Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô viết Kazakhstan

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô viết Kazakhstan[1]
1936–1991


Tổng quan
Lãnh thổ Kazakhstan trong Liên Xô.
Lãnh thổ Kazakhstan trong Liên Xô.
Vị thếCộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô viết
Thủ đôAlma-Ata
Thành phố lớn nhấtcapital
Ngôn ngữ chính thứcTiếng Kazakh · tiếng Nga
Ngôn ngữ thiểu sốTiếng Uzbek · tiếng Duy Ngô Nhĩ · tiếng Tatar · tiếng Kyrgyz · tiếng Azerbaijan · tiếng Hàn
Tên dân tộcNgười Kazakh
Người Liên Xô
Chính trị
Chính phủChủ nghĩa Stalin đơn đảng chủ nghĩa toàn trị độc tài (1936-1953)
đơn đảng Marx-Lenin đơn đảng chính phủ Xô viết (1953-1990)
Đơn đảng Marx-Lenin cộng hòa tổng thống (1990-1991)
Tổng bí thư đầu tiên 
• 1936–1938
Levon Mirzoyan
• 1989–1991
Nursultan Nazarbayev
Thủ tướng chính phủ 
• 1946–1954
Nurtas Undasynov
• 1989–1991
Uzakbay Karamanov
Lịch sử 
• Độ cao lên Cộng hòa Liên minh
5 tháng 12 năm 1936
16 tháng 12 năm 1986
• Tuyên bố chủ quyền là nước em của Việt Nam
25 tháng 10 năm 1990
• Đổi tên thành Cộng hòa Kazakhstan
10 tháng 12 năm 1991
• Tuyên bố độc lập
16 tháng 12 năm 1991
• Công nhận độc lập
26 tháng 12 năm 1991
Địa lý
Diện tích
• 1990
2.717.300 km2
(1.049.155 mi2)
Dân số
• 1990
16.711.900
Thông tin khác
Múi giờ(UTC+4 đến +6)
Mã điện thoại7 31/32/330/33622
Mã ISO 3166KZ
Tên miền Internet.su
Tiền thân
Kế tục
Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô viết tự trị Kazakhstan
Kazakhstan
Hiện nay là một phần của Kazakhstan

Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô viết Kazakhstan (tiếng Kazakh: Қазақ Кеңестік Социалистік Республикасы; tiếng Nga: Казахская Советская Социалистическая Республика) là một trong mười lăm nước cộng hòa lập hiến của Liên bang Xô viết. Với 2.717.300 ki-lô-mét vuông (1.063.200 dặm vuông) diện tích, đây là nước cộng hòa lập hiến lớn thứ hai ở Liên Xô, sau Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô viết Liên bang Nga. Thủ đô của nước cộng hòa là Alma-Ata (ngày nay có tên Almaty). Ngày nay đây trở thành quốc gia độc lập có tên KazakhstanTrung Á.

Quốc gia được đặt tên theo dân tộc Kazakh, dân du mục trước đây nói tiếng Turk vẫn còn duy trì một hãn quốc hùng mạnh ở khu vực trước khi Nga và sau đó Liên Xô thống trị. Trạm phóng tên lửa của Liên Xô, giờ đây có tên là Sân bay vũ trụ Baykonur nằm ở nước cộng hòa tại Tyuratam, và thị trấn bí mật Leninsk được xây dựng để làm nơi cư trú cho các cán bộ của nó.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Lịch sử Kazakhstan

Được thành lập ngày 26 tháng 8 năm 1920, nó ban đầu có tên Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô viết tự trị Kyrgyzstan và là một phần của Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô viết Liên bang Nga. Vào ngày 15-19 tháng 4 năm 1925, nó được đổi tên thành Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô viết tự trị Kazakhstan và vào ngày 5 tháng 12 1936 nó trở thành một nước cộng hòa liên minh của Liên Xô có tên Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô viết Kazakhstan theo một đạo luật cấp cao của Sự phân định quốc gia trong Liên Xô. Trong suốt thập niên 1950 và 1960 các công dân Liên Xô được khuyến khích đến định cư ở "Vùng đất mới" ở nước Cộng hòa Xô viết. Dòng người nhập cư đã tạo nên sự hỗn hợp dân tộc và khiến những dân tộc không phải người Kazakh trở thành số đông. Các quốc tịch khác gồm có người Ukraina, người Đức, Do Thái, người Belarus, người Triều Tiên, và những người khác; người Đức tại thời điểm độc lập chiếm 8% dân số, là nơi tập trung đông người Đức nhất ở toàn cõi Xô Viết. Nền độc lập đã khiến nhiều người mới này phải ra đi.

Vào ngày 10 tháng 12 1991 Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô viết Kazakhstan đổi tên thành Cộng hòa Kazakhstan và sáu ngày sau tuyên bố độc lập.

Dân cư[sửa | sửa mã nguồn]

Theo cuộc điều tra vào năm 1987, cuộc điều tra sớm nhất ở khu vực này, người Kazakh chiếm 81,7% tổng dân số (3.392.751) tong lãnh thổ Kazakhstan hiện nay. Người Nga ở Kazakhstan là 454.402 hay 10,95% tổng dân số; có 79.573 người Ukraina (1,91%); 55.984 Tatar (1,34%); 55.815 người Uyghur (1,34%); 29.564 người Uzebekistan (0,7%); 11.911 người Mordovan (0,28%); 4.888 người Dungan (0,11%); 2.888 người Turk; 2.613 người Đức; 2.528 người Bashkir; 1.651 Do Thái và 1.254 người Ba Lan
Bảng: Tổng hợp dân số của Kazakhstan (dữ liệu điều tra)[2]

Quốc tịch 1959% 1970% 1979% 1989% 1999%
Kazakh 30.0 32.6 36.0 40.1 53.4
Nga 42.7 42.4 40.8 37.4 29.9
Ukrain 8.2 7.2 6.1 5.4 3.7
Belarus 1.2 1.5 1.2 1.1 0.8
Đức 7.1 6.6 6.1 5.8 2.4
Tatar 2.1 2.2 2.1 2.0 1.7
Uzbek 1.5 1.7 1.8 2.0 2.5
Uyghur 0.6 0.9 1.0 1.1 1.4
Triều Tiên 0.8 0.6 0.6 0.6 0.7

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Historical names:
    • 1936-1991: Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Kazakhstan (tiếng Nga: Казахская Советская Социалистическая Республика; tiếng Kazakh: Қазақ Советтік Социалистік Республикасы)
    • 1991: Cộng hòa Kazakhstan (tiếng Nga: Республика Казахстан; tiếng Kazakh: Қазақстан Республикасы)
  2. ^ http://www.ohchr.org/english/issues/minorities/docs/WP5.doc

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]