891 đã được trang bị cho quân đội Nga. Mặc dù đã có một số phiên bản cải tiến ra đời (Mosin-Nagant M91/07), song trong chiến tranh thế giới thứ nhất, khoảng 3,3 triệu khẩu Mosin-Nagant đời 1891 đã được đặt hàng sản xuất tại AnhMỹ. Khi Cách mạng Tháng Mười nổ ra, một số súng Mosin-Nagant 1891 vẫn chưa kịp bàn giao lại cho quân đội Nga hoàng. Những súng này sau đó được trang bị lại cho lính của quân đội Anh và Mỹ can thiệp vào Nga trong thời kì Nội chiến Nga (1919-1923). Một số khác được trang bị cho các đơn vị quân đội Hoa Kỳ trong nước. Hoa Kỳ cũng dựa vào mẫu Mosin-Nagant model 1891 mà thiết kế nên súng trường "U.S. Rifle, 7.62mm, Model of 1916", một trong những loại súng trường quân dụng phổ biến nhất của Hoa Kỳ một thời, cùng với M1903 Springfield hay M1917 Enfield. Nó bị Mỹ loại biên năm 1928 do thiếu thốn về chi tiết, phụ tùng thay thế và quan trọng hơn hết là do mâu thuẫn chính trị giữa nước này và Liên Xô.

1 số lượng lớn súng Mosin Nagant đã bị quân đội ĐứcÁo-Hung tịch thu và sử dụng lại. Trong thời gian Nội chiến Nga, súng Mosin Nagant lại tiếp tục được cả hai phía Hồng quânBạch vệ ưa chuộng. Sau khi Hồng quân chiến thắng, vào năm 1924, một ủy ban hiện đại hóa vũ khí đã tiến hành dự án hiện đại hóa súng Mosin-Nagant, và Mosin-Nagant M91/30 ra đời.

Phần Lan có thời là xứ phụ thuộc của Đế quốc Nga, nên cũng quen dùng súng Mosin-Nagant model 1891. Sau này, Phần Lan cho ra vài phiên bản cải tiến. Kết quả là trong Chiến tranh Mùa ĐôngChiến tranh Tiếp diễn (đều trong Chiến tranh thế giới thứ hai) cả hai bên chiến tuyến đều dùng súng Mosin-Nagant.

Súng Mosin-Nagant còn được trang bị cho lực lượng kháng chiến Franco trong Nội chiến Tây Ban Nha.

Chiến tranh thế giới thứ hai[sửa | sửa mã nguồn]

Khi Đức Quốc xã xâm lược Liên Xô vào năm 1941, Mosin-Nagant M91/30 là súng trường chiến đấu tiêu chuẩn của quân đội Liên Xô. Hàng triệu cây súng đã được sản xuất để đưa ra chiến trường.

Phiên bản bắn tỉa của súng Mosin-Nagant đã được Liên Xô chế tạo thành công năm 1932 đã gây được tiếng vang lớn trong thời kì này, góp phần tạo nên chiến tích của nhiều xạ thủ bắn tỉa anh hùng Liên Xô như Mikhail Ilyich Surkov, Vasily Grigoryevich ZaitsevLyudmila Pavlichenko trong trận Stalingrad. Bên phía Phần Lan, xạ thủ bắn tỉa Simo Hayha cũng sử dụng 1 cây M28 (phiên bản Mosin Nagant do Phần Lan tự sản xuất). Đến cuối chiến tranh thế giới thứ hai, tổng cộng đã có khoảng 17,4 triệu khẩu Mosin-Nagant M91/30 đã được sản xuất, nhiều hơn bất kỳ mẫu súng trường nào khác được sản xuất trong cuộc chiến này.

Sau thế chiến thứ hai[sửa | sửa mã nguồn]

Sau này, một kĩ sư tên N.X.Xêmin đã cải tiến từ mẫu ban đầu 1891/30 của S.I.Mosin và mẫu gần hơn (1930), đưa vào trang bị của Quân đội Liên Xô (2/1944). Sau đó, Liên Xô còn đưa ra mẫu Mosin-Nagant M91/59. Đây là mẫu cuối cùng của súng này được thiết kế ở Liên Xô. Sau thế chiến thứ hai, Mosin Nagant dần dần được thay thế bằng CKC hay SVD. Tuy nhiên nó vẫn được các nước Đông Âu và một số quốc gia xã hội chủ nghĩa sử dụng trong các cuộc chiến tranh Triều Tiên, chiến tranh Việt NamAfghanistan

Các nước Tiệp Khắc, Bulgaria, Ba Lan, Trung Quốc cũng phát triển các mẫu súng của riêng họ dựa trên mẫu Mosin-Nagant 91/44 hoặc Mosin-Nagant 91/59 của Liên Xô.

Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Loại súng này được sử dụng tại Việt Nam từ giữa những năm 1950 và nó sử dụng rộng rãi trong 2 cuộc chiến là Chiến tranh Đông DươngChiến tranh Việt Nam. Nhân dân và du kích miền Nam Việt Nam thường gọi Mosin-Nagant là súng bá đỏ. Quân đội nhân dân Việt Nam thì lại gọi nó là K-44. Nhờ tầm bắn xa và uy lực đạn mạnh, súng được dùng làm vũ khí bắn tỉa rất tốt của quân Giải Phóng. Nó được gọi là "cơn ác mộng của lính Mỹ ở chiến trường Khe Sanh". Lính bắn tỉa của quân Giải Phóng dùng khẩu súng này khiến cho lính Mỹ đóng chốt ở Khe Sanh mất ăn mất ngủ vì "sợ bắn tỉa".

Khi được trang bị loại đạn chống tăng AT, K-44 có thể bắn cháy được cả xe bọc thép. Trong trận đánh sáng ngày 8/3/1967, khi quân Mỹ tiến hành càn quét ở vùng tây bắc tỉnh Tây Ninh, dũng sĩ Trần Ngọc Đặng đã dùng đạn AT bắn cháy 2 chiếc thiết giáp địch[1]

K-44 cũng là một vũ khí khá nguy hiểm đối với các loại trực thăng của Mỹ: dân quân Việt Nam thường dùng chiến thuật ẩn nấp dưới hầm hoặc tán cây, đợi trực thăng Mỹ sà thấp tìm mục tiêu hoặc đổ quân thì sẽ nổ súng, nếu bắn trúng động cơ, cánh quạt hoặc bộ phận điều khiển thì trực thăng rất dễ bị rơi. Trong số hơn 5.600 trực thăng các loại của Mỹ bị phá hủy ở Việt Nam, có một tỷ lệ khá lớn bị hạ do súng bộ binh như K-44. Ví dụ như Anh hùng diệt Mỹ C’lâu Nâm (nguyên Huyện đội trưởng Huyện đội Tây Giang, tỉnh Quảng Nam) đã bắn rơi 7 trực thăng địch chỉ bằng khẩu K-44. Trận đánh kéo dài 6 ngày hồi cuối tháng 5/1966 là trận đánh lớn nhất, ông cùng đồng đội đánh trả các đợt hành quân của địch, diệt 139 quân Mỹ, bắn rơi 7 máy bay trực thăng. Trong đó, ông trực tiếp tiêu diệt 2 trực thăng đổ bộ của Mỹ[2].

Thậm chí dân quân Việt Nam có thể dùng K-44 để bắn hạ máy bay phản lực ở độ cao thấp (bay ở độ cao vài trăm mét trở xuống). Nghe thì có vẻ phi lý, nhưng thực ra ở thời kỳ đó, để ném bom chính xác thì máy bay phải giảm tốc độ và sà xuống thấp (ném bom bổ nhào), cuối quá trình bổ nhào này thì máy bay chỉ cách mặt đất mấy trăm mét, hoàn toàn nằm trong tầm sát thương của súng K-44. Trong chiến tranh Việt Nam, phi công Mỹ đã được khuyến cáo phải đề phòng súng trường K-44 trong tay dân quân Việt Nam, bởi nếu một viên đạn K-44 bắn trúng vào thùng nhiên liệu, buồng lái hoặc bộ phận điều khiển sẽ có thể làm máy bay rơi[3] Đội quân xã Diễn Hùng (Diễn Châu, Nghệ An) được công nhận là nơi đầu tiên tại miền Bắc dùng súng bộ binh bắn rơi máy bay phản lực Mỹ, khẩu súng K-44 đó vẫn được lưu trữ tại bảo tàng quân khu 4[4].

