Holodomor

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Holodomor
Голодомор
Người đi bộ đi ngang qua xác của những người nông dân chết đói trên đường tại Kharkiv, 1933.
Người đi bộ đi ngang qua xác của những người nông dân chết đói trên đường tại Kharkiv, 1933.
Quốc gia  Liên Xô
Địa điểm  Ukraina
Thời điểm 1932–1933
Tổng số người chết 2,4 đến 3,5 triệu người
Quan sát 13 nước cho đó là nạn đói cố ý
Cứu trợ Chính phủ đưa lương thực và nhân lực về nông thôn để hỗ trợ
Cứu trợ từ ngoại quốc bị từ chối. [1]

Holodomor (tiếng ukraina Голодомор, nghĩa đen: cái chết tập thể vì nạn đói), nói về nạn đói ở Liên Xô vào thời kỳ 1932–1933 xảy ra ở vùng mà bây giờ thuộc Ukraina. Theo con số của viện Khoa học Ukraina, công bố vào tháng 11 năm 2008 thì số người chết tại địa phận Ukraina khoảng chừng 2,4 - 3,5 triệu người.[2]

Hiện nay, ngày tưởng niệm Holodomor tại Ukraina được cử hành vào ngày thứ Bảy thứ tư trong tháng 11.[3][4]

Từ ngữ[sửa | sửa mã nguồn]

Từ Holodomor là do 2 chữ „Holod" và „Mor" của tiếng Ukraina. „Holod" („голод") có nghĩa „Đói", „Mor" là một tiếng cổ có nghĩa „Chết", „Bệnh dịch", „Chết tập thể"; theo nghĩa hiện tại (cả tiếng Ukraina lẫn tiếng Nga) „Sự tiêu diệt". Holodomor nghĩa đen có nghĩa là „Cái chết vì đói".

Bối cảnh chính trị[sửa | sửa mã nguồn]

Stalin theo đuổi các mục tiêu chính trị để ngăn chặn các phong trào đòi độc lập của người Ukraina và để củng cố chính quyền Liên Xô tại Ukraine. Trước đó, Liên Xô đã hành động mạnh với giới trí thức và các giáo sĩ người Ukraine. Giữa năm 1926 và năm 1932, 10.000 giáo sĩ bị thủ tiêu bởi những người Bolshevik. Vào năm 1931, hơn 50.000 trí thức bị trục xuất đến Siberia, trong số đó có 114 nhà thơ, nhà văn và nghệ sĩ quan trọng nhất trong nước. Sau đó, Liên Xô bắt đầu đối phó với những người nông dân, những người vẫn còn ngoan cố chống lại tập thể hóa và công nghiệp hóa.[5] Trong tinh thần "Nga hóa", văn hóa riêng của Ukraine nên bị loại bỏ để chỉ còn một nền văn hóa Xô Viết.[6][5]

Những đoàn xe chuyên chở thuế nông phẩm thu được về cho nhà nước
Nông thôn năm 1933
Một người chết đói năm 1932 tại Kharkov

Năm 1932. Stanislaw Franzewitsch Redens, một chính khách thân cận của Josef Stalin, từ tháng 7 năm 1931 đứng đầu an ninh mật tại Ukraina, nhận được lệnh, cùng với bí thư thứ nhất của đảng Cộng sản Ukraina Stanislaw Wikentjewitsch Kossior, lập ra một kế hoạch coi như là một phần của chương trình tập thể hóa, tiêu diệt những thành phần địa chủ (Kulak) và "phản cách mạng". 2 ngàn Kolchos (Hợp tác xã) sau đó được thành lập trên những vùng đất được quốc hữu hóa. Vào năm 1933, khi số lượng ngũ cốc không đạt được như theo kế hoạch, Redens bị mất chức.[7]

Khởi đầu[sửa | sửa mã nguồn]

Holodomor bắt đầu với một đợt hạn hán nghiêm trọng vào mùa đông và mùa xuân năm 1931/1932 và kéo dài cho đến tháng 7 năm 1933. Mặc dù dân cư nông thôn bị thiếu ăn, các cán bộ chính phủ tăng tỷ lệ thuế đến 44 phần trăm. Mặc dù thế, trong khi năm 1931 từ 7,2 triệu tấn ngũ cốc đã được trưng dụng ở Ukraine, trong năm 1932 đã giảm ở mức 4,3 triệu tấn.[8] Các hạt lương thực đã được chủ yếu bán ra để có được ngoại tệ trên thị trường thế giới. Các khoản thu được cần thiết để công nghiệp hóa nền kinh tế của Liên Xô.

