Đại thanh trừng

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Một phần tấm bảng với những bức ảnh các phạm nhân đã bị xử bắn tại trường bắn Butovo gần Moskva. Các bức ảnh được chụp sau khi mỗi phạm nhân bị bắt.

Đại thanh trừng là một loạt các biện pháp trấn áp tại Liên Xô kéo dài từ mùa thu 1936 cho tới cuối năm 1938. Sự kiện này liên quan tới một cuộc thanh trừng trên diện rộng với Đảng Cộng sản Liên Xô và các quan chức chính phủ, đàn áp các địa chủ (kulak), các chỉ huy Hồng quân bị kết án mưu phản, và những người không liên kết trong một không khí giám sát và nghi ngờ lan rộng với "những kẻ phá hoại"[1] Tính theo tỷ lệ, đa số nạn nhân cuộc Đại thanh trừng là những người Bolshevik cũ.[2] Cuộc thanh trừng này, theo lệnh của Josef Stalin và được Bộ chính trị đảng Cộng sản Liên Xô chấp thuận, được thực hiện bởi Bộ nội vụ Liên Xô (NKVD) dưới sự điều hành của Nikolai Jeschow. Cuộc thanh trừng này nhắm vào những người bị cho là kẻ thù của chế độ Stalin và những người hay các nhóm mà bị cho là không thể tin cậy được.

Theo Jörg Baberowski, giáo sư về Đông Âu tại đại học Humboldt ở Berlin, cao điểm của các cuộc trấn áp là từ tháng 7 năm 1937 cho tới giữa tháng 11 năm 1938. Trong giai đoạn này, đã có 1,5  triệu người bị bắt, trong số đó gần một nửa bị xử bắn, những người khác (ngoại trừ số được thả ra do không đủ chứng cứ) bị cầm tù hay đưa vào trại lao động Gulag[3][4][5]

phương Tây, cuốn sách của Robert Conquest năm 1968 The Great Terror (Đại khủng bố) đã khiến thuật ngữ này trở nên quen thuộc. Cái tên này lại có nguồn gốc từ Triều đại Khủng bố (tiếng Pháp: la Terreur), một phong trào của chính quyền cách mạng Pháp nhằm tiêu diệt "kẻ thù của cách mạng" diễn ra trong thời gian Cách mạng Pháp năm 1789.

Giới thiệu[sửa | sửa mã nguồn]

Thuật ngữ "đàn áp" được chính thức sử dụng để loại bỏ việc truy tố những người bị coi là những kẻ phản cách mạngkẻ thù của nhân dân. Cuộc thanh trừng có động cơ từ giới lãnh đạo muốn loại bỏ những người định thoát ly ra khỏi Đảng và mong muốn để củng cố quyền lực của Joseph Stalin. Ngoài ra các chiến dịch đàn áp còn được thực hiện chống lại các nhóm sắc tộc thiểu số, và các nhóm xã hội bị buộc tội hoạt động chống lại nhà nước Xô viết và quan điểm chính trị của Đảng Cộng sản Liên Xô.[6]

Hầu hết sự chú ý của công chúng tập trung vào cuộc thanh trừng giới lãnh đạo Đảng Cộng sản, cũng như các quan chức chính phủ và các chỉ huy các lực lượng vũ trang, hầu hết đều là các đảng viên. Các chiến dịch cũng ảnh hưởng tới nhóm khác của xã hội: giới trí thức, nông dân, và đặc biệt là những người bị coi là "quá giàu với một nông dân" (kulak), và thợ chuyên nghiệp.[7] Một loạt các chiến dịch của NKVD (cảnh sát mật Liên Xô) đã ảnh hưởng tới một số sắc tộc thiểu số, bị buộc tội là các cộng đồng mà hoạt động bí mật giúp đỡ ngoại xâm ("fifth column"). Một số cuộc thanh trừng đã được giải thích chính thức là để loại bỏ những khả năng phá hoại và gián điệp, hầu hết bởi một "Tổ chức Quân đội Ba Lan" tưởng tượng và, sau đó, nhiều nạn nhân của cuộc thanh trừng là những công dân Liên Xô gốc Ba Lan bình thường.

