Holodomor

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm

Holodomor


Голодомор
Quốc gia Liên Xô
Địa điểm Ukraina
Thời kỳ1932–1933
Tổng số người chếtKhoảng vài trăm nghìn người đến 12 triệu người
Các quan sát13 nước cho đó là nạn đói cố ý
Cứu trợChính phủ đưa lương thực và nhân lực về nông thôn để hỗ trợ
Cứu trợ từ ngoại quốc bị từ chối. [1]

Holodomor (tiếng Ukraina: Голодомо́р; Голодомо́р в Украї́ні, được bắt nguồn từ морити голодом, chết bởi nạn đói) là một nạn đói nhân tạo trong ở Cộng hòa Xô viết Ukraina từ năm 1932 tới năm 1933 mà đã giết nhiều triệu người Ukraina. Nó cũng được biết tới như Nạn đói-khủng khiếpNạn đói-diệt chủng ở Ukraine và thường ám chỉ tới như Nạn đói Lớn hoặc Nạn đói diệt chủng 1932-1933. Nạn đói này là một phần của Nạn đói ở Liên Xô 1932-33, nạn đói mà đã ảnh hưởng lớn tới những khu vực sản xuất lương thực của đất nước này. Trong thời gian xảy ra Holodomor, hàng triệu cư dân của Ukraina, đa số thuộc dân tộc Ukraina, đã chết vì đói trong một thảm họa thời bình chưa từng thấy trong lịch sử Ukraina. Kể từ năm 2006, Holodomor được Ukraina và 15 quốc gia khác công nhận là một hành vi diệt chủng người Ukraina do chính phủ Liên Xô thực hiện.[2][3]

Những ước lượng ban đầu về số lượng người chết trong nạn đói bởi các học giả và các chính phủ có sự khác nhau rất lớn. Theo những ước lượng cao nhất, trên 12 triệu người Ukraina bị cho là đã chết do hậu quả của nạn đói. Một tuyên bố chung Liên Hợp Quốc được 25 quốc gia (bao gồm cả Liên Bang Nga) ký nhận trong năm 2003 tuyên bố rằng 7-10 triệu người đã chết trong nạn đói này.[4] Một số nghiên cứu khác thu hẹp ước lượng vào khoảng từ 3.3[5] tới 7.5[6] triệu người chết. Theo kết quả của Tòa phúc thẩm Kiev trong 2010, sự mất mát về nhân khẩu do Holodomor đã lên tới 10 triệu, với 3.9 triệu trường hợp tử vong trực tiếp bởi nạn đói, và 6. 1 triệu do suy giảm dân số.[7]

Một vài học giả tin rằng nạn đói được Stalin lên kế hoạch để đàn áp một phong trào đòi độc lập của người Ukraina.[8][9][10] Tuy nhiên phần lãnh thổ phía Tây của Ukraine nơi mà phong trào đòi độc lập mạnh mẽ nhất đã không bị ảnh hưởng bởi nạn đói, khi mà vào thời điểm đó nó là một phần của Ba Lan. Việc sử dụng từ "Holodomor" trong việc ám chỉ nạn đói là nhằm nhấn mạnh khía cạnh nhân tạo của nó, với những hành động như từ chối viện trợ lương thực từ bên ngoài, tịch thu tất cả lương thực thực phẩm của các hộ gia đình, và việc hạn chế các hoạt động thảo luận dân cư đều cho thấy ý đồ tạo nên một vụ diệt chủng, mức độ tổn thất về nhân mạng của Holodomor đã được so sánh với cuộc Đại đồ sát người Do Thái ở Đức[11][12][13][14]. Nguyên nhân của nạn đói vẫn là một đối tượng của tranh luận học thuật, và một vài nhà sử học vẫn tranh cãi về bản chất của nạn đói có phải là hành vi diệt chủng hay không.[15][16]

Từ nguyên[sửa | sửa mã nguồn]

Từ Holodomor là do 2 chữ Голодмор trong tiếng Ukraina, nghĩa là "Cái chết vì đói".[17]

Bối cảnh chính trị[sửa | sửa mã nguồn]

Khởi đầu[sửa | sửa mã nguồn]