Nạn đói đã được dự đoán từ năm 1930 bởi các viện nghiên cứu và cố vấn cho chính phủ Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô viết Ukraina, nhưng ít hoặc không có hành động phòng ngừa nào được thực hiện.[9]

Trong cuộc tập thể hóa nông nghiệp đã xảy ra nạn đói nhiều lần tại khu vực của Liên Xô, kể từ khi tiếp quản bởi những người Bolshevik từ năm 1917 sau Cách mạng tháng 10. Không giống như ở các vùng khác bị ảnh hưởng bởi hạn hán, chính quyền đã đóng cửa biên giới Ukraine để ngăn cấm xuất cảnh ngay từ đầu của nạn đói, làm cho người dân không còn cách ra khỏi khu vực bị ảnh hưởng bởi hạn hán. Các lữ đoàn Bolshevik truy lùng thực phẩm cất giấu của nông dân để bắt họ nộp thuế. Nhiều nông dân bị mất tất cả tài sản của họ và kết thúc như người ăn xin ở các thành phố. Tại một số nơi, trong dân chúng đã có nạn ăn thịt người.[10][6][11]

Nạn đói tại Ukraina đã được các ký giả Gareth Jones và Malcolm Muggeridge thông báo cho quốc tế biết vào mùa xuân 1933. Những ký giả thân thiện với chế độ Liên Xô như Walter Duranty của tờ báo The New York Times cho đó là không có gì nghiêm trọng cả. Trong lúc đó, trên báo chí, người ta hầu như chỉ chú trọng tới việc Hitler trở thành nhà độc tài Đức.

Holodomor

Kết quả nghiên cứu gây tranh cãi[sửa | sửa mã nguồn]

1933 tại Kharkiv: Bảng ngăn cấm chôn người tại chỗ này

Về nguyên nhân của Holodomor có nhiều quan điểm trái hẳn nhau. Các sử gia Ukraina cho rằng đó là một việc bỏ đói đến chết có hệ thống do chính quyền Stalin tổ chức. Sử gia người Hungary Miklós Kun cho rằng: „ Đó là một việc giết hàng triệu người cố ý và có hệ thống. (...) Trong khi tại các làng mạc Ukraina người dân tuyệt vọng, điên loạn vì đói, phải ăn cả cành xanh của cây cối, thì thực phẩm của Ukraina được chở tới các nước Cộng hòa khác theo lệnh của Stalin trong khuôn khổ bán thực phẩm với giá bao cấp..."
Ngược lại, các sử gia người Nga thì cho rằng nạn đói Holodomor là kết quả của việc mất mùa do thiên tai (cụ thể là trận hạn hán kỷ lục năm 1932), cộng thêm với việc tập thể hóa nông trường và sự phản kháng của nông dân Ukraina làm cho tình trạng càng thê thảm hơn. Năm 1932, Ukraine có lượng mưa lớn bất thường (gấp 2-3 lần mức bình thường), dẫn đến cây trồng bị nhiễm nấm ký sinh nghiêm trọng, đặc biệt là bệnh gỉ sắt. Dịch bệnh cây trồng đã làm giảm thu hoạch tại Ucraina trong năm 1932 hàng triệu tấn lương thực[12]

Gunnar Heinsohn, nhà xã hội học Đức, cho rằng tại Ukraina, Kazakhstan và một vài vùng tại Dãy núi Kavkaz, những nơi mà có chống đối mạnh về việc tịch thu tài sản trong quá trình tập thể hóa, thì chính phủ Liên Xô đã dùng biện pháp tịch thu lương thực để đập tan sự phản đối. Và ngay cả các phong trào đấu tranh đòi ly khai độc lập của các dân tộc thiểu số cũng bị dùng biện pháp tương tự để đối phó. Cho nên đảng Cộng sản Liên Xô đã cấm không cho cung cấp cho những người bị nạn đói, cũng như không cho phép họ được ra khỏi khu vực thiếu ăn này. Lối diễn tả này của Gunnar Heinsohn thường vì các lý do chính trị bị bôi nhọ là vì hiềm thù chống cộng.[13]

Nhiều người khác chỉ trích từ Holodomor, vì nó được dùng bởi một số người Ukraina, lấy hậu quả thảm thương của việc tập thể hóa không chỉ ở nước Ukraina với những mục đích chính trị dân tộc quá khích. Ngoài ra, những số liệu chỉ ra là nạn đói thời đó không chỉ có người Ukraina phải gánh chịu, mà còn xảy ra tại các vùng đất khác ở Liên Xô, nên không thể coi đây là hành vi cố ý nhắm riêng vào dân tộc Ukraina.[14]