Theo bài phát biểu năm 1956 của Nikita Khrushchev, "Về tệ sùng bái cá nhân và những hậu quả của nó," và những phát hiện gần đây, một số lượng lớn những lời buộc tội, đáng chú ý nhất là những lời buộc tội tại Các phiên tòa trình diễn ở Moskva, đều dựa trên những lời khai cưỡng ép, thường có được nhờ tra tấn[8], và việc diễn giải không chính xác Điều 58 (Luật hình sự Liên Xô), về những hình phạt dành cho các tội phản cách mạng. Quy trình pháp luật đúng đắn, theo như luật pháp Liên Xô có hiệu lực ở thời điểm đó, thường bị thay thế phần lớn bằng những biên bản vắn tắt của các NKVD troika (nhóm gồm 3 người cảnh sát mật).[9]

Hàng trăm nghìn người đã bị kết án nhiều loại tội chính trị khác nhau (tình báo, phá phương tiện, phá hoại, hoạt động chống Xô viết, âm mưu bạo loạn và đảo chính); họ thường nhanh chóng bị kết án xử bắn hoặc bị gửi tới các trại lao động Gulag. Nhiều người chết trong các trại lao động vì đói, bệnh tật, làm việc quá sức. Các biện pháp xử tử cũng được thử nghiệm. Ví dụ, một cảnh sát mật, phun hơi độc tới chết một số người bị nhốt phía sau một chiếc xe tải van đã được chuyển đổi cho mục đích này.[10][11]

Cuộc Đại thanh trừng đã bắt đầu dưới thời lãnh đạo NKVD là Genrikh Yagoda, nhưng đỉnh điểm của những chiến dịch đó diễn ra thời NKVD nằm dưới sự lãnh đạo của Nikolai Yezhov, từ tháng 9 năm 1936 tới tháng 8 năm 1938, vì thế nó có tên Yezhovshchina. Các chiến dịch được tiến hành theo chỉ thị, và thường là những mệnh lệnh trực tiếp, của Bộ chính trị dưới sự lãnh đạo của Stalin.

Cuộc Đại thanh trừng đã gây ra nhiều cuộc tranh cãi về mục đích, phạm vi và cơ cấu của nó. Trong thập niên 1950, các học giả Mỹ đã đề xuất một sự giải thích cấu trúc của cuộc trấn áp: như một hệ thống chuyên chính, chính quyền của Stalin phải duy trì các công dân của mình trong trạng thái sợ hãi và không chắc chắn, và sự thanh trừng bất thần định kỳ sẽ tạo ra cơ cấu này (Brzezinski, 1958). Robert Conquest nhấn mạnh đến tính đa nghi của Stalin, tập trung vào phiên xử trình diễn tại Moskva với "những người Bolshevik cũ", và phân tích việc tiêu diệt có kế hoạch và hệ thống kỹ lưỡng với giới lãnh đạo Đảng Cộng sản như bước đầu tiến tới khủng bố toàn bộ dân số. Hồi giữa thập niên 1980, John Arch Getty, một nhà sử học Mỹ thuộc phái xét lại phản đối ý tưởng của Conquest. Ông ta cho rằng phạm vi quá rộng của những cuộc thanh trừng là kết quả của những căng thẳng to lớn giữa Stalin và các lãnh đạo Đảng Cộng sản tại các vùng, những người, để thoát khỏi nỗi lo rằng bản thân mình bị nghi ngờ, phải tìm ra thật nhiều kẻ "giơ đầu chịu báng" để thực hiện trấn áp. Theo cách này, họ thể hiện sự cảnh giác và không khoan nhượng với những kẻ thù của nhân dân, từ đó tạo được niềm tin với Stalin. Vì thế, cuộc Đại thanh trừng đã phát triển thành một "chuyến bay rơi vào tình trạng hỗn loạn" (Getty, 1985).

Các nhà sử học ở cả hai trường phái tập trung vào sự thanh trừng với giới chính trị, trí thức, kinh tế hay quân đội, và cuộc đấu tranh giữa các nhóm ở trung ương và địa phương của đảng. Chủ yếu bởi sự thiếu hụt thông tin về chủ đề, không phái nào nghiên cứu cơ cấu, tổ chức, việc thực hiện những cuộc bắt giữ và giết hại hàng loạt, hay tình trạng xã hội học của các nạn nhân, những người chiếm một phần lớn so với giới tinh hoa đảng hay trí thức.

