Đại thanh trừng

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Một phần tấm bảng với những bức ảnh các phạm nhân đã bị xử bắn tại trường bắn Butovo gần Moskva. Các bức ảnh được chụp sau khi mỗi phạm nhân bị bắt.

Đại thanh trừng là một loạt các biện pháp trấn áp tại Liên Xô kéo dài từ mùa thu 1936 cho tới cuối năm 1938. Sự kiện này liên quan tới một cuộc thanh trừng trên diện rộng với Đảng Cộng sản Liên Xô và các quan chức chính phủ, đàn áp các địa chủ (kulak), các chỉ huy Hồng quân bị kết án mưu phản, và những người không liên kết trong một không khí giám sát và nghi ngờ lan rộng với "những kẻ phá hoại"[1] Tính theo tỷ lệ, đa số nạn nhân cuộc Đại thanh trừng là những người Bolshevik cũ.[2] Cuộc thanh trừng này, theo lệnh của Josef Stalin và được Bộ chính trị đảng Cộng sản Liên Xô chấp thuận, được thực hiện bởi Bộ nội vụ Liên Xô (NKVD) dưới sự điều hành của Nikolai Jeschow. Cuộc thanh trừng này nhắm vào những người bị cho là kẻ thù của chế độ Stalin và những người hay các nhóm mà bị cho là không thể tin cậy được.

Tổng số nạn nhân trong thời gian này không được biết chắc, và cũng khó mà kiểm tra được, theo ủy ban Schatunowskaja, điều tra theo lệnh của Nikita Sergeyevich Khrushchyov thì từ 1/1/1935 cho tới tháng 7/1940 mật thám của Stalin đã cho bắt 19.840.000 dân Xô Viết; 7 triệu trong số đó, hơn 1/3, đã chết trong các trại lao động, nhà tù.[3] Theo Jörg Baberowski, giáo sư về Đông Âu tại đại học Humboldt ở Berlin, cao điểm của các cuộc trấn áp là từ tháng 7 năm 1937 cho tới giữa tháng 11 năm 1938. Trong giai đoạn này, đã có 1,5  triệu người bị bắt, trong số đó gần một nửa bị xử bắn, những người khác (ngoại trừ số được thả ra do không đủ chứng cứ) bị cầm tù hay đưa vào trại lao động Gulag[4][5][6]

phương Tây, cuốn sách của Robert Conquest năm 1968 The Great Terror (Đại khủng bố) đã khiến thuật ngữ này trở nên quen thuộc. Cái tên này lại có nguồn gốc từ Triều đại Khủng bố (tiếng Pháp: la Terreur), một phong trào của chính quyền cách mạng Pháp nhằm tiêu diệt "kẻ thù của cách mạng" diễn ra trong thời gian Cách mạng Pháp năm 1789.

Giới thiệu[sửa | sửa mã nguồn]

Thuật ngữ "đàn áp" được chính thức sử dụng để loại bỏ việc truy tố những người bị coi là những kẻ phản cách mạngkẻ thù của nhân dân. Cuộc thanh trừng có động cơ từ giới lãnh đạo muốn loại bỏ những người định thoát ly ra khỏi Đảng và mong muốn để củng cố quyền lực của Joseph Stalin. Ngoài ra các chiến dịch đàn áp còn được thực hiện chống lại các nhóm sắc tộc thiểu số, và các nhóm xã hội bị buộc tội hoạt động chống lại nhà nước Xô viết và quan điểm chính trị của Đảng Cộng sản Liên Xô.[7]

Hầu hết sự chú ý của công chúng tập trung vào cuộc thanh trừng giới lãnh đạo Đảng Cộng sản, cũng như các quan chức chính phủ và các chỉ huy các lực lượng vũ trang, hầu hết đều là các đảng viên. Các chiến dịch cũng ảnh hưởng tới nhóm khác của xã hội: giới trí thức, nông dân, và đặc biệt là những người bị coi là "quá giàu với một nông dân" (kulak), và thợ chuyên nghiệp.[8] Một loạt các chiến dịch của NKVD (cảnh sát mật Liên Xô) đã ảnh hưởng tới một số sắc tộc thiểu số, bị buộc tội là các cộng đồng mà hoạt động bí mật giúp đỡ ngoại xâm ("fifth column"). Một số cuộc thanh trừng đã được giải thích chính thức là để loại bỏ những khả năng phá hoại và gián điệp, hầu hết bởi một "Tổ chức Quân đội Ba Lan" tưởng tượng và, sau đó, nhiều nạn nhân của cuộc thanh trừng là những công dân Liên Xô gốc Ba Lan bình thường.

Theo bài phát biểu năm 1956 của Nikita Khrushchev, "Về tệ sùng bái cá nhân và những hậu quả của nó," và những phát hiện gần đây, một số lượng lớn những lời buộc tội, đáng chú ý nhất là những lời buộc tội tại Các phiên tòa trình diễn ở Moskva, đều dựa trên những lời khai cưỡng ép, thường có được nhờ tra tấn[9], và việc diễn giải không chính xác Điều 58 (Luật hình sự Liên Xô), về những hình phạt dành cho các tội phản cách mạng. Quy trình pháp luật đúng đắn, theo như luật pháp Liên Xô có hiệu lực ở thời điểm đó, thường bị thay thế phần lớn bằng những biên bản vắn tắt của các NKVD troika (nhóm gồm 3 người cảnh sát mật).[10]