Holodomor bắt đầu với một đợt hạn hán nghiêm trọng vào mùa đông và mùa xuân năm 1931/1932 và kéo dài cho đến tháng 7 năm 1933. Mặc dù dân cư nông thôn bị thiếu ăn, các cán bộ chính phủ đã tăng tỷ lệ thuế lên đến 44 phần trăm. Mặc dù thế, trong khi năm 1931 từ 7,2 triệu tấn ngũ cốc đã được trưng dụng ở Ukraine, trong năm 1932 đã giảm ở mức 4,3 triệu tấn.[18] Lương thực chủ yếu được xuất khẩu ra nước ngoài để có được ngoại tệ trên thị trường thế giới. Các khoản thu từ việc xuất khẩu lương thực được sử dụng cho quá trình công nghiệp hóa nền kinh tế của Liên Xô.

Theo Robert W. DaviesStephen G. Wheatcroft, sản xuất ngũ cốc tại Liên Xô năm 1932-33 đạt được 55 - 60 triệu tấn, thấp hơn 15 - 17 triệu tấn so với năm trước[19]

Nạn đói đã được dự đoán từ năm 1930 bởi các viện nghiên cứu và cố vấn cho chính phủ Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô viết Ukraina, nhưng ít hoặc không có hành động phòng ngừa nào được thực hiện.[20]

Trong cuộc tập thể hóa nông nghiệp đã xảy ra nạn đói tại nhiều khu vực của Liên Xô, kể từ khi tiếp quản bởi những người Bolshevik từ năm 1917 sau Cách mạng tháng 10. Không giống như ở các vùng khác bị ảnh hưởng bởi hạn hán, chính quyền đã đóng cửa biên giới Ukraine để ngăn cấm người dân xuất cảnh ngay từ những ngày đầu của nạn đói, làm cho người dân không còn cách ra khỏi khu vực bị ảnh hưởng bởi hạn hán. Các lữ đoàn Bolshevik truy lùng thực phẩm cất giấu của nông dân để bắt họ nộp thuế. Nhiều nông dân bị mất tất cả tài sản của họ và trở thành những người ăn xin ở các thành phố. Tại một số nơi, trong dân chúng đã có tình trạng ăn xác người chết[21][22][23]

Nạn đói tại Ukraina đã được các ký giả Gareth Jones và Malcolm Muggeridge thông báo cho quốc tế biết vào mùa xuân 1933. Những ký giả thân thiện với chế độ Liên Xô như Walter Duranty của tờ báo The New York Times cho đó là không có gì nghiêm trọng cả. Trong lúc đó, trên báo chí, người ta hầu như chỉ chú trọng tới việc Hitler trở thành nhà độc tài Đức.

Holodomor

Số người chết[sửa | sửa mã nguồn]

Theo con số của viện Khoa học Ukraina, công bố vào tháng 11 năm 2008 thì số người chết tại địa phận Ukraina ước tính khoảng chừng 2,4 - 3,5 triệu người.[24] Một số sử gia như David Marples thậm chí còn đưa ra con số lên tới 7,5 triệu người chết[25]

Căn cứ theo số liệu dân cư tại hồ sơ lưu trữ thì dân số Ucraina, năm 1931 là 29,766 triệu người, đến năm 1933 là 30,06 triệu người[26] Như vậy, dân số Ucraina tăng khoảng 300.000 người trong 2 năm xảy ra nạn đói.

Theo nghiên cứu của Jacques Vallin vào năm 2012, số người chết do mọi nguyên nhân (già, bệnh tật, tai nạn...) tại Ucaraina năm 1931 là gần 515.000 người, con số này vào năm 1932 là 668.000, và năm 1933 là khoảng 1.850.000. Trừ đi số người chết do các nguyên nhân tự nhiên hoặc chiến tranh, hoặc việc số liệu đăng ký dân cư bị mất, thì số người chết vì đói ở Ucraina trong các năm 1932-1933 là khoảng 1,4 triệu (khoảng 150.000 vào năm 1932 và 1,25 triệu vào năm 1933)[27].