Các giả thuyết trước đây đã bị phản bác nhiều bởi những thông tin mới từ khi thư khố Liên Xô được mở cửa sau khi Liên bang Xô viết chấm dứt tồn tại năm 1991, cho phép nhiều cuộc nghiên cứu sâu hơn với những tài liệu mới. Các học giả đã đi tới quan điểm rằng cuộc Đại thanh trừng là một thời điểm quyết định – hay đúng hơn là một sự phát triển đỉnh điểm – của một chiến dịch tác động xã hội bắt đầu từ đầu những năm 1930 (Hagenloh, 2000; Shearer, 2003; Werth, 2003). Họ cho rằng khoảng 1% dân số thành niên của Liên bang Xô viết là nạn nhân của sự kiện này, và nhiều trẻ em cũng bị ảnh hưởng lây từ nó.[12]

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Vụ án Moskva

Khi quá trình này được thực hiện, Stalin đã củng cố quyền lực của mình ở gần mức tuyệt đối vào năm 1934 với việc Bí thư Thành ủy Leningrad Sergei Mironovich Kirov bị ám sát như một hoàn cảnh để tung ra cuộc thanh trừng vĩ đại chống lại những kẻ bị cho là đối thủ chính trị và tư tưởng của ông ta, nổi tiếng nhất là những cán bộ cao tuổi và những thành viên từ chức vụ thấp đến cao trong Đảng Bolshevik. Lev Davidovich Trotsky đã bị khai trừ khỏi đảng năm 1927, bị đưa tới Kazakhstan năm 1928 và sau đó bị trục xuất hoàn toàn khỏi Liên Xô năm 1929. Stalin đã sử dụng các vụ thanh trừng để hủy hoại về mặt tinh thần và thể chất những đối thủ chính thức khác của ông ta (và cựu đồng minh) buộc tội Grigory Yevseevich ZinovievLev Borisovich Kamenev đứng đằng sau vụ sát hại Kirov và có kế hoạch lật đổ chế độ Stalin. Cuối cùng, những người bị cho là liên quan đến việc này và các âm mưu khác với số lượng hàng chục nghìn người gồm nhiều cựu Bolshevik và thành viên cao cấp của đảng bị buộc tội âm mưu và phá hoại để giải thích cho những vụ tai nạn công nghiệp, sự thâm hụt sản xuất và các tai nạn khác của nền kinh tế. Các biện pháp để chống lại những người đối lập và bị nghi ngờ gồm việc giam giữ trong các trại lao động (Gulag) tới xử bắn (con trai Trotsky, Lev Sedov và giống như Sergei Kirov - bản thân Trotsky khi lưu vong nước ngoài cũng chết dưới bàn tay những điệp viên của Stalin năm 1940). Thời kỳ từ 1936 đến 1937 thường được gọi là "Nỗi khiếp sợ vĩ đại", với hàng nghìn người (thậm chí chỉ đơn giản bị nghi ngờ chống đối chế độ Stalin) bị xử bắn hoặc bị bỏ tù. Stalin nổi tiếng với việc đã đích thân ký 357 danh sách, trong đó có tên 40.000 người mà tòa án đã kết án tử hình.[13].

Trong thời kỳ đó, việc thực hiện các cuộc bắt giữ hàng loạt, tra tấn và phạt tù hay tử hình, đối với bất kỳ kẻ tình nghi nào là chống đối chính quyền Stalin của cảnh sát mật trở thành chuyện thường tình. Theo ước tính của NKVD, 681.692 người đã bị kết án tử hình chỉ riêng trong khoảng 1937-1938 (mặc dù nhiều nhà sử học nghĩ rằng con số này vẫn còn dưới mức thực tế), và hàng triệu người đã bị chuyển tới các trại lao động Gulag.

Nhiều tòa án trình diễn đã được tổ chức ở Moskva để phục vụ như ví dụ cho những phiên tòa mà tòa án địa phương sẽ tiến hành ở những nơi khác trong đất nước. Có bốn vụ xử quan trọng từ 1936 đến 1938, Phiên tòa Mười sáu tên là vụ đầu tiên (tháng 12 năm 1936); sau đó là Phiên tòa Mười bảy tên (tháng 1 năm 1937); rồi Phiên tòa các vị tướng Hồng Quân, gồm cả nguyên soái Mikhail Nikolayevich Tukhachevsky (tháng 6 năm 1937); và cuối cùng là Phiên tòa Hai mốt tên, gồm cả Nikolai Ivanovich Bukharin (tháng 3 năm 1938).