Hàng trăm nghìn người đã bị kết án nhiều loại tội chính trị khác nhau (tình báo, phá phương tiện, phá hoại, hoạt động chống Xô viết, âm mưu bạo loạn và đảo chính); họ thường nhanh chóng bị kết án xử bắn hoặc bị gửi tới các trại lao động Gulag nơi mà họ với những điều kiện sống khắc nghiệt ở những vùng rừng núi xa xôi, phải phá rừng, làm đường, đào sống rạch, làm đường sắt, xây nhà cửa, những công việc ở hầm mỏ. Thí dụ như kinh đào White Sea–Baltic, những phần của tuyến Đường sắt xuyên Sibir cũng như tuyến đường sắt Baikal-Amur-Magistrale do các tù nhân xây. Điều kiện sống và làm việc rất thấp. Nhiều khi họ chỉ nhận được 300 gr bánh mì đen ẩm và một tô canh, vào mùa đông họ cũng chỉ được cho mặc quần áo mùa hè và phải sống trong các dãy nhà bằng gỗ. Mỗi ngày họ thường phải làm trên 12 tiếng. Có những phạm nhân bị tra tấn hoặc bị xử tử do vi phạm nội quy của trại hoặc tìm cách bỏ trốn.[cần dẫn nguồn]. Nhiều người chết trong các trại lao động vì đói, bệnh tật, làm việc quá sức. Các biện pháp xử tử cũng được thử nghiệm. Ví dụ, một cảnh sát mật, phun hơi độc tới chết một số người bị nhốt phía sau một chiếc xe tải van đã được chuyển đổi cho mục đích này.[11][12]

Cuộc Đại thanh trừng đã bắt đầu dưới thời lãnh đạo NKVD là Genrikh Yagoda, nhưng đỉnh điểm của những chiến dịch đó diễn ra thời NKVD nằm dưới sự lãnh đạo của Nikolai Yezhov, từ tháng 9 năm 1936 tới tháng 8 năm 1938, vì thế nó có tên Yezhovshchina. Các chiến dịch được tiến hành theo chỉ thị, và thường là những mệnh lệnh trực tiếp, của Bộ chính trị dưới sự lãnh đạo của Stalin.

Cuộc Đại thanh trừng đã gây ra nhiều cuộc tranh cãi về mục đích, phạm vi và cơ cấu của nó. Trong thập niên 1950, các học giả Mỹ đã đề xuất một sự giải thích cấu trúc của cuộc trấn áp: như một hệ thống chuyên chính, chính quyền của Stalin phải duy trì các công dân của mình trong trạng thái sợ hãi và không chắc chắn, và sự thanh trừng bất thần định kỳ sẽ tạo ra cơ cấu này (Brzezinski, 1958). Robert Conquest nhấn mạnh đến tính đa nghi của Stalin, tập trung vào phiên xử trình diễn tại Moskva với "những người Bolshevik cũ", và phân tích việc tiêu diệt có kế hoạch và hệ thống kỹ lưỡng với giới lãnh đạo Đảng Cộng sản như bước đầu tiến tới khủng bố toàn bộ dân số. Hồi giữa thập niên 1980, John Arch Getty, một nhà sử học Mỹ thuộc phái xét lại phản đối ý tưởng của Conquest. Ông ta cho rằng phạm vi quá rộng của những cuộc thanh trừng là kết quả của những căng thẳng to lớn giữa Stalin và các lãnh đạo Đảng Cộng sản tại các vùng, những người, để thoát khỏi nỗi lo rằng bản thân mình bị nghi ngờ, phải tìm ra thật nhiều kẻ "giơ đầu chịu báng" để thực hiện trấn áp. Theo cách này, họ thể hiện sự cảnh giác và không khoan nhượng với những kẻ thù của nhân dân, từ đó tạo được niềm tin với Stalin. Vì thế, cuộc Đại thanh trừng đã phát triển thành một "chuyến bay rơi vào tình trạng hỗn loạn" (Getty, 1985).

Các nhà sử học ở cả hai trường phái tập trung vào sự thanh trừng với giới chính trị, trí thức, kinh tế hay quân đội, và cuộc đấu tranh giữa các nhóm ở trung ương và địa phương của đảng. Chủ yếu bởi sự thiếu hụt thông tin về chủ đề, không phái nào nghiên cứu cơ cấu, tổ chức, việc thực hiện những cuộc bắt giữ và giết hại hàng loạt, hay tình trạng xã hội học của các nạn nhân, những người chiếm một phần lớn so với giới tinh hoa đảng hay trí thức.

Các giả thuyết trước đây đã bị phản bác nhiều bởi những thông tin mới từ khi thư khố Liên Xô được mở cửa sau khi Liên bang Xô viết chấm dứt tồn tại năm 1991, cho phép nhiều cuộc nghiên cứu sâu hơn với những tài liệu mới. Các học giả đã đi tới quan điểm rằng cuộc Đại thanh trừng là một thời điểm quyết định – hay đúng hơn là một sự phát triển đỉnh điểm – của một chiến dịch tác động xã hội bắt đầu từ đầu những năm 1930 (Hagenloh, 2000; Shearer, 2003; Werth, 2003). Họ cho rằng khoảng 1% dân số thành niên của Liên bang Xô viết là nạn nhân của sự kiện này, và nhiều trẻ em cũng bị ảnh hưởng lây từ nó.[13]

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Vụ án Moskva

Ngay từ lúc đầu của cuộc cách mạng Nga, trấn áp những kẻ có quan điểm chống đối (Bạch Vệ) là một công cụ của những người Bolshevik để giữ vững quyền lực. Trotzki 1918 đã dùng lực lượng dân quân của Hồng quân để chống lại những thành phần chống đối bên trong nước Nga. Với nhu cầu ổn định tình hình đất nước trong sự hỗn loạn của Nội chiến Nga, Với sắc lệnh "Về cuộc khủng bố đỏ" vàp ngày 5 tháng 9 1918, Lenin đã đề nghị sử dụng những biện pháp trấn áp có hệ thống chống lại kẻ thù giai cấp và áp dụng luật lệ riêng biệt cho cảnh sát mật Liên Xô: "Trong tình trạng hiện tại thì thật là cần thiết là phải yểm trợ nhóm Tscheka..., phải cô lập những kẻ thù giai cấp trong những trại tập trung để mà bảo vệ chế độ Cộng hòa, bất cứ ai mà dính líu tới các âm mưu, các cuộc nổi dậy phải bị bắn chết ngay tại chỗ." Từ đó, nhóm Tscheka trở thành một nhà nước trong nhà nước, một bộ phận quyền lực, thi hành những biện pháp trấn áp theo một quy trình khá rõ ràng.[7][nguồn không đáng tin?]