Những vùng khác mà cũng bị ảnh hưởng trong đó có Nam Nga, các vùng giữa và dưới khu vực sông Volga, Nam Ural, Bắc Kasachstan và Tây Sibiria. Một số sử gia, như Robert Conquest, cho là tổng số người bị ảnh hưởng lên tới 14,5 triệu người, do chết đói hoặc bị ảnh hưởng từ tập thể hóa nông nghiệp (Collective farming) hoặc bị tịch biên tài sản (Dekulakization).[15]

Những nghiên cứu sau này của phương Tây, nhất là sau khi văn thư lưu trữ được tự do tham khảo vào thập niên 1990, cho thấy Holodomor là kết quả tổng hợp của một số hậu quả dây chuyền: một nền chính trị khắc nghiệt trong việc tập thể hóa, việc tập trung quyền lực và sự chống đối, cũng như thêm vào đó vì thiên tai đã đưa đến việc mất mùa.[16]

Trong 1 nghiên cứu công phu của Robert W. Davies and Stephen G. Wheatcroft vào năm 2004, dựa trên các tài liệu lưu trữ của Liên Xô, các ông kết luận rằng: quan điểm cho rằng "nạn đói được cố ý gây ra để chống lại Ukraine và các nhóm quốc gia" hay được diễn giải ở phương Tây (dựa trên cuốn sách của sử gia có tiếng là thiên vị chống Cộng là Robert Conquest) là hoàn toàn sai. Nạn đói diễn ra không chỉ giới hạn ở Ukraine, nó về cơ bản không phải do con người tạo ra, và nó cũng khác xa ý định của Stalin và những lãnh đạo của Liên Xô là muốn xây dựng một nền nông nghiệp hiện đại trên cơ sở tập trung đất đai manh mún vào hợp tác xã[17]. Năm 1933, chính phủ Liên Xô thực hiện cứu trợ rộng rãi mặc dù không đủ, hạt giống và thức ăn gia súc, và gửi đi hơn 20.000 công nhân công nghiệp, tất cả các thành viên Đảng Cộng sản, huy động họ tham gia việc đồng áng. Bất chấp những điều kiện tự nhiên khủng khiếp, vụ thu hoạch rất thành công vào năm 1933 đã chấm dứt nạn đói ở hầu hết các khu vực[12].

Tranh cãi chính trị[sửa | sửa mã nguồn]

Bản đồ của những nước, công nhận Holodomor là mắc tội diệt chủng người Ukraina

Raphael Lemkin, người mà sau Đệ Nhị thế chiến đã thành công trong việc đòi hỏi thành lập Quy ước Liên Hiệp Ước ngăn ngừa và trừng phạt tội ác diệt chủng (Konvention über die Verhütung und Bestrafung des Völkermordes), ông này cho rằng nạn đói ở Ukraina là thí dụ cổ điển của một vụ diệt chủng.[18]

Chính phủ của Ukraina dưới thời của tổng thống Viktor Andriyovych Yushchenko, đã cố gắng vận động để được quốc tế công nhận Holodomor là một tội ác diệt chủng người Ukraina[19]. Năm 2008, chính phủ Ukraina dưới thời tổng thống Viktor Andriyovych Yushchenko bỏ công sức vận động cho việc Holodomor được công nhận là một "tội ác diệt chủng dân tộc Ukraina". Sau cùng, ngoài Ukraina, có 13 nước gồm Argentina,[20] Úc,[21] Azerbaijan, Bỉ, Brazil, Ecuador, Estonia, Gruzia,[22] Ý, Canada,[23] Columbia, Latvia, Litva,[24] Moldova, Paraguay, Peru, Ba Lan,[25] Tây Ban Nha, Cộng hòa Séc,[26] Hungary,[27] Hoa Kỳ[28] và tòa thánh Vatican[29] công nhận Holodomor chính thức là tội diệt chủng. Tuy nhiên, đến năm 2010, chính phủ mới của Ucraina dưới thời tổng thống Viktor Fedorovych Yanukovych, đã bãi bỏ cuộc vận động và không công nhận việc gọi Holodomor là "tội diệt chủng" nữa.