Một số ví dụ về việc dân quân Việt Nam dùng súng K-44 bắn hạ máy bay phản lực Mỹ và được tài liệu Mỹ xác nhận:

  • Sáng ngày 5/10/1965, 1 tổ dân quân gồm 3 người (trong đó có ông Lý Văn Pản, du kích xã Tân Thành, huyện Hữu Lũng, Lạng Sơn) đã dùng súng trường K-44 bắn rơi 1 chiếc "con ma" F-4 Phantom, loại máy bay phản lực tiêm kích - ném bom tầm xa hiện đại của quân đội Mỹ. Khoảng 8h sáng hôm đó, thấy 2 chiếc phản lực Mỹ bay vào từ phía tỉnh Hà Bắc (nay là tỉnh Bắc Giang), tổ 3 người thống nhất sẽ khai hỏa bắn đón khi máy bay địch hạ độ cao để chuẩn bị ném bom. Khi 2 chiếc phản lực bay thấp chỉ cách mặt đất 200 mét, cả ba người nổ súng, đạn bắn trúng thân máy bay khiến nó bốc cháy. Phi công Mỹ kịp nhảy dù thoát thân nhưng đã bị bắt ngay sau đó tại xã Kiên Lao, huyện Lục Ngạn, Bắc Giang[5]. Tài liệu Mỹ cũng xác nhận chuyện này, theo đó ngày 5/10/1965, chiếc F-4 Phantom số kiệu 63‑7563 thuộc phi đội 15 cất cánh từ Ubon (Thái Lan) đã bị bắn hạ khi cách sân bay Kép (Bắc Giang) 9 dặm, tổ lái gồm đại úy James Otis Hivner và trung úy Thomas Joseph Barrett đều bị bắt làm tù binh[6]
  • Sáng ngày 20/9/1965, 1 tổ dân quân gồm 7 người (thôn Thán, xã Dương Hưu, huyện Sơn Động, Bắc Giang) với 7 phát đạn súng trường K-44 đã bắn rơi 1 chiếc phản lực ném bom A-4 Skyhawk. Nắm được quy luật của máy bay Mỹ là sau khi ném bom sẽ bay về ở tầm thấp, men theo sườn núi để tránh ra-đa, tổ du kích 7 người đã đón lõng và nổ súng, bắn trúng chiếc máy bay dẫn đầu. Chiếc A-4 bốc cháy, rơi tại xã Kỳ Thượng (Hoành Bồ, Quảng Ninh)[7] Theo tài liệu của Mỹ, chiếc A-4 này có số hiệu 151115, cất cánh từ tàu sân bay USS Hancock (CVA-19), phi công là trung úy J. R. Harris đã kịp nhảy dù[6]
  • Chiều ngày 27/12/1967, 1 tổ dân quân gồm 3 người (xã Quỳnh Nghĩa, huyện Quỳnh Lưu, Nghệ An) với 3 phát đạn súng trường K-44 đã bắn rơi 1 chiếc phản lực ném bom F-4 Phantom đang bay thấp để trinh sát[7] Chiếc F-4 trúng đạn vào thân, bốc khói và lao xuống biển. Theo tài liệu của Mỹ, chiếc F-4 này có số hiệu 63-7489, cất cánh từ sân bay Đà Nẵng, phi công H. W. Miller kịp nhảy dù, còn phi công Sammy Arthur Martin chết đuối trên biển[8]

Đặc tính kỹ thuật[sửa | sửa mã nguồn]