Ngay dưới thời Lenin, các trại tập trung, trại trừng phạt đã được thiết lập, những thành phần bị kết án phản Cách mạng bị trù dập, bỏ tù, tra tấn hoặc xử tử.[7] Đối với những người Bolshevik, kẻ thù là bất cứ những ai cản trở con đường đi tới chế độ chuyên chính vô sản của họ, những người mà không ủng hộ quan điểm của Xô Viết, hay không theo sát ý thức hệ cộng sản chính thức. Kẻ thù đó là những người bất đồng chính kiến, những người giàu, linh mục, người theo đạo và phe đối lập. Theo cái nhìn của người Xô Viết những kẻ thù đó như là mụn nhọt trong cơ thể cần được cắt bỏ.[7][nguồn không đáng tin?]

Lenin là người mà đã chính thức hóa việc sử dụng quyền lực một cách chuyên chế. Ban đầu ông ta coi trọng Stalin, bởi vì ông ta cần một người thi hành những công việc mà những người khác không muốn làm bẩn tay mình. Tuy nhiên khác với Stalin, theo Lenin bạo lực chống lại những người cùng phe là một điều cấm kỵ. Thanh trừng tiếng Nga: "Tschistka" theo Lenin là một biện pháp để cho những đồng chí không tin cậy được trở lại đúng con đường mà đảng hoạch định. Những thành phần này phải tự kiểm điểm công cộng và trong trường hợp còn nghi vấn sẽ bị khai trừ ra khỏi đảng.[7][nguồn không đáng tin?]

Stalin đã biến bộ máy cảnh sát mật thành một bộ máy tiêu diệt. Thanh trừng không còn có nghĩa là khai trừ khỏi chức vụ mà là tiêu diệt, và chỉ có ông là người quyết định và ra lệnh, ai là bạn và ai là thù, ai là kẻ phản bội bị bắt và bị xử tử, ai được phép sống còn.[7][nguồn không đáng tin?]

Ngay từ trong thập niên 1920 Stalin đã bắt đầu loại trừ những đối thủ hoặc những người ông cho là đối thủ chính trị của mình ra khỏi đảng Cộng sản Liên Xô. Sau đó các nạn nhân thường bị chụp mũ với những cáo trạng giả tạo để xử họ qua những vụ án chỉ để tác động dư luận quần chúng, hay xử ngầm, bị xử tử, nhốt tù hay tù lao động trong các trại tù Gulag.[14]

Bối cảnh của những cuộc thanh trừng của Stalin là những thuyết âm mưu nối tiếp nhau, một số để đối phó với nhóm Trotsky. Bên cạnh phần lớn những người thành lập đệ Tam Quốc tế hầu như tất cả các lý thuyết gia của đảng Cộng sản Liên Xô là nạn nhân của các cuộc thanh trừng này. Vị kiểm sát tối cao các phiên tòa ở Moskva từ 1936 tới 1938 là Andrei Wyschinski[cần dẫn nguồn].

Khi quá trình này được thực hiện, Stalin đã củng cố quyền lực của mình ở gần mức tuyệt đối vào năm 1934 với việc Bí thư Thành ủy Leningrad Sergei Mironovich Kirov bị ám sát như một hoàn cảnh để tung ra cuộc thanh trừng vĩ đại chống lại những kẻ bị cho là đối thủ chính trị và tư tưởng của ông ta, nổi tiếng nhất là những cán bộ cao tuổi và những thành viên từ chức vụ thấp đến cao trong Đảng Bolshevik. Lev Davidovich Trotsky đã bị khai trừ khỏi đảng năm 1927, bị đưa tới Kazakhstan năm 1928 và sau đó bị trục xuất hoàn toàn khỏi Liên Xô năm 1929. Stalin đã sử dụng các vụ thanh trừng để hủy hoại về mặt tinh thần và thể chất những đối thủ chính thức khác của ông ta (và cựu đồng minh) buộc tội Grigory Yevseevich ZinovievLev Borisovich Kamenev đứng đằng sau vụ sát hại Kirov và có kế hoạch lật đổ chế độ Stalin. Cuối cùng, những người bị cho là liên quan đến việc này và các âm mưu khác với số lượng hàng chục nghìn người gồm nhiều cựu Bolshevik và thành viên cao cấp của đảng bị buộc tội âm mưu và phá hoại để giải thích cho những vụ tai nạn công nghiệp, sự thâm hụt sản xuất và các tai nạn khác của nền kinh tế. Các biện pháp để chống lại những người đối lập và bị nghi ngờ gồm việc giam giữ trong các trại lao động (Gulag) tới xử bắn (con trai Trotsky, Lev Sedov và giống như Sergei Kirov bản thân Trotsky khi lưu vong nước ngoài cũng chết dưới bàn tay những điệp viên của Stalin năm 1940). Thời kỳ từ 1936 đến 1937 thường được gọi là "Nỗi khiếp sợ vĩ đại", với hàng trăm nghìn người (thậm chí chỉ đơn giản bị nghi ngờ chống đối chế độ Stalin) bị xử bắn hoặc bị bỏ tù. Stalin nổi tiếng với việc đã đích thân ký 357 danh sách, trong đó có tên 40.000 người mà tòa án đã kết án tử hình.[15].

Trong thời kỳ đó, việc thực hiện các cuộc bắt giữ hàng loạt, tra tấn và phạt tù hay tử hình, đối với bất kỳ kẻ tình nghi nào là chống đối chính quyền Stalin của cảnh sát mật trở thành chuyện thường tình. Theo ước tính của NKVD, 681.692 người đã bị kết án tử hình chỉ riêng trong khoảng 1937-1938 (mặc dù nhiều nhà sử học nghĩ rằng con số này vẫn còn dưới mức thực tế), và hàng triệu người đã bị chuyển tới các trại lao động Gulag.

Nhiều tòa án trình diễn đã được tổ chức ở Moskva để phục vụ như ví dụ cho những phiên tòa mà tòa án địa phương sẽ tiến hành ở những nơi khác trong đất nước. Có bốn vụ xử quan trọng từ 1936 đến 1938, Phiên tòa Mười sáu tên là vụ đầu tiên (tháng 12 năm 1936); sau đó là Phiên tòa Mười bảy tên (tháng 1 năm 1937); rồi Phiên tòa các vị tướng Hồng Quân, gồm cả nguyên soái Mikhail Nikolayevich Tukhachevsky (tháng 6 năm 1937); và cuối cùng là Phiên tòa Hai mốt tên, gồm cả Nikolai Ivanovich Bukharin (tháng 3 năm 1938).