Những ngọn nến tưởng niệm Holodomor tại Kyiv

Nga không chấp nhận sử dụng từ diêt chủng cho nạn đói Holodomor. Theo ngoại trưởng của Nga thì nạn chết đói tại Liên Xô vào những năm 1932-1933 không chỉ có những người trong dân tộc Ukraina trở thành nạn nhân, mà cả người Nga và các dân tộc khác. Tại Nga, đa số mọi người cho rằng Holodomor là một trò tuyên truyền được một số các nhóm chính trị ở Ukraina lợi dụng cho những mưu đồ của họ.[30]

Vào ngày 23 tháng 10 năm 2008, Hội đồng Nghị viện của Ủy hội châu Âu trong một nghị quyết đã gọi Holodomor là Tội ác chống lại loài người.[31] Tuy nhiên, Hội đồng Nghị viện của Ủy hội châu Âu (PACE) vào tháng 4 năm 2010 đã từ chối không dùng chữ "tội diệt chủng" mà phe đối lập ở Ukraina yêu cầu, trong nghị quyết về nạn đói lớn trong thập niên 1930 tại Liên Xô.[32]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Thư mục[sửa | sửa mã nguồn]

  • Levon Chorbajian, George Shirinian (Hrsg.): Studies in Comparative Genocide. St. Martin's Press, New York NY 1999, ISBN 0-312-21933-4.
  • Robert Conquest: The Harvest of Sorrow. Soviet Collectivization and the Terror-Famine. The University of Alberta Press in Association with the Canadian Institute of Ukrainian Studies, Edmonton 1987, ISBN 0-88864-128-1.[33]
  • Robert W. Davies, Stephen G. Wheatcroft: The Years of Hunger. Soviet Agriculture 1931–1933 (= The Industrialisation of Soviet Russia. Bd. 5). Palgrave Macmillan, Basingstoke u. a. 2004, ISBN 0-333-31107-8.
  • Robert W. Davies, Stephen G. Wheatcroft: Stalin and the Soviet Famine of 1932–33 – A Reply to Ellman. In: Europe-Asia Studies. Bd. 58, Nr. 4, 2006, ISSN 0038-5859, S. 625–633, doi:10.1080/09668130600652217.
  • Gabriele De Rosa, Francesca Lomastro (Hrsg.): La morte della terra. La grande „carestia" in Ucraina nel 1932–33 (= Media et Orientalis Europa. Bd. 2). Atti del Convegno, Vicenza, 16–18 ottobre 2003. Viella, Roma 2004, ISBN 88-8334-135-X.
  • Miron Dolot: Who Killed Them and Why? In Remembrance of Those Killed in the Famine of 1932–1933 in Ukraine. Harvard University – Ukrainian Studies Fund, Cambridge MA 1984, ISBN 0-9609822-1-3.
  • Miron Dolot: Execution by Hunger. The Hidden Holocaust. Norton, New York NY u. a. 1987, ISBN 0-393-30416-7.
  • Miron Dolot: Les affames. L'holocauste masqué, Ukraine 1929–1933. Éditions Ramsay, Paris 1986, ISBN 2-85956-514-0.
  • Barbara Falk: Sowjetische Städte in der Hungersnot 1932/33. Staatliche Ernährungspolitik und städtisches Alltagsleben (= Beiträge zur Geschichte Osteuropas. Bd 38). Böhlau, Köln u. a. 2005, ISBN 3-412-10105-2 (Zugleich: Bochum, Universität, Dissertation, 2003).
  • Ruth Gleinig, Ronny Heidenreich: Erinnerungsorte an den Holodomor 1932/33 in der Ukraine. Herausgegeben von Anna Kaminsky. Leipziger Universitäts-Verlag, Leipzig 2008, ISBN 978-3-86583-261-0.
  • Andrea Graziosi: The Great Soviet Peasant War. Bolsheviks and Peasants, 1917–1933. Distributed by Harvard University Press for the Ukrainian Research Institute – Harvard University, Cambridge MA 1996, ISBN 0-916458-83-0.
  • Wsevolod W. Isajiw (Hrsg.): Famine-Genocide in Ukraine, 1932–1933. Western Archives, Testimonies and New Research. Ukrainian Canadian Research and Documentation Centre, Toronto 2003, ISBN 0-921537-56-5.
  • Victor A. Kravchenko: I Chose Freedom. Charles Scribner's Sons, New York NY 1946.