Một tuyên bố chung của Liên Hợp Quốc được ký bởi 25 quốc gia (bao gồm Azerbaijan, Bangladesh, Belarus, Bosnia và Herzegovina, Canada, Ai Cập, Georgia, Guatemala, Jamaica, Kazakhstan, Mông Cổ, Nauru, Pakistan, Qatar, Cộng hòa Moldova, Liên bang Nga, Ả Rập Saudi, Sudan, Cộng hòa Ả Rập Syria, Tajikistan, Timor-Leste, Ukraine, Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất và Hợp chủng quốc Hoa Kỳ) vào năm 2003 đã ấn định số người thiệt mạng ở Ukraine trong nạn đói này là từ 7-10 triệu người[28]

Về nguyên nhân gây ra nạn đói[sửa | sửa mã nguồn]

1933 tại Kharkiv: Bảng ngăn cấm chôn người tại chỗ này

Về nguyên nhân của Holodomor có nhiều quan điểm trái hẳn nhau. Một số sử gia Ukraina cho rằng đó là một sự kiện cố ý. Sử gia người Hungary Miklós Kun cho rằng đó là việc phân phối lương thực một cách cố ý, trong khi tại các làng mạc Ukraina người dân bị nạn đói đe dọa, thì thực phẩm của Ukraina được chở tới các nước Cộng hòa khác theo lệnh của Stalin trong khuôn khổ phân phối thực phẩm với giá bao cấp...". Ngược lại, các sử gia người Nga thì cho rằng nạn đói Holodomor là kết quả của việc mất mùa do thiên tai (cụ thể là trận hạn hán kỷ lục năm 1932), cộng thêm với việc tập thể hóa nông trường và sự phản kháng của nông dân Ukraina làm cho tình trạng càng thê thảm hơn.[cần dẫn nguồn]Năm 1932, Ukraine có lượng mưa lớn bất thường (gấp 2-3 lần mức bình thường), dẫn đến cây trồng bị nhiễm nấm ký sinh nghiêm trọng, đặc biệt là bệnh gỉ sắt. Dịch bệnh cây trồng đã làm sụt giảm mạnh năng suất cây lương thực, khiến hàng triệu tấn lương thực bị mất tại Ucraina trong năm 1932[29] Theo Robert W. DaviesStephen G. Wheatcroft, số liệu về tiến độ của các giai đoạn thu hoạch trong năm đó là rất chi tiết, và rõ ràng là vào năm 1932, đã có sự chậm trễ trong việc thu hoạch, khiến nhiều lương thưc còn sót lại trên đồng ruộng và bị thối rữa. Điều này xảy ra vì nhiều lý do, bao gồm cả thời tiết mưa nhiều bất thường tại Ucraina[19]

Ở Liên Xô, các nhà chức trách đã cấm thảo luận về nạn đói, và nhà sử học người Ukraine Stanislav Kulchytsky tuyên bố rằng chính phủ Liên Xô đã ra lệnh cho ông giả mạo những phát hiện về nạn đói của mình và phải mô tả nạn đói là một thảm họa tự nhiên không thể tránh khỏi, để chối bỏ trách nhiệm của Đảng Cộng sản và bảo vệ di sản của Stalin [30].

Gunnar Heinsohn, nhà xã hội học Đức, cho rằng tại Ukraina, Kazakhstan và một vài vùng tại Dãy núi Kavkaz, những nơi mà có chống đối mạnh về việc tịch thu tài sản trong quá trình tập thể hóa, thì chính phủ Liên Xô đã dùng biện pháp tịch thu lương thực để đập tan sự phản đối. Và ngay cả các phong trào đấu tranh đòi ly khai độc lập của các dân tộc thiểu số cũng bị dùng biện pháp tương tự để đối phó. Ông cho rằng đảng Cộng sản Liên Xô đã không cho cung cấp lương thực với những người bị nạn đói, cũng như không cho phép họ được ra khỏi khu vực thiếu ăn này. Lối diễn tả này của Gunnar Heinsohn bị một số người cộng sản chỉ trích vì các lý do chính trị mang hàm ý bôi nhọ vì hiềm thù chống Cộng.[31]

Nhiều người khác chỉ trích từ Holodomor khi nó được dùng bởi một số người Ukraina, họ cho rằng Ucraina đã lợi dụng hậu quả của nạn đói không chỉ ở nước Ukraina với những mục đích chính trị dân tộc quá khích. Ngoài ra, những số liệu chỉ ra là nạn đói năm 1932 không chỉ có người Ukraina phải gánh chịu, mà nó còn xảy ra tại các vùng đất khác ở Liên Xô do hậu quả của thiên tai và các chính sách sai lầm của chính phủ, nên không thể coi đây là hành vi cố ý nhắm riêng vào dân tộc Ukraina.[32]