Nguyên nhân của vụ án[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 2 tháng 6, trong một cuộc họp của 116 tướng lĩnh cao cấp của Hồng quân, Stalin lên tiếng về vụ bắt giữ Mikhail Nikolayevich Tukhachevsky là "không nghi ngờ gì nữa, một âm mưu quân sự - chính trị do bè lũ phát - xít Đức kích động và tài trợ chống lại Nhà nước Liên Xô đã xảy ra",[14] sau đó Tukhachevsky bị kết án tử hình cùng với 7 sỹ quan khác của Hồng quân trong phiên xử kín được biết dưới tên "Vụ án bè lũ phản cách mạng Trotskyist trong Hồng quân".

Trong thời gian Chiến tranh lạnh, một số nhà sử học đặt nghi vấn rằng các điệp viên Đức, dưới sự chỉ đạo của Heinrich HimmlerReinhard Heydrich đã phát tán các tài liệu giả về mối quan hệ giữa M. N. Tukhachevsky với Bộ Tổng tham mưu Quân đội Đức Quốc xã để gieo rắc nghi ngờ ở Stalin, qua đó làm Hồng quân suy yếu[15]. Theo giả thiết này, các tài liệu giả được chuyển cho tổng thống Tiệp Khắc Edvard Beneš, ông này tin tưởng vào giá trị của chúng và đã trao nó cho Stalin[15].

Tuy nhiên, các tài liệu lưu trữ được công bố sau khi Liên Xô sụp đổ cho thấy rằng chính NKVD (НКВД СССР) đã đứng đằng sau kế hoạch này[15] khi thông qua một điệp viên của mình chuyển thông tin giả cho Reinhard Heydrich, còn Reinhard Heydrich thì chớp cơ hội bịa ra những tài liệu đáng tin cậy hơn và chuyển trở lại cho các nguồn trung gian[15]. Cũng theo nguồn tài liệu lưu trữ này được phân tích bởi sử gia Mỹ J. Arch Getty, thì Tukhachevsky được Stalin nhận định là không thuộc nhóm "Đảng trước, Quân đội sau" như Voroshilov và Budenny,[16] trong khi chính sách của Stalin trong nửa sau năm 1937, là "tiêu diệt bất kỳ ai nghi ngờ có biểu hiện hoặc có tiềm năng là không trung thành với nhóm Stalin".[17] Thái độ này của Stalin cũng được sử gia Otto Preston Chaney xác nhận khi cho rằng "một số nhân chứng trong cuộc khẳng định rằng kế hoạch buộc tội Tukhachevsky do NKVD chuẩn bị và thực hiện không thể không được Stalin thông qua".[18].

Vai trò của Stalin[sửa | sửa mã nguồn]

Một danh sách từ cuộc đại thanh trừng được ký bởi Molotov, Stalin, Voroshilov, Kaganovich, vàZhdanov

Các sử gia mà có quyền xem các tài liệu các văn khố Nga đã chứng nhận là Stalin đã tham dự chặt chẽ vào cuộc khủng bố. Sử gia Nga Oleg V. Khlevniuk nhận định “…những lý thuyết là cuộc khủng bố xảy ra bất thình lình, do mất sự kiểm soát của trung ương về việc đàn áp tập thể, và về vai trò các lãnh tụ địa phương về việc gây ra cuộc khủng bố là thiếu những bằng chứng lịch sử.”[19] Chính cá nhân Stalin đã điều hành Yezhov tra khảo những người đã không nhận tội. Thí dụ, ông ta đã nói với Yezhov "Không phải bây giờ là lúc để ép ông ta và buộc hắn báo cáo về những việc làm bẩn thỉu của hắn hay sao? Hắn đang ở đâu, nhà tù hay khách sạn? Trong một trường hợp khác, khi xem lại một trong các danh sách củaYezhov, ông ta đã thêm tên của M. I. Baranov vào, "đánh, đánh!"[20]

