Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô viết Uzbekistan

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Xô viết Uzbekistan
Ўзбекистон Совет Социалистик Республикаси

Flag
1924 — 1991 Flag of Uzbekistan.svg
Flag of Uzbek SSR.svg Coat of arms of Uzbek SSR.png
Quốc kỳ Quốc huy
Khẩu hiệu quốc gia:
{{{khẩu hiệu}}}
Dịch nghĩa: Vô sản toàn thế giới, đoàn kết lại!
SovietUnionUzbekistan.png
Thủ đô Samarkand (1924-1930)
Tashkent (1930-1991)
Ngôn ngữ chính thức Uzbektiếng Nga
Thành lập
Trong Liên Xô:
 - Từ
 - Đến
27 tháng 10, 1924

13 tháng 5, 1925
1 tháng 9, 1991
Diện tích
 - Tổng cộng
 - Nước (%)
Thứ 5 toàn Liên Xô
447.400 km²
4.9%
Dân số
 - Tổng cộng 
 - Mật độ
Thứ 3 toàn Liên Xô
19.906.000 (1989)
44.5/km²
Tiền tệ rúp ({{{tiền tệ}}})
Múi giờ UTC +5/+6 Samarkand
UTC +6/+7 Tashkent
Quốc ca Quốc ca Uzbekistan SSR
Huân chương Leninorder.jpg Huân chương Lênin

Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Xô viết Uzbekistan (tiếng Uzbek: Ўзбекистон Совет Социалистик Республикаси O`zbekiston Sovet Sotsialistik Respublikasi; tiếng Nga: Узбекская Советская Социалистическая Республика Uzbekskaya Sovetskaya Sotsialisticheskaya Respublika), hay còn gọi tắt là Uzbekistan SSR, là một trong những nước Cộng hòa tạo nên Liên bang Xô viết sau này. Năm 1991, Uzbekistan SSR tuyên bố độc lập và đổi tên thành "Uzbekistan Cộng hòa."

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Uzbekistan SSR bao gồm Tajik ASSR trước 1929, khi mà địa vị của Tajik ASSR được nâng lên trạng thái cân bằng. Năm 1930, thủ đô của Uzbekistan SSR được tái lập lại từ Samarkand thành Tashkent. Năm 1936, lãnh thổ của Uzbekistan SSR được mở rộng vì có thêm Karakalpak ASSR từ Kazakh SSR trong giai đoạn cuối cùng của Giới hạn Quốc gia trong Liên bang Xô viết. Sau này một phần nhỏ lãnh thổ đã được đổi qua lại vài lần giữa Kazakh SSR và Uzbekistan SSR sau Thế chiến II.

Năm 1928, việc tập thể hóa các vùng đất về một chính thể đã được triển khai, vào cuối những năm 1930.

Những năm 1937-38, trong cuộc "Đại thanh trừng", một số người bị cho là theo chủ nghĩa dân tộc đã bị hành quyết, bao gồm Faizullah Khojaev, thủ tướng đầu tiên.

Trong thời kỳ Thế chiến II, rất nhiều các nước công nghiệp đã chuyển tới Uzbekistan SSR từ các vùng nguy hiểm ở phía tây của СССР để bảo đảm an toàn.

Trong thời kỳ Xô viết, Islam trở thành một điểm nóng của chống tôn giáo trong chính quyền Cộng sản. Chính phủ đóng cửa phần lớn các miếu thờ, và các trường học tôn giáo trở thành bảo tàng chống tôn giáo.

Đảng Cộng sản là Đảng hợp pháp duy nhất tại Uzbekistan SSR trước 1990. Chủ tịch cầm quyền lâu nhất tại Uzbekistan SSRSharof Rashidov, đứng đầu Đảng Cộng sản Uzbekistan từ năm 1959 đến 1983. Islom Karimov, đứng đầu Đảng Cộng sản Uzbekistan từ năm 1989 và sau này nắm quyền Đảng mới, Đảng Dân chủ Nhân dân (PDP), trở thành tổng thống Uzbekistan SSR năm 1990.

Vào ngày 1 tháng 9 năm 1991, Uzbekistan SSR đổi tên thành Uzbekistan Cộng hoà, trước đây là một phần của Liên Xô trước 26 tháng 12 năm 1991. Với việc tan rã hoàn toàn của СССР, Uzbekistan SSR trở thành Quốc gia độc lập Uzbekistan. Karimov làm tổng thống từ đó.