Ngày 2 tháng 6, trong một cuộc họp của 116 tướng lĩnh cao cấp của Hồng quân, Stalin lên tiếng về vụ bắt giữ Mikhail Nikolayevich Tukhachevsky là "không nghi ngờ gì nữa, một âm mưu quân sự - chính trị do bè lũ phát - xít Đức kích động và tài trợ chống lại Nhà nước Liên Xô đã xảy ra",[16] sau đó Tukhachevsky bị kết án tử hình cùng với 7 sĩ quan khác của Hồng quân trong phiên xử kín được biết dưới tên "Vụ án bè lũ phản cách mạng Trotskyist trong Hồng quân".

Trong thời gian Chiến tranh lạnh, một số nhà sử học đặt nghi vấn rằng các điệp viên Đức, dưới sự chỉ đạo của Heinrich HimmlerReinhard Heydrich đã phát tán các tài liệu giả về mối quan hệ giữa M. N. Tukhachevsky với Bộ Tổng tham mưu Quân đội Đức Quốc xã để gieo rắc nghi ngờ ở Stalin, qua đó làm Hồng quân suy yếu[17]. Theo giả thiết này, các tài liệu giả được chuyển cho tổng thống Tiệp Khắc Edvard Beneš, ông này tin tưởng vào giá trị của chúng và đã trao nó cho Stalin[17].

Tuy nhiên, các tài liệu lưu trữ được công bố sau khi Liên Xô sụp đổ cho thấy rằng chính NKVD (НКВД СССР) đã đứng đằng sau kế hoạch này[17] khi thông qua một điệp viên của mình chuyển thông tin giả cho Reinhard Heydrich, còn Reinhard Heydrich thì chớp cơ hội bịa ra những tài liệu đáng tin cậy hơn và chuyển trở lại cho các nguồn trung gian[17]. Cũng theo nguồn tài liệu lưu trữ này được phân tích bởi sử gia Mỹ J. Arch Getty, thì Tukhachevsky được Stalin nhận định là không thuộc nhóm "Đảng trước, Quân đội sau" như Voroshilov và Budenny,[18] trong khi chính sách của Stalin trong nửa sau năm 1937, là "tiêu diệt bất kỳ ai nghi ngờ có biểu hiện hoặc có tiềm năng là không trung thành với nhóm Stalin".[19] Thái độ này của Stalin cũng được sử gia Otto Preston Chaney xác nhận khi cho rằng "một số nhân chứng trong cuộc khẳng định rằng kế hoạch buộc tội Tukhachevsky do NKVD chuẩn bị và thực hiện không thể không được Stalin thông qua".[20].

Ngoài ra phần lớn các lãnh đạo quân đội chung quanh thống chế Mikhail Nikolayevich Tukhachevsky bị buộc tội có âm mưu chống Đảng và bị sát hại. Nhiều người cộng sản có nguồn gốc ở nơi khác, di cư sang Liên Xô cũng trở thành nạn nhân. Năm 1940 chính người có trách nhiệm lớn trong việc thi hành các cuộc thanh trừng Nikolai Jeschow, mà từ 1936 tới 1938 bộ trưởng Bộ Nội vụ và ứng cử viên Bộ chính trị, cũng như người tiền nhiệm của ông Genrich Jagoda trở thành nạn nhân cuộc khủng bố Stalin. Thay thế ông vào ngày 24 tháng 11 1938 là Lawrenti Beria, đã cùng với Iwan Serow tiếp tục các cuộc thanh trừng. Beria bị xử tử 1953.[21]

Stalin không những chỉ cho trừng phạt những người mà ông cho là đối thủ chính trị, trong đó có nhiều người cộng sản ngoại quốc mà sống ở Liên Xô hay vì bị truy đuổi phải tị nạn ở đó, ngoài ra còn cả những dân tộc thiểu số ở Liên Xô bị đưa vào trại lao động (Gulag) do có hành động chống Nhà nước Xô viết. Ngay cả những chủ điền hay những người bị xếp vào hạng này, các linh mục, thầy tu và con chiên cũng trở thành nạn nhân của các cuộc thanh trừng. Thân nhân của họ cũng không được để yên thân. Nhiều người không dính líu gì đến chính trị như công nhân, nông dân, nhà khoa học, sử gia, nhà văn, họa sĩ, nhạc sĩ ... cũng bị bắt vì những lý do như phá hoại sản xuất, có quan điểm trái ngược với chủ nghĩa Marx - Lenin... Ngay cả người dân của các vùng mà bị Hồng quân chiếm đóng, cũng trở thành nạn nhân như người Baltic, Ba Lan, Hungary, Romania, Đức như vụ thảm sát Katyn với sự đồng ý của Stalin trên 20 ngàn tù binh người Ba Lan đã bị hành quyết.[22]

Những tuyên truyền của Stalin, mà thường cũng được tiếp tục loan truyền từ các đảng Cộng sản ở các nước khác, cho là các cuộc thanh trừng là để ngăn ngừa các đối thủ chính trị không bắt tay với Đức quốc xã, với Nhật Bản, với Ba Lan, với Phần Lan, hay với các thành phần thù nghịch khác. Một số tội ác của Stalin 1956, 3 năm sau cái chết của Stalin, trong đại hội đảng Cộng sản Liên Xô lần thứ XX được tiết lộ và lên án. Một số nạn nhân được phục hồi danh dự.[cần dẫn nguồn]

Vai trò của Stalin[sửa | sửa mã nguồn]

Một danh sách từ cuộc đại thanh trừng được ký bởi Molotov, Stalin, Voroshilov, Kaganovich, vàZhdanov