Bên cạnh việc cho phép tra tấn, Stalin cũng đã ký 357 danh sách vào năm 1937 và 1938 cho phép xử tử 40.000 người, và vào khoảng 90% số người này đã được xác nhận là đã bị bắn.[13] Trong khi xem lại một trong những danh sách này, Stalin đã lẩm bẩm một mình: " Trong 10 hay 20 năm nữa, ai còn nhớ tới những người này? Không ai cả. Ai còn nhớ dến những tên mà Ivan Hung đế đã loại trừ? Không ai cả."[21]

Số người bị xử bắn[sửa | sửa mã nguồn]

Theo các tài liệu Liên Xô được giải mật, trong khoảng thời gian từ năm 1937 tới năm 1938, tổ chức NKVD bắt giữ 1.548.367 người, trong đó 681.692 bị xử bắn, trung bình 1.000 vụ xử bắn một ngày.[22] Sử gia Michael Ellman cho rằng ước đoán chính xác nhất về số người chết do cuộc thanh trừng của Stalin trong khoảng hai năm đó là chừng 950.000 tới 1,2 triệu người, bao gồm cả những người chết trong trại giam và những người chết ít lâu sau khi được thả từ các trại giam Gulag. Ông cũng cho rằng đó là ước tính mà các sử gia và giáo viên sử học Nga nên sử dụng.[23] Theo "Tổ chức Tưởng niệm"

  • Trong các cuộc điều tra do Bộ An Ninh NKVD (GUGB NKVD) có:
    • Ít nhất 1.710.000 người bị bắt
    • Ít nhất 1.440.000 người bị kết án
    • Ít nhất 724.000 bị kết án tử hình, trong số đó:
      • Ít nhất 436.000 người bị kết án tử hình bởi lực lượng troika thuộc NKVD, như một phần chiến dịch Kulak
      • Ít nhất 247.000 người bị kết án tử hình bởi lực lượng Dvoikas thuộc NKVD và Lực lượng đặc nhiệm Troykas như một phần của chiến dịch sắc tộc
      • Ít nhất 41.000 người bị kết án tử hình bởi Tòa án binh
  • Trong số các vụ xử tháng 10 năm 1936 tới tháng 11 năm 1938:
    • Ít nhất 400.000 người bị kết án khổ sai bởi lực lượng cảnh sát Troikas như những Thành phần tệ nạn xã hội (социально-вредный элемент, СВЭ)
    • Ít nhất 200.000 người bị đi đày hoặc bị trục xuất theo Thủ tục hành chính

Ngoài ra, ít nhất 2 triệu người bị kết án bởi các tòa án do phạm các tội dân sự như trộm cắp, cướp giật, lừa đảo... trong số đó khoảng 800 ngàn người bị kết án vào các trại Gulag.

Theo chủ tịch hội đồng quốc gia Áo Ts. Heinz Fischer, qua nhiều năm nghiên cứu tại văn khố Nga, đây là một cuộc trấn áp rộng khắp. Trong số 7 người trong bộ chính trị của Lenin, tất nhiên ngoài Stalin, không ai thoát khỏi cuộc hành quyết "Tschistka". Trong số 19 thành viên của bộ chính trị 1934, năm 1938 chỉ có 7 người còn lại, từ 139 thành viên ủy ban trung ương 1934, chỉ có 41 người sau năm 1941 vẫn chưa bị chết hoặc bị mất chức. Tương tự như vậy người ta có thể khẳng định con số đại biểu đảng và cán bộ cấp địa phương.[24] Trong lực lượng quân đội Liên Xô, 3/5 Nguyên soái[Gc 1], 14/16 Tư lệnh Tập đoàn quân, 60/87 Quân đoàn trưởng, 136/199 Sư đoàn trưởng, tổng cộng 40.000 sĩ quan Hồng quân bị kết án "kẻ thù của nhân dân" trong cuộc thanh trừng[25].