Những vùng khác mà cũng bị ảnh hưởng trong đó có Nam Nga, các vùng giữa và dưới khu vực sông Volga, Nam Ural, Bắc Kasachstan và Tây Sibiria. Một số sử gia, như Robert Conquest, cho là tổng số người bị ảnh hưởng lên tới 14,5 triệu người, bao gồm cả những người bị nạn đói lẫn những người bị ảnh hưởng gián tiếp (di cư sang vùng khác, bán bớt tài sản để mua lương thực...)[33]

Những nghiên cứu sau này của phương Tây, nhất là sau khi văn thư lưu trữ được tự do tham khảo vào thập niên 1990, cho thấy Holodomor là kết quả tổng hợp của một loạt hậu quả dây chuyền, cả chủ quan lẫn khách quan: một nền chính trị khắc nghiệt trong việc tập thể hóa, các chính sách kinh tế sai lầm, sự chống đối của nông dân địa phương khiến nhân lực sản xuất nông nghiệp bị tụt giảm, cũng như thiên tai đã đưa đến việc mất mùa trên diện rộng.[34]

Giáo sư nghiên cứu Đông Âu Norman Naimark tuyên bố rằng những cái chết của Holodomor là kết quả từ hành vi diệt chủng cố ý của Stalin. Trong cuốn sách Stalin's Genocides, Naimark viết: "Có đủ bằng chứng - nếu không muốn nói là bằng chứng áp đảo - chỉ ra rằng Stalin và các tướng lĩnh của ông nhận thức được rằng nạn đói đang lan rộng ở Liên Xô những năm 1932-33 đã khiến Ukraine gặp khó khăn và họ sẵn sàng chứng kiến ​​hàng triệu nông dân Ukraine chết. Họ không nỗ lực để cung cấp cứu trợ; họ ngăn cản nông dân tự tìm kiếm lương thực trong thành phố hoặc các nơi khác ở Liên Xô; và họ từ chối nới lỏng các hạn chế đối với việc vận chuyển lương thực cho đến khi quá muộn. Sự thù địch của Stalin đối với người Ukraine và những nỗ lực của họ để duy trì hình thức "cai trị tại gia" cũng như sự tức giận của ông ta xuất phát từ ý nghĩ rằng nông dân Ukraine chống lại công cuộc tập thể hóa là động cơ thúc đẩy việc gây ra nạn đói" [35]:134-135

Trong 1 nghiên cứu công phu của Robert W. DaviesStephen G. Wheatcroft vào năm 2004, dựa trên các tài liệu lưu trữ của Liên Xô, các ông kết luận rằng: quan điểm cho rằng "nạn đói được cố ý gây ra để chống lại Ukraine và các nhóm quốc gia" hay được diễn giải ở phương Tây (dựa trên cuốn sách của sử gia có tiếng là thiên vị chống Cộng là Robert Conquest) là hoàn toàn sai.[29]. Trong bài viết có tựa đề The Turn Away from Economic Explanations for Soviet Famines, Wheatcroft viết rằng: "Sản xuất ngũ cốc tại Liên Xô năm 1932-33 đạt được 55 - 60 triệu tấn, và đó là 15 - 17 triệu tấn ít hơn so với năm trước... Tất cả chúng ta đều đồng ý rằng chính sách của Stalin là vô nhân đạo và tàn nhẫn và sự bao biện cho nó là một tội ác, nhưng chúng tôi không tin rằng nó được thực hiện với mục đích giết người và do đó không thể được mô tả là giết người hoặc diệt chủng... [....] Davies và tôi (2004) đã tạo ra một bản tường thuật chi tiết nhất về cuộc khủng hoảng ngũ cốc trong những năm này, cho thấy sự không chắc chắn trong dữ liệu và những sai lầm được thực hiện bởi một chính phủ thiếu thông tin và quá tham vọng..." [19].