Các sử gia mà có quyền xem các tài liệu các văn khố Nga đã chứng nhận là Stalin đã tham dự chặt chẽ vào cuộc khủng bố. Sử gia Nga Oleg V. Khlevniuk nhận định “…những lý thuyết là cuộc khủng bố xảy ra bất thình lình, do mất sự kiểm soát của trung ương về việc đàn áp tập thể, và về vai trò các lãnh tụ địa phương về việc gây ra cuộc khủng bố là thiếu những bằng chứng lịch sử.”[23] Chính cá nhân Stalin đã điều hành Yezhov tra khảo những người đã không nhận tội. Thí dụ, ông ta đã nói với Yezhov "Không phải bây giờ là lúc để ép hắn và buộc hắn báo cáo về những việc làm bẩn thỉu của hắn hay sao? Hắn đang ở đâu, nhà tù hay khách sạn?". Trong một trường hợp khác, khi xem lại một trong các danh sách của Yezhov, ông ta đã thêm tên của M. I. Baranov vào và nói "đánh, đánh!"[24]

Bên cạnh việc cho phép tra tấn, Stalin cũng đã ký 357 danh sách vào năm 1937 và 1938 cho phép xử tử 40.000 người, và vào khoảng 90% số người này đã được xác nhận là đã bị bắn.[15] Trong khi xem lại một trong những danh sách này, Stalin đã lẩm bẩm một mình: "Trong 10 hay 20 năm nữa, ai còn nhớ tới những người này? Không ai cả. Ai còn nhớ dến những tên mà Ivan Hung đế đã loại trừ? Không ai cả."[25]

Số người bị xử bắn[sửa | sửa mã nguồn]

Con số nạn nhân mà đã chết trong các cuộc thanh trừng, luôn gây nhiều tranh cãi. Trước đây các nhà sử gia chỉ có thể phỏng đoán, có ước tính cho rằng số nạn nhân chết là đến 60 triệu người[26]. Theo các tài liệu Liên Xô được giải mật, trong khoảng thời gian từ năm 1937 tới năm 1938, tổ chức NKVD bắt giữ 1.548.367 người, trong đó 681.692 bị xử bắn, trung bình 1.000 vụ xử bắn một ngày.[27] Sử gia Michael Ellman cho rằng ước đoán chính xác nhất về số người chết do cuộc thanh trừng của Stalin trong khoảng hai năm đó là chừng 950.000 tới 1,2 triệu người, bao gồm cả những người chết trong trại giam và những người chết ít lâu sau khi được thả từ các trại giam Gulag. Ông cũng cho rằng đó là ước tính mà các sử gia và giáo viên sử học Nga nên sử dụng.[28] Theo "Tổ chức Tưởng niệm"

  • Trong các cuộc điều tra do Bộ An Ninh NKVD (GUGB NKVD) có:
    • Ít nhất 1.710.000 người bị bắt
    • Ít nhất 1.440.000 người bị kết án
    • Ít nhất 724.000 bị kết án tử hình, trong số đó:
      • Ít nhất 436.000 người bị kết án tử hình bởi lực lượng troika thuộc NKVD, như một phần chiến dịch Kulak
      • Ít nhất 247.000 người bị kết án tử hình bởi lực lượng Dvoikas thuộc NKVD và Lực lượng đặc nhiệm Troykas như một phần của chiến dịch sắc tộc
      • Ít nhất 41.000 người bị kết án tử hình bởi Tòa án binh
  • Trong số các vụ xử tháng 10 năm 1936 tới tháng 11 năm 1938:
    • Ít nhất 400.000 người bị kết án khổ sai bởi lực lượng cảnh sát Troikas như những Thành phần tệ nạn xã hội (социально-вредный элемент, СВЭ)
    • Ít nhất 200.000 người bị đi đày hoặc bị trục xuất theo Thủ tục hành chính

Ngoài ra, ít nhất 2 triệu người bị kết án bởi các tòa án do phạm các tội dân sự như trộm cắp, cướp giật, lừa đảo... trong số đó khoảng 800 ngàn người bị kết án vào các trại Gulag.

Theo chủ tịch hội đồng quốc gia Áo Ts. Heinz Fischer, qua nhiều năm nghiên cứu tại văn khố Nga, đây là một cuộc trấn áp rộng khắp. Trong số 7 người trong bộ chính trị của Lenin, tất nhiên ngoài Stalin, không ai thoát khỏi cuộc hành quyết "Tschistka". Trong số 19 thành viên của bộ chính trị 1934, năm 1938 chỉ có 7 người còn lại, từ 139 thành viên ủy ban trung ương 1934, chỉ có 41 người sau năm 1941 vẫn chưa bị chết hoặc bị bắt giam. 98 người trong số 139 ủy viên chính thức và dự khuyết của Ban Trung ương do Đại hội thứ XVII bầu ra, nghĩa là 70 %, đã bị bắt giữ và bị xử bắn (phần đông vào những năm 1937-38) (Trong diễn văn Về sùng bái cá nhân và những hậu quả của nó). Tương tự như vậy người ta có thể khẳng định con số đại biểu đảng và cán bộ cấp địa phương bị thanh trừng.[29] Trong lực lượng quân đội Liên Xô, 3/5 Nguyên soái[30], 14/16 Tư lệnh Tập đoàn quân, 60/87 Quân đoàn trưởng, 136/199 Sư đoàn trưởng, tổng cộng 40.000 sĩ quan Hồng quân bị kết án "kẻ thù của nhân dân" trong cuộc thanh trừng[31].