Mẫu súng Mosin-Nagant 1891 đời đầu (trên) và mẫu Mosin-Nagant M38 Carbine đời sau (dưới).
Phiên bản súng trường Mosin-Nagant M91/30 với ống ngắm PU dùng cho bắn tỉa
  • Cỡ nòng 7,62mm, nòng súng dài 730mm, toàn bộ súng dài 1,533m (bao gồm cả lưỡi lê), nặng trên dưới 4,0 kg. Là loại súng trường bắn phát một, lên đạn bằng khóa nòng thủ công, sử dụng hộp tiếp đạn đơn (khác với M1 Garand và súng SKS sử dụng hộp tiếp đạn đôi) chứa được 5 viên, đạn cỡ 7,62x54R mm.
  • Tốc độ bắn 10 phát/phút (đối với xạ thủ giỏi), sơ tốc đầu đạn 865 m/s nhờ nòng súng dài, đường đạn ngoài xa nhất 3.000m, tầm bắn (trên thước ngắm) 1.000m, tầm bắn hiệu quả 800 m. Dùng được nhiều loại đạn cỡ 7,62x54mmR. Khi sử dụng kính ngắm quang học và loại đạn đặc biệt, có liều phóng lớn, xạ thủ bắn tỉa có thể nâng tầm bắn có hiệu quả đến 1.200 m.
  • Đạn của súng có sức xuyên phá rất mạnh, có thể xuyên thủng tấm thép dày 18mm hoặc "xuyên táo" được 3-5 người (không có áo giáp chống đạn) nếu bắn ở cự ly dưới 3000m. Tại Chiến dịch Krym-Sevastopol (1941-1942), nữ xạ thủ bắn tỉa nổi tiếng Lyudmila Mikhailovna Pavlichenko từng lập thành tích bắn "xuyên táo" hạ 3 lính Đức chỉ với 1 phát đạn ở cự ly 3000 mét.
  • Súng rất dễ chế tạo nhờ cơ cấu hoạt động đơn giản, vật liệu làm súng dễ tìm kiếm. Nó không đòi hỏi phải trải qua quá nhiều công đoạn gia công phức tạp như những mẫu súng lên đạn từng viên khác cùng thời với nó. Nhiều chuyên gia vũ khí cho rằng nó được thiết kế để phù hợp với một anh lính Nga thô kệch, to khỏe. Độ tin cậy của nó rất cao. Nó rất hiếm khi hỏng hóc dù phải chiến đấu trong điều kiện chiến đấu rất khắc nghiệt như băng giá, bụi cát (hoặc bùn lầy).
  • Tốc độ bắn tuy chậm nhưng bù lại, súng bắn rất chính xác, tầm bắn của súng rất xa nên được còn được sử dụng làm súng bắn tỉa. Phiên bản bắn tỉa của Mosin-Nagant được lắp thêm ống ngắm quang học (PU, PE) bên sườn trái. Trong Chiến tranh thế giới thứ hai, các đơn vị bắn tỉa của Hồng Quân được phiên chế tới cấp sư đoàn, đều sử dụng Mosin-Nagant làm súng bắn tỉa. Đây là một trong những khẩu súng bắn tỉa có uy lực lớn nhất thời đó, ngang hàng với khẩu Karabiner 98k của Đức, M1903 Springfield của Hoa Kỳ, Lee-Enfield của Anh, Arisaka của Nhật,...
  • Nhờ tầm bắn xa và đạn có uy lực mạnh, súng có thể dùng để bắn hạ máy bay ở độ cao thấp (bay ở độ cao vài trăm mét trở xuống). Trong chiến tranh Việt Nam, phi công Mỹ đã được khuyến cáo phải đề phòng súng trường K-44 trong tay dân quân Việt Nam, bởi nếu một viên đạn K-44 bắn trúng thùng nhiên liệu, buồng lái hoặc bộ phận điều khiển có thể làm máy bay rơi[3]
  • Nhược điểm: súng dài và nặng nề, tốc độ bắn chậm, thời gian nạp đạn lâu vì chốt khóa nòng của những khẩu súng này rất cứng, đòi hỏi xạ thủ phải dùng lực từ tay của họ mở chốt sau mỗi phát bắn nên nó nhanh chóng làm cho những người lính sử dụng súng nhanh mất sức hơn những khẩu súng trường bán tự động như SVT-40 hay M1 Garand (M1 Carbine). Tuy nhiên, những nhược điểm này ở thời điểm súng được chế tạo (cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX) không phải là vấn đề quá nghiêm trọng bởi vì vũ khí bộ binh chủ yếu của các nước lớn thời đó cũng đều là súng trường bắn phát một, cũng cồng kềnh và bắn chậm gần như nhau (ví dụ như khẩu Karabiner 98k của Đức, Arisaka của Nhật, M1903 Springfield của Mỹ hoặc Lee-Enfield của Anh). Phải tới mãi tận tít sau Chiến tranh thế giới thứ hai, khi mà súng trường tấn công trở nên phổ biến thì Mosin Nagant mới mất đi vai trò chủ lực của mình, tuy nhiên súng vẫn tiếp tục phục vụ trong vai trò súng bắn tỉa cho đến tận bây giờ. Các nhóm phiến quân ở Iraq, Syria vẫn sử dụng Mosin-Nagant làm súng bắn tỉa của chúng. Dĩ nhiên, nó vẫn còn chiến đấu tốt ở cái tuổi 129 của mình.

Các quốc gia sử dụng[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]