Khắc phục[sửa | sửa mã nguồn]

Các hành động của lãnh đạo Liên Xô trong việc khắc phục khủng hoảng lương thực, chủ yếu tập trung vào việc phân bổ các khoản cứu trợ lương thực và hạt giống cho các khu vực sản xuất ngũ cốc chính của Liên Xô, kết thúc tại khu vực đói khát (bao gồm cả Ukraine). Các biện pháp đã được thực hiện để củng cố về mặt tổ chức và kinh tế cho các trang trại tập thể với sự trợ giúp của các trạm cơ khí và máy kéo, và việc tạo ra các trang trại cá nhân cho nông dân tập thể và cư dân đô thị đã được cho phép một phần[36]

Năm 1933, chính phủ Liên Xô thực hiện cứu trợ rộng rãi về hạt giống và thức ăn gia súc, và gửi đi hơn 20.000 công nhân công nghiệp. Tất cả các thành viên Đảng Cộng sản địa phương được huy động tham gia việc đồng áng. Bất chấp những điều kiện tự nhiên khủng khiếp, vụ thu hoạch rất thành công vào năm 1933 đã chấm dứt nạn đói ở hầu hết các khu vực[29].

Tranh cãi chính trị[sửa | sửa mã nguồn]

Bản đồ của những nước, công nhận Holodomor là mắc tội diệt chủng người Ukraina

Raphael Lemkin, người mà sau Đệ Nhị thế chiến đã thành công trong việc đòi hỏi thành lập Quy ước Liên Hiệp Ước ngăn ngừa và trừng phạt tội ác diệt chủng (Konvention über die Verhütung und Bestrafung des Völkermordes), ông này cho rằng nạn đói ở Ukraina là thí dụ cổ điển của một vụ diệt chủng.[37]

Chính phủ của Ukraina dưới thời của tổng thống Viktor Andriyovych Yushchenko, đã cố gắng vận động để được quốc tế công nhận Holodomor là một tội ác diệt chủng người Ukraina[38]. Năm 2008, chính phủ Ukraina dưới thời tổng thống Viktor Andriyovych Yushchenko bỏ công sức vận động cho việc Holodomor được công nhận là một "tội ác diệt chủng dân tộc Ukraina". Sau cùng, ngoài Ukraina, có 13 nước gồm Argentina,[39] Úc,[40] Azerbaijan, Bỉ, Brazil, Ecuador, Estonia, Gruzia,[41] Ý, Canada,[42] Columbia, Latvia, Litva,[43] Moldova, Paraguay, Peru, Ba Lan,[44] Tây Ban Nha, Cộng hòa Séc,[45] Hungary,[46] Hoa Kỳ[47] và tòa thánh Vatican[48] công nhận Holodomor chính thức là tội diệt chủng. Tuy nhiên, đến năm 2010, chính phủ mới của Ucraina dưới thời tổng thống Viktor Fedorovych Yanukovych, đã bãi bỏ cuộc vận động và không công nhận việc gọi Holodomor là "tội diệt chủng" nữa.

Những ngọn nến tưởng niệm Holodomor tại Kyiv

Nga không chấp nhận sử dụng từ diêt chủng cho nạn đói Holodomor. Theo ngoại trưởng của Nga thì nạn chết đói tại Liên Xô vào những năm 1932-1933 không chỉ có những người trong dân tộc Ukraina trở thành nạn nhân, mà cả người Nga và các dân tộc khác. Tại Nga, đa số mọi người cho rằng Holodomor là một trò tuyên truyền được một số các nhóm chính trị ở Ukraina lợi dụng cho những mưu đồ của họ.[49]

Vào ngày 23 tháng 10 năm 2008, Hội đồng Nghị viện của Ủy hội châu Âu trong một nghị quyết đã gọi Holodomor là Tội ác chống lại loài người.[50] Tuy nhiên, Hội đồng Nghị viện của Ủy hội châu Âu (PACE) vào tháng 4 năm 2010 đã từ chối không dùng chữ "tội diệt chủng" mà phe đối lập ở Ukraina yêu cầu, trong nghị quyết về nạn đói lớn trong thập niên 1930 tại Liên Xô.[51]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Thư mục[sửa | sửa mã nguồn]