Theo Jörg Baberowski, giáo sư về Đông Âu tại đại học Humboldt ở Berlin, cao điểm của cuộc khủng bố là từ tháng 7 năm 1937 cho tới giữa tháng 11 năm 1938. Trong những tháng này, đã có 1,5  triệu người bị bắt, trong số đó phân nửa bị xử tử, những người khác (ngoại trừ một số ngoại lệ nhỏ được thả ra) bị cầm tù hay đưa vào trại lao động Gulag[7]

Một số chuyên gia cho rằng các bằng chứng từ tư liệu của Liên Xô đã được làm giảm nhẹ đi, không hoàn chỉnh, hoặc là không đáng tin.[32][33][34][35] Ví dụ, Robert Conquest cho rằng số vụ hành quyết trong những năm xảy ra cuộc Đại thanh trừng có lẽ không phải là 681.692 người, mà phải nhiều gấp hai lần rưỡi. Ông cho rằng KGB che đậy bớt dấu vết bằng cách giả mạo ngày tháng và nguyên nhân cái chết của những nạn nhân được minh oan sau đó.[36]

Mục đích của trấn áp[sửa | sửa mã nguồn]

Việc gì dẫn tới những cuộc thanh trừng của Stalin và nó đóng vai trò nào trong hệ thống quyền lực của chủ nghĩa Stalin, là một đề tài gây nhiều tranh cãi giữa các nhà nghiên cứu. Một số, như Oleg Gordievsky và Christopher Andrew, cho là Stalin quá tin vào những thuyết âm mưu khiến ông bị mắc bệnh hoang tưởng.[37]

Dimitri Wolkogonow thì không tin, Stalin thực sự muốn chống lại những âm mưu phe của Trotzky và những người nằm vùng cho chủ nghĩa tư bản, mà cho là các cuộc thanh trừng là những tính toán duy lý để bảo vệ chế độ và giữ vững quyền lực của mình.

Wolkogonow còn kể thêm một vấn đề có liên quan tới bối cảnh các cuộc thanh trừng: Cuộc sản xuất kỹ nghệ tuy đã phát triển, trên báo chí khắp mọi nơi đã báo cáo những thành công. Thực tế là có thể thấy được sự thiếu hụt, phẩm lượng của hàng hóa sản xuất kém, tiêu chuẩn kỹ thuật thấp. Khoảng cách giữa thực tế và tuyên truyền trên báo chí ngày càng lớn hơn. Để có thể hoàn tất được tiêu chuẩn đưa ra, thì phải tận dụng tối đa những máy móc mà thường bị chăm sóc kém cũng như tăng thêm thật nhiều sức lao động. Nó đưa tới nhiều tại nạn và hư hỏng máy móc. Báo chí cho đó là có phá hoại, mà tội phá hoại tài sản công được coi là một tội nặng. Từ đó bỗng nhiên là khắp mọi nơi xuất hiện những kẻ phá hoại, và kẻ thù của nhân dân.[cần dẫn nguồn]

Báo Dépêtre d'Indochine bình luận mục đích của Stalin trong sự kiện này là nhằm loại bỏ những phần tử hiếu chiến trong quân đội:

Trên tờ Sông Hương ngày 3 Tháng Bảy 1937:

Tùy theo nhãn quan chính trị mà việc đánh giá cuộc thanh trừng Stalin là rất khác nhau. Ngày nay, sách giáo khoa lịch sử của Nga nhìn nhận cuộc trấn áp của Stalin một cách khách quan hơn. Trong thời kỳ này, ở Liên Xô luôn tồn tại chủ nghĩa dân tộc cực đoan đe dọa gây ra thảm họa mới cho đất nước. Trong khoảng thời gian 1944-1954, đã có tới 40.000 dân thường chết do lực lượng theo chủ nghĩa dân tộc gây ra. Stalin đã cứng rắn và khôn khéo lãnh đạo đất nước dập tắt phong trào này, góp phần củng cố, phát triển Liên bang Xô-Viết. Sách giáo khoa mới đã đánh giá việc trấn áp của Stalin là phù hợp với tình hình lúc bấy giờ. Đối với vấn đề thanh trừng nội bộ cũng được sách bình luận theo chiều hướng tích cực: Trấn áp không phải để "lạm sát người vô tội" mà bản ý của Stalin là loại bỏ những cán bộ kém năng lực, suy thoái đạo đức, tham nhũng trong nội bộ chính quyền. Thực tế này được xem là khát vọng của Stalin muốn bảo đảm cho bộ máy quản lý phát huy hiệu quả lớn nhất.[40]

Một số nạn nhân tiêu biểu[sửa | sửa mã nguồn]

Bộ Chính trị[sửa | sửa mã nguồn]

  • Leon Trotsky Ùy viên Bộ Chính trị, lưu vong tại Mexico, bị mật vụ NKVD ám sát năm 1940.
  • Alexei Rykov Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch Hội đồng Nhân dân Xô Viết, xử tử năm 1938.
  • Lev Kamenev Ủy viên Bộ Chính trị, Phó chủ tịch Hội đồng Nhân dân Xô Viết, xử tử năm 1936.
  • Grigory Zinoviev Ủy viên Bộ Chính trị, xử tử năm 1936.
  • Nikolai Bukharin Ủy viên Bộ Chính trị, Nhà lý luận Bolshevik, xử tử năm 1938.
  • Bubnov:là một trong 7 thành viên bộ chính trị năm 1918, bị bắt vào tháng 10 và trục xuất khỏi ủy ban trung ương đảng vào tháng 11/1937, bị kết án tử hình ngày 1/8/1938 và bị bắn chết cùng ngày. Bubnov được phục hồi danh dự vào năm 1958.[41]
  • Kossior: 1925-28 bí thư ủy ban trung ương, 1930-38 thành viên bộ chính trị, mặc dù là người thân cận của Stalin, nhưng vì bị vu khống từ Kiev, vẫn bị xử tử năm 1938. Năm 1956 được Nikita Sergeyevich Khrushchyov phục hồi danh dự.[42]

Quan chức và sĩ quan[sửa | sửa mã nguồn]

  • Sergey Kirov Bí thư Đảng Cộng sản Azerbaijan, Bí thư Thành phố Leningrad, được cho là bị NKVD ám sát năm 1934.
  • Aghasi Khanjian Bí thư Đảng Cộng sản Armenia, xử tử năm 1936.
  • Genrikh Yagoda Giám đốc Mật vụ NKVD, xử tử năm 1938.
  • Mikhail Tukhachevsky Tổng Tham mưu trưởng Hồng quân, Nguyên soái Liên Xô, xử tử năm 1937.
  • Vasily Blyukher Nguyên soái Liên Xô, xử tử năm 1938.
  • Alexander Yegorov Nguyên soái Liên Xô, xử tử năm 1939.