  • Robert Kuśnierz: Ukraina w latach kolektywizacji i Wielkiego Głodu (1929–1933). Grado, Torń 2005, ISBN 83-89588-35-8.
  • Eugene Lyons: Assignment in Utopia. Harcourt, Brace & Co, New York NY 1937, (Auszug).
  • James E. Mace: Soviet Man-Made Famine in Ukraine. In: Samuel Totten, William S. Parsons, Israel W. Charny (Hrsg.): Century of Genocide. Eyewitness Accounts and Critical Views (= Garland Reference Library of Social Science. Bd. 772). Garland, New York NY u. a. 1997, ISBN 0-8153-2353-0, S. 78–112.
  • James E. Mace: Communism and the Dilemmas of National Liberation. National Communism in Soviet Ukraine, 1918–1933. Distributed by Harvard University Press for the Harvard Ukrainian Research Institute and the Ukrainian Academy of Arts and Sciences in the U.S., Cambridge MA 1983, ISBN 0-916458-09-1.
  • Rudolf A. Mark, Gerhard Simon, Manfred Sapper, Volker Weichsel, Agathe Gebert (Hrsg.): Vernichtung durch Hunger. Der Holodomor in der Ukraine und der UdSSR. Berlin 2004. ISBN 3-8305-0883-2.
  • Stephan Merl: War die Hungersnot von 1932–1933 eine Folge der Zwangskollektivierung der Landwirtschaft oder wurde sie bewußt im Rahmen der Nationalitätenpolitik herbeigeführt? In: Guido Hausmann, Andreas Kappeler (Hrsg.): Ukraine. Gegenwart und Geschichte eines neuen Staates (= Nationen und Nationalitäten in Osteuropa. Bd. 1). Nomos-Verlags-Gesellschaft, Baden-Baden 1993, ISBN 3-7890-2920-3, S. 145–166.
  • D'ann R. Penner: Stalin and the „Ital'ianka" of 1932-1933 in the Don Region. In: Cahiers du Monde Russe. Bd. 39, 1998, ISSN 0008-0160, S. 27–67, Digitalisat).
  • Oksana Procyk, Leonid Heretz, James E. Mace: Famine in the Soviet Ukraine 1932–1933. A Memorial Exhibition. Harvard University Press, Cambridge MA 1986, ISBN 0-674-29426-2.
  • Timothy Snyder: Bloodlands: Europa zwischen Hitler und Stalin, Beck 2011, ISBN 978-3-406-62184-0.
  • Georges Sokoloff (Hrsg.): 1933, L'année noire. Témoignages sur la famine en Ukraine. Albin Michel, Paris 2000, ISBN 2-226-11690-7.
  • Douglas Tottle: Fraud, Famine and Fascism. The Ukrainian Genocide Myth from Hitler to Harvard. Progress Books, Toronto 1987, ISBN 0-919396-51-8
  • Stephen G. Wheatcroft: Towards Explaining the Soviet Famine of 1931–1933. Political and Natural Factors in Perspective. In: Food and Foodways. Bd. 12, H. 2/3, 2004, ISSN 0740-9710, S. 104–136.
  • Dmytro Zlepko (Hrsg.): Der ukrainische Hunger-Holocaust. Stalins verschwiegener Völkermord 1932/33 an 7 Millionen ukrainischen Bauern im Spiegel geheim gehaltener Akten des deutschen Auswärtigen Amtes. Eine Dokumentation. Wild, Sonnenbühl 1988, ISBN 3-925848-03-7.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Davies & Wheatcroft 2010, tr. 479–484.
  2. ^ “Голодомор 1932-1933 годов в Украине унес жизни 3,5 млн человек - НАН Украины” (bằng tiếng russisch). Korrespondent.Net. Truy cập ngày 12 tháng 11 năm 2008.  ; und Donald Bloxham, A. Dirk Moses (Hrsg.): The Oxford Handbook of Genocide Studies. Oxford University Press, Oxford 2010, ISBN 978-0-19-923211-6, S. 396.
  3. ^ “Poll: Almost two-thirds of Ukrainians believe famine of 1932–1933 was organized by Stalinist regime”. Interfax-Ukraine. 20 tháng 11 năm 2013. Truy cập ngày 28 tháng 2 năm 2016. 
  4. ^ Marcel Van Herpen (2013). Putinism: The Slow Rise of a Radical Right Regime in Russia. Palgrave Macmillan UK. tr. 40. ISBN 978-1-137-28282-8. Truy cập ngày 29 tháng 2 năm 2016. 