  • Levon Chorbajian, George Shirinian (Hrsg.): Studies in Comparative Genocide. St. Martin's Press, New York NY 1999, ISBN 0-312-21933-4.
  • Robert Conquest: The Harvest of Sorrow. Soviet Collectivization and the Terror-Famine. The University of Alberta Press in Association with the Canadian Institute of Ukrainian Studies, Edmonton 1987, ISBN 0-88864-128-1.[52]
  • Robert W. Davies, Stephen G. Wheatcroft: The Years of Hunger. Soviet Agriculture 1931–1933 (= The Industrialisation of Soviet Russia. Bd. 5). Palgrave Macmillan, Basingstoke u. a. 2004, ISBN 0-333-31107-8.
  • Robert W. Davies, Stephen G. Wheatcroft: Stalin and the Soviet Famine of 1932–33 – A Reply to Ellman. In: Europe-Asia Studies. Bd. 58, Nr. 4, 2006, ISSN 0038-5859, S. 625–633, doi:10.1080/09668130600652217.
  • Gabriele De Rosa, Francesca Lomastro (Hrsg.): La morte della terra. La grande „carestia" in Ucraina nel 1932–33 (= Media et Orientalis Europa. Bd. 2). Atti del Convegno, Vicenza, 16–18 ottobre 2003. Viella, Roma 2004, ISBN 88-8334-135-X.
  • Miron Dolot: Who Killed Them and Why? In Remembrance of Those Killed in the Famine of 1932–1933 in Ukraine. Harvard University – Ukrainian Studies Fund, Cambridge MA 1984, ISBN 0-9609822-1-3.
  • Miron Dolot: Execution by Hunger. The Hidden Holocaust. Norton, New York NY u. a. 1987, ISBN 0-393-30416-7.
  • Miron Dolot: Les affames. L'holocauste masqué, Ukraine 1929–1933. Éditions Ramsay, Paris 1986, ISBN 2-85956-514-0.
  • Barbara Falk: Sowjetische Städte in der Hungersnot 1932/33. Staatliche Ernährungspolitik und städtisches Alltagsleben (= Beiträge zur Geschichte Osteuropas. Bd 38). Böhlau, Köln u. a. 2005, ISBN 3-412-10105-2 (Zugleich: Bochum, Universität, Dissertation, 2003).
  • Ruth Gleinig, Ronny Heidenreich: Erinnerungsorte an den Holodomor 1932/33 in der Ukraine. Herausgegeben von Anna Kaminsky. Leipziger Universitäts-Verlag, Leipzig 2008, ISBN 978-3-86583-261-0.
  • Andrea Graziosi: The Great Soviet Peasant War. Bolsheviks and Peasants, 1917–1933. Distributed by Harvard University Press for the Ukrainian Research Institute – Harvard University, Cambridge MA 1996, ISBN 0-916458-83-0.
  • Wsevolod W. Isajiw (Hrsg.): Famine-Genocide in Ukraine, 1932–1933. Western Archives, Testimonies and New Research. Ukrainian Canadian Research and Documentation Centre, Toronto 2003, ISBN 0-921537-56-5.
  • Victor A. Kravchenko: I Chose Freedom. Charles Scribner's Sons, New York NY 1946.
  • Robert Kuśnierz: Ukraina w latach kolektywizacji i Wielkiego Głodu (1929–1933). Grado, Torń 2005, ISBN 83-89588-35-8.
  • Eugene Lyons: Assignment in Utopia. Harcourt, Brace & Co, New York NY 1937, (Auszug).
  • James E. Mace: Soviet Man-Made Famine in Ukraine. In: Samuel Totten, William S. Parsons, Israel W. Charny (Hrsg.): Century of Genocide. Eyewitness Accounts and Critical Views (= Garland Reference Library of Social Science. Bd. 772). Garland, New York NY u. a. 1997, ISBN 0-8153-2353-0, S. 78–112.
  • James E. Mace: Communism and the Dilemmas of National Liberation. National Communism in Soviet Ukraine, 1918–1933. Distributed by Harvard University Press for the Harvard Ukrainian Research Institute and the Ukrainian Academy of Arts and Sciences in the U.S., Cambridge MA 1983, ISBN 0-916458-09-1.
  • Rudolf A. Mark, Gerhard Simon, Manfred Sapper, Volker Weichsel, Agathe Gebert (Hrsg.): Vernichtung durch Hunger. Der Holodomor in der Ukraine und der UdSSR. Berlin 2004. ISBN 3-8305-0883-2.