Theo Jörg Baberowski, giáo sư về Đông Âu tại đại học Humboldt ở Berlin, cao điểm của cuộc khủng bố là từ tháng 7 năm 1937 cho tới giữa tháng 11 năm 1938. Trong những tháng này, đã có 1,5  triệu người bị bắt, trong số đó phân nửa bị xử tử, những người khác (ngoại trừ một số ngoại lệ nhỏ được thả ra) bị cầm tù hay đưa vào trại lao động Gulag[6]

Một số chuyên gia cho rằng các bằng chứng từ tư liệu của Liên Xô đã được làm giảm nhẹ đi, không hoàn chỉnh, hoặc là không đáng tin.[22][26][27][28] Ví dụ, Robert Conquest cho rằng số vụ hành quyết trong những năm xảy ra cuộc Đại thanh trừng có lẽ không phải là 681.692 người, mà phải nhiều gấp hai lần rưỡi. Ông cho rằng KGB che đậy bớt dấu vết bằng cách giả mạo ngày tháng và nguyên nhân cái chết của những nạn nhân được minh oan sau đó.[29]

Mục đích của trấn áp[sửa | sửa mã nguồn]

Báo Dépêtre d'Indochine bình luận mục đích của Stalin trong sự kiện này là nhằm loại bỏ những phần tử hiếu chiến trong quân đội:

Trên tờ Sông Hương ngày 3 Tháng Bảy 1937:

Tùy theo nhãn quan chính trị mà việc đánh giá cuộc thanh trừng Stalin là rất khác nhau. Ngày nay, sách giáo khoa lịch sử của Nga nhìn nhận cuộc trấn áp của Stalin một cách khách quan hơn. Trong thời kỳ này, ở Liên Xô luôn tồn tại chủ nghĩa dân tộc cực đoan đe dọa gây ra thảm họa mới cho đất nước. Trong khoảng thời gian 1944-1954, đã có tới 40.000 dân thường chết do lực lượng theo chủ nghĩa dân tộc gây ra. Stalin đã cứng rắn và khôn khéo lãnh đạo đất nước dập tắt phong trào này, góp phần củng cố, phát triển Liên bang Xô-Viết. Sách giáo khoa mới đã đánh giá việc trấn áp của Stalin là phù hợp với tình hình lúc bấy giờ. Đối với vấn đề thanh trừng nội bộ cũng được sách bình luận theo chiều hướng tích cực: Trấn áp không phải để "lạm sát người vô tội" mà bản ý của Stalin là loại bỏ những cán bộ kém năng lực, suy thoái đạo đức, tham nhũng trong nội bộ chính quyền. Thực tế này được xem là khát vọng của Stalin muốn bảo đảm cho bộ máy quản lý phát huy hiệu quả lớn nhất.[32]

Một số nạn nhân tiêu biểu[sửa | sửa mã nguồn]

Bộ Chính trị[sửa | sửa mã nguồn]

  • Leon Trotsky Ùy viên Bộ Chính trị, lưu vong tại Mexico, bị mật vụ NKVD ám sát năm 1940.
  • Alexei Rykov Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch Hội đồng Nhân dân Xô Viết, xử tử năm 1938.
  • Lev Kamenev Ủy viên Bộ Chính trị, Phó chủ tịch Hội đồng Nhân dân Xô Viết, xử tử năm 1936.
  • Grigory Zinoviev Ủy viên Bộ Chính trị, xử tử năm 1936.
  • Nikolai Bukharin Ủy viên Bộ Chính trị, Nhà lý luận Bolshevik, xử tử năm 1938.

Quan chức và sỹ quan[sửa | sửa mã nguồn]

  • Sergey Kirov Bí thư Đảng Cộng sản Azerbaijan, Bí thư Thành phố Leningrad, được cho là bị NKVD ám sát năm 1934.
  • Aghasi Khanjian Bí thư Đảng Cộng sản Armenia, xử tử năm 1936.
  • Genrikh Yagoda Giám đốc Mật vụ NKVD, xử tử năm 1938.
  • Mikhail Tukhachevsky Tổng Tham mưu trưởng Hồng quân, Nguyên soái Liên Xô, xử tử năm 1937.
  • Vasily Blyukher Nguyên soái Liên Xô, xử tử năm 1938.
  • Alexander Yegorov Nguyên soái Liên Xô, xử tử năm 1939.

Cựu thành viên Bolshevik[sửa | sửa mã nguồn]

Nhân vật Cộng sản quốc tế[sửa | sửa mã nguồn]

  • Béla Kun Lãnh đạo Cộng hòa Xô Viết Hungary (1919), xử tử năm 1938.
  • Karl Radek Nhà cách mạng Mác-xít hoạt động tại Ba Lan và Đức, xử tử năm 1939.
  • Christian Rakovsky Nhà cách mạng gốc Bulgari, xử tử năm 1941.
  • Virendranath Chattopadhyaya Nhà cách mạng người Ấn Độ, thành viên Đảng Cộng sản Đức, xử tử năm 1937.