Cựu thành viên Bolshevik[sửa | sửa mã nguồn]

Nhân vật Cộng sản quốc tế[sửa | sửa mã nguồn]

  • Béla Kun Lãnh đạo Cộng hòa Xô Viết Hungary (1919), xử tử năm 1938.
  • Karl Radek Nhà cách mạng Mác-xít hoạt động tại Ba Lan và Đức, xử tử năm 1939.
  • Christian Rakovsky Nhà cách mạng gốc Bulgari, xử tử năm 1941.
  • Virendranath Chattopadhyaya Nhà cách mạng người Ấn Độ, thành viên Đảng Cộng sản Đức, xử tử năm 1937.

Các nhà trí thức[sửa | sửa mã nguồn]

  • Alexander Samoylovich Nhà nhân chủng học, thành viên Viện Hàn lâm Khoa học Liên Xô, xử tử năm 1938.
  • Nikolai Vavilov Nhà thực vật học, kết án tử năm 1941, chết đói trong tù năm 1943.
  • Isaac Babel Nhà văn gốc Do Thái, xử tử năm 1940.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Figes 2007, tr. 227–315
  2. ^ Über das Schicksal dieser fünf Personen berichtet Chlewnjuk: Das Politbüro. S. 305–323.
  3. ^ DER GROSSE TERROR, Ấn bản lịch sử đặc biệt của tuần báo Spiegel 4/2007 về Experiment Kommunismus, die Russische Revolution und Ihre Erben (Thí nghiệm Cộng sản, cách mạng Nga và những di sản của nó)
  4. ^ Der große Terror, Gregor Delvaux de Fenffe, planet-wissen, 27.08.2013
  5. ^ Oleg V. Khlevniuk, The History of the Gulag, New Haven 2004, S. 140, S. 166.
  6. ^ Revolution, Stalinismus und Genozid, bpb, 22.10.2007
  7. ^ a ă â b c d đ Der große Terror, Gregor Delvaux de Fenffe, planet-wissen, 27.08.2013
  8. ^ Conquest 2008, tr. 250, 257–8
  9. ^ Conquest 2008, tr. 121 which cites his secret speech
  10. ^ Conquest 2008, tr. 286
  11. ^ Merridale 2002, tr. 200
  12. ^ Colton 1998, tr. 286
  13. ^ Nicolas Werth, "Case Study:The NKVD Mass Secret Operation n° 00447 (August 1937 – November 1938)", Mass Violence
  14. ^ Horst Schützler, Vorwort, in: Schauprozesse unter Stalin 1932–1952. Zustandekommen, Hintergründe, Opfer, Dietz, Berlin 1990, S. 8 f.
  15. ^ a ă Michael Ellman, Stalin and the Soviet Famine of 1932–33 Revisited Europe-Asia Studies, Routledge. Vol. 59, No. 4, June 2007, 663–693. PDF file
  16. ^ Getty & Naumov 2002, trg. 444.
  17. ^ a ă â b Lukes 1996, trg. 95.
  18. ^ Getty & Naumov 2002, trg. 445.
  19. ^ Getty & Naumov 2002, trg. 447.
  20. ^ Chaney 1996, trg.38.
  21. ^ “Citizen Kurchatov Stalin's Bomb Maker”. PBS (documentary). Truy cập ngày 12 tháng 2 năm 2007. 
  22. ^ Kużniar-Plota, Małgorzata (ngày 30 tháng 11 năm 2004). “Decision to commence investigation into Katyn Massacre”. Departmental Commission for the Prosecution of Crimes against the Polish Nation. Truy cập ngày 4 tháng 8 năm 2011. 
  23. ^ Oleg V. Khlevniuk. Master of the House: Stalin and His Inner Circle. Yale University Press, 2008. ISBN 0-300-11066-9 p. xix
  24. ^ Marc Jansen, Nikita Vasilʹevich Petrov. Stalin's Loyal Executioner: People's Commissar Nikolai Ezhov, 1895-1940. Hoover Institution Press, 2002. ISBN 0-8179-2902-9 p. 111
  25. ^ Quoted in Dmitri Volkogonov, Stalin: Triumph and Tragedy (New York, 1991), pg 210.
  26. ^ Alexander Solschenizyn: Der Archipel GULAG. Scherz, Bern 1974, ISBN 3-502-21001-2.
  27. ^ Communism: A History (Modern Library Chronicles) by Richard Pipes, pg 67
  28. ^ Soviet Repression Statistics: Some Comments by Michael Ellman, 2002
  29. ^ Fischer präsentiert Forschungen über Österreicher in der UdSSR, Quốc hội Áo, Tài liệu quốc hội Nr. 132 ngày 03.03.1997
  30. ^ Cả YegorovBlyukher là 2 Nguyên soái tham gia xét xử Tukhachevsky bị bắt và xử bắn. Riêng Budyonny thì vẫn giữ chức, nhưng không bảo vệ được vợ mình.
  31. ^ Chaney 1996, trg.40.
  32. ^ Communism: A History (Modern Library Chronicles) by Richard Pipes, pg 67
  33. ^ Stalinism in Post-Communist Perspective: New Evidence on Killings, Forced Labour and Economic Growth in the 1930s by Steven Rosefielde, 1996
  34. ^ Comment on Wheatcroft by Robert Conquest, 1999
  35. ^ Gulag: A History by Anne Applebaum, pg 584
  36. ^ Life and Terror in Stalin's Russia: 1934-1941. - book reviews by Robert Conquest, 1996, National Review
  37. ^ Oleg Gordievsky, Christophe Andrew: KGB: The Inside Story. Hodder & Stoughton, 1990, S. 114
    ähnlich auch Daniel Pipes, Verschwörung. Faszination und Macht des Geheimen. Gerling Akademie, München 1998, S. 166 u. ö.
  38. ^ Tràng An báo ngày 27 Tháng Một 1942
  39. ^ Sông Hương ngày 3 Tháng Bảy 1937
  40. ^ Niên giám thông tin Khoa học xã hội nước ngoài, số 1, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội, 2010
  41. ^ “Guide to the history of the Communist Party and the Soviet Union”. Knowbysight.info. Truy cập ngày 13 tháng 6 năm 2013. 
  42. ^ “Russische Biografie mit Foto”. 