  5. ^ a ă Subtelny, Orest. Ukraine: A History. tr. 365. 
  6. ^ a ă Raphael Lemkin: ##Soviet Genocide in the Ukraine## Raphael Lemkin Papers, The New York Public Library, 1953.
  7. ^ “Реденс Станислав Францевич” (bằng tiếng russisch). Truy cập 21. Januar 2007.  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |accessdate= (trợ giúp)
  8. ^ Davies & Wheatcroft 2010, tr. 470, 476.
  9. ^ Dawood, M; Mitra A (tháng 12 năm 2012). “Hidden agendas and hidden illness”. Diversity and Equality in Health and Care 9 (4): 297–8. 
  10. ^ Robert W. Davies, Stephen G. Wheatcroft: The Years of Hunger: Soviet Agriculture 1931–1933, Palgrave Macmillan, 2010, ISBN 978-0-230-23855-8.
  11. ^ ##Ukraine’s enduring Holodomor horror, when millions starved in the 1930s## euronews.com, 22. November 2013.
  12. ^ a ă https://eh.net/book_reviews/the-years-of-hunger-soviet-agriculture-1931-1933/
  13. ^ Gunnar Heinsohn: Lexikon der Völkermorde (= rororo. rororo-aktuell 22338). Rowohlt-Taschenbuch-Verlag, Reinbek bei Hamburg 1998, ISBN 3-499-22338-4.
  14. ^ Vgl. Alexander Vatlin: Die unvollendete Vergangenheit: Über den Umgang mit der kommunistischen Geschichte im heutigen Russland. In: Jahrbuch für Historische Kommunismusforschung. 2010, ISSN 0944-629X, S. 279–294.
  15. ^ Die Zeit 48/2008: Stalinismus - Stille Vernichtung, 20. November 2008
  16. ^ Davies u. a.: The Years of Hunger. 2004; Wheatcroft: Towards Explaining the Soviet Famine of 1931–1933. In: Food and Foodways. Vol. 12, H. 2/3, 2004, S. 104–136; Penner: Stalin and the „Ital'ianka" of 1932–1933 in the Don Region. In: Cahiers du Monde Russe. Bd. 39, 1998, S. 27–67.
  17. ^ https://eh.net/book_reviews/the-years-of-hunger-soviet-agriculture-1931-1933/
  18. ^ Zitiert nach Timothy Snyder: Bloodlands. Europa zwischen Hitler und Stalin. 3. Auflage. C. H. Beck, München 2011, ISBN 978-3-406-62184-0, S. 74.
  19. ^ „Vielleicht die größte humanitäre Katastrophe" FAZ, 20 tháng 11 2008
  20. ^ Resolución del Senado de la República Argentina (n.º1278/03)], Cámara de Diputados de la Nación, 26 de junio 2003, Internetlink von 2007 seit 2010 nicht mehr erreichbar. Geprüft am 13. Januar 2014.
  21. ^ http://parlinfoweb.aph.gov.au/piweb/view_document.aspx?id=93255&table=JOURNALS
  22. ^ http://www.parliament.ge/index.php?lang_id=ENG&sec_id=89&info_id=8347&date=ngày 20 tháng 12 năm 2005&new_month=12&new_year=2005
  23. ^ http://www.parl.gc.ca/37/2/parlbus/chambus/senate/jour-e/pdf/072jr_ngày 19 tháng 6 năm 2003.pdf
  24. ^ http://www3.lrs.lt/pls/inter3/dokpaieska.showdoc_e?p_id=266526&p_query=&p_tr2=
  25. ^ PDF bei www.senat.gov.pl
  26. ^ http://korrespondent.net/ukraine/politics/218994-chehiya-priznala-golodomor-v-ukraine
  27. ^ http://www.mkogy.hu/irom37/6288/6288.htm
  28. ^ http://frwebgate.access.gpo.gov/cgi-bin/getdoc.cgi?dbname=109_cong_bills&docid=f:h562rfs.txt.pdf
  29. ^ http://www.vatican.va/holy_father/john_paul_ii/speeches/2001/documents/hf_jp-ii_spe_20010623_ucraina-meeting_en.html
  30. ^ http://rus.newsru.ua/ukraine/20nov2007/golod.html
  31. ^ [1] Protokoll der Resolution der EU bezüglich des Holodomor vom 23. Oktober 2008, truy cập ngày 29. Oktober 2009
  32. ^ Parlamentarische Versammlung des Europarates erkennt Holodomor nicht als Völkermord an, Ukraine-Nachrichten, 28. April 2010
  33. ^ The Harvest of Sorrow, Inhaltsverzeichnis (englisch)

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]