Các nhà trí thức[sửa | sửa mã nguồn]

  • Alexander Samoylovich Nhà nhân chủng học, thành viên Viện Hàn lâm Khoa học Liên Xô, xử tử năm 1938.
  • Nikolai Vavilov Nhà thực vật học, kết án tử năm 1941, chết đói trong tù năm 1943.
  • Isaac Babel Nhà văn gốc Do Thái, xử tử năm 1940.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Ghi chú[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Cả YegorovBlyukher là 2 Nguyên soái tham gia xét xử Tukhachevsky bị bắt và xử bắn. Riêng Budyonny thì vẫn giữ chức, nhưng không bảo vệ được vợ mình.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Figes 2007, tr. 227–315
  2. ^ Über das Schicksal dieser fünf Personen berichtet Chlewnjuk: Das Politbüro. S. 305–323.
  3. ^ Der große Terror, Gregor Delvaux de Fenffe, planet-wissen, 27.08.2013
  4. ^ Oleg V. Khlevniuk, The History of the Gulag, New Haven 2004, S. 140, S. 166.
  5. ^ Revolution, Stalinismus und Genozid, bpb, 22.10.2007
  6. ^ a ă Der große Terror, Gregor Delvaux de Fenffe, planet-wissen, 27.08.2013
  7. ^ Conquest 2008, tr. 250, 257–8
  8. ^ Conquest 2008, tr. 121 which cites his secret speech
  9. ^ Conquest 2008, tr. 286
  10. ^ Merridale 2002, tr. 200
  11. ^ Colton 1998, tr. 286
  12. ^ Nicolas Werth, "Case Study:The NKVD Mass Secret Operation n° 00447 (August 1937 – November 1938)", Mass Violence
  13. ^ a ă Michael Ellman, Stalin and the Soviet Famine of 1932–33 Revisited Europe-Asia Studies, Routledge. Vol. 59, No. 4, June 2007, 663–693. PDF file
  14. ^ Getty & Naumov 2002, trg. 444.
  15. ^ a ă â b Lukes 1996, trg. 95.
  16. ^ Getty & Naumov 2002, trg. 445.
  17. ^ Getty & Naumov 2002, trg. 447.
  18. ^ Chaney 1996, trg.38.
  19. ^ Oleg V. Khlevniuk. Master of the House: Stalin and His Inner Circle. Yale University Press, 2008. ISBN 0-300-11066-9 p. xix
  20. ^ Marc Jansen, Nikita Vasilʹevich Petrov. Stalin's Loyal Executioner: People's Commissar Nikolai Ezhov, 1895-1940. Hoover Institution Press, 2002. ISBN 0-8179-2902-9 p. 111
  21. ^ Quoted in Dmitri Volkogonov, Stalin: Triumph and Tragedy (New York, 1991), pg 210.
  22. ^ a ă Communism: A History (Modern Library Chronicles) by Richard Pipes, pg 67 Lỗi chú thích: Thẻ <ref> không hợp lệ: tên “Pipes” được định rõ nhiều lần, mỗi lần có nội dung khác
  23. ^ Soviet Repression Statistics: Some Comments by Michael Ellman, 2002
  24. ^ Fischer präsentiert Forschungen über Österreicher in der UdSSR, Quốc hội Áo, Tài liệu quốc hội Nr. 132 ngày 03.03.1997
  25. ^ Chaney 1996, trg.40.
  26. ^ Stalinism in Post-Communist Perspective: New Evidence on Killings, Forced Labour and Economic Growth in the 1930s by Steven Rosefielde, 1996
  27. ^ Comment on Wheatcroft by Robert Conquest, 1999
  28. ^ Gulag: A History by Anne Applebaum, pg 584
  29. ^ Life and Terror in Stalin's Russia: 1934-1941. - book reviews by Robert Conquest, 1996, National Review
  30. ^ Tràng An báo ngày 27 Tháng Một 1942
  31. ^ Sông Hương ngày 3 Tháng Bảy 1937
  32. ^ Niên giám thông tin Khoa học xã hội nước ngoài, số 1, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội, 2010

Tài liệu tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]