Tài liệu tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Rehabilitation: As It Happened. Documents of the CPSU CC Presidium and Other Materials. Vol. 2, February 1956–Early 1980s. Moskva, 2003. Compiled by A. Artizov, Yu. Sigachev, I. Shevchuk, V. Khlopov under editorship of acad. A. N. Yakovlev.
  • Chaney, Otto Preston. Zhukov - Revised Edition. University of Oklahoma Press; Rev Sub edition, September 1996. ISBN 978-0806128078
  • Eternal Memory: Voices From the Great Terror. 1997. 16 mm feature film directed by Pultz, David. Narrated by Meryl Streep. USA.
  • Robert Conquest: The Great Terror: Stalin's Purge of the Thirties. 1968.
  • Robert Conquest, The Great Terror: A Reassessment, Oxford University Press, May 1990, hardcover, ISBN 0-19-505580-2; trade paperback, Oxford, September, 1991, ISBN 0-19-507132-8
  • Robert Gellately, Lenin, Stalin, and Hitler: The Age of Social Catastrophe. Knopf, August 2007, 720 pages, ISBN 1400040051
  • J. Arch Getty and Oleg V. Naumov, The Road to Terror: Stalin and the Self-Destruction of the Bolsheviks, Yale University Press, 1999.
  • J. Arch Getty and Roberta T. Manning, Stalinist Terror: New Perspectives, New York, Cambridge University Press, 1993.
  • Nicolas Werth, Karel Bartosek, Jean-Louis Panne, Jean-Louis Margolin, Andrzej Paczkowski, Stephane Courtois, The Black Book of Communism: Crimes, Terror, Repression, Harvard University Press, 1999, hardcover, 858 pages, ISBN 0-674-07608-7. Chapter 10: The Great Terror, 1936-1938.
  • John Earl HaynesHarvey Klehr, In Denial: Historians, Communism, and Espionage, Encounter Books, September, 2003, hardcover, 312 pages, ISBN 1-893554-72-4
  • Barry McLoughlin and Kevin McDermott, Stalin's Terror: High Politics and Mass Repression in the Soviet Union, Palgrave Macmillan, December 2002, hardcover, 280 pages, ISBN 1403901198
  • Hiroaki Kuromiya, The Voices of the Dead: Stalin's Great Terror in the 1930s. Yale University Press, ngày 24 tháng 12 năm 2007. ISBN 0300123892
  • Arthur Koestler, Darkness at Noon, 1940, ISBN 0-553-26595-4
  • Rehabilitation: Political Processes of 30-50th years, in Russian (Реабилитация. Политические процессы 30-50-х годов), editor: Academician A.N.Yakovlev, 1991 ISBN 5-250-01429-1
  • Aleksandr I. Solzhenitsyn, The Gulag Archipelago 1918-1956, HarperCollins, February, 2002, paperback, 512 pages, ISBN 0-06-000776-1
  • Eugene Lyons, Assignment in Utopia, Harcourt Brace and Company, 1937.
  • Vadim Rogovin, "Two lectures: Stalin's Great Terror: Origins and Consequences Leon Trotsky and "The Fate of Marxism in the USSR" Mehring books, ISBN 0-929087-83-6 1996
  • Vadim Rogovin, "1937: Stalin's Year of Terror." Mehring books, ISBN 0-929087-77-1 1996.
  • Wolfgang Leonhard: Die Revolution entläßt ihre Kinder. Kiepenheuer & Witsch, Köln u. a. 1955, (16. Auflage: ebda. 1996, ISBN 3-462-01463-3, (KiWi 119)).
  • Heinz-Dietrich Löwe: Stalin. Der entfesselte Revolutionär. 2 Bände. Muster-Schmidt, Göttingen u. a. 2002, ISBN 3-7881-0153-9, (Persönlichkeit und Geschichte 162).
  • Reinhard Müller: „Wir kommen alle dran“. Säuberungen“ unter den deutschen Politemigranten in der Sowjetunion (1934–1938). In: Hermann Weber, Ulrich Mählert (Hrsg.): Terror. Innerkommunistische „Säuberungen“ vor und nach dem 2. Weltkrieg, Paderborn 1998, S. 121–166. ISBN 3-506-75336-3.
  • Reinhard Müller: Der Fall des Antikomintern-Blocks- ein vierter Moskauer Schauprozeß? in: Jahrbuch für Historische Kommunismusforschung, Jg. 4, 1996, S. 187–214.
  • Theo Pirker (Hrsg.): Die Moskauer Schauprozesse 1936–1938. Deutscher Taschenbuch Verlag, München 1963.
  • Wadim S. Rogowin: Die Partei der Hingerichteten. Arbeiterpresse Verlag, Essen 1999, ISBN 3-88634-072-4, (Gab es eine Alternative? 5).
  • Wadim S. Rogowin: 1937. Jahr des Terrors. Arbeiterpresse, Essen 1998, ISBN 3-88634-071-6.
  • Rudolph J. Rummel: „Demozid“ – Der befohlene Tod. Massenmorde im 20. Jahrhundert. Mit einem Vorw. von Yehuda Bauer. Lit Verlag, Münster [u. a.] 2003, ISBN 3-8258-3469-7, (Wissenschaftliche Paperbacks 12).
  • Hans Schafranek: Kontingentierte „Volksfeinde“ und „Agenturarbeit“. Verfolgungsmechanismen der stalinistischen Geheimpolizei NKWD am Beispiel der fiktiven „Hitler-Jugend“ in Moskau (1938) und der „antisowjetischen Gruppe von Kindern repressierter Eltern“ (1940). In: Internationale wissenschaftliche Korrespondenz zur Geschichte der deutschen Arbeiterbewegung 1, 2001, Bản mẫu:ZDB, S. 1–76.
  • Schauprozesse unter Stalin. 1932–1952. Zustandekommen, Hintergründe, Opfer. Mit einem Vorwort von Horst Schützler. Dietz Verlag, Berlin 1990, ISBN 3-320-01600-8.
  • Hermann Weber: „Weiße Flecken“ in der Geschichte. Die KPD-Opfer der Stalinschen Säuberungen und ihre Rehabilitierung. 2. überarbeitete und erweiterte Auflage. isp-Verlag, Frankfurt am Main 1990, ISBN 3-88332-176-1.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]