  • Stephan Merl: War die Hungersnot von 1932–1933 eine Folge der Zwangskollektivierung der Landwirtschaft oder wurde sie bewußt im Rahmen der Nationalitätenpolitik herbeigeführt? In: Guido Hausmann, Andreas Kappeler (Hrsg.): Ukraine. Gegenwart und Geschichte eines neuen Staates (= Nationen und Nationalitäten in Osteuropa. Bd. 1). Nomos-Verlags-Gesellschaft, Baden-Baden 1993, ISBN 3-7890-2920-3, S. 145–166.
  • D'ann R. Penner: Stalin and the „Ital'ianka" of 1932-1933 in the Don Region. In: Cahiers du Monde Russe. Bd. 39, 1998, ISSN 0008-0160, S. 27–67, Digitalisat).
  • Oksana Procyk, Leonid Heretz, James E. Mace: Famine in the Soviet Ukraine 1932–1933. A Memorial Exhibition. Harvard University Press, Cambridge MA 1986, ISBN 0-674-29426-2.
  • Timothy Snyder: Bloodlands: Europa zwischen Hitler und Stalin, Beck 2011, ISBN 978-3-406-62184-0.
  • Georges Sokoloff (Hrsg.): 1933, L'année noire. Témoignages sur la famine en Ukraine. Albin Michel, Paris 2000, ISBN 2-226-11690-7.
  • Douglas Tottle: Fraud, Famine and Fascism. The Ukrainian Genocide Myth from Hitler to Harvard. Progress Books, Toronto 1987, ISBN 0-919396-51-8
  • Stephen G. Wheatcroft: Towards Explaining the Soviet Famine of 1931–1933. Political and Natural Factors in Perspective. In: Food and Foodways. Bd. 12, H. 2/3, 2004, ISSN 0740-9710, S. 104–136.
  • Dmytro Zlepko (Hrsg.): Der ukrainische Hunger-Holocaust. Stalins verschwiegener Völkermord 1932/33 an 7 Millionen ukrainischen Bauern im Spiegel geheim gehaltener Akten des deutschen Auswärtigen Amtes. Eine Dokumentation. Wild, Sonnenbühl 1988, ISBN 3-925848-03-7.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Davies & Wheatcroft 2010, tr. 479–484.
  2. ^ “Poll: Almost two-thirds of Ukrainians believe famine of 1932–1933 was organized by Stalinist regime”. Interfax-Ukraine. 20 tháng 11 năm 2013. Truy cập ngày 28 tháng 2 năm 2016. 
  3. ^ Marcel Van Herpen (2013). Putinism: The Slow Rise of a Radical Right Regime in Russia. Palgrave Macmillan UK. tr. 40. ISBN 978-1-137-28282-8. Truy cập ngày 29 tháng 2 năm 2016. 
  4. ^ “Joint statement by the delegations of Azerbaijan, Bangladesh, Belarus, Benin, Bosnia and Herzegovina, Canada, Egypt, Georgia, Guatemala, Jamaica, Kazakhstan, Mongolia, Nauru, Pakistan, Qatar, the Republic of Moldova, the Russian Federation, Saudi Arabia, the Sudan, the Syrian Arab Republic, Tajikistan, Timor-Leste, Ukraine, the United Arab Emirates and the United States of America on the seventieth anniversary of the Great Famine of 1932–1933 in Ukraine (Holodomor) to the United Nations addressed to the Secretary-General” (PDF). Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 13 tháng 3 năm 2017. Truy cập ngày 11 tháng 3 năm 2017. In the former Soviet Union millions of men, women and children fell victims to the cruel actions and policies of the totalitarian regime. The Great Famine of 1932–1933 in Ukraine (Holodomor), which took from 7 million to 10 million innocent lives and became a national tragedy for the Ukrainian people. ... as a result of civil war and forced collectivization, leaving deep scars in the consciousness of future generations. ... we deplore the acts and policies that brought about mass starvation and death of millions of people. We do not want to settle scores with the past, it could not be changed, but we are convinced that exposing violations of human rights, preserving historical records and restoring the dignity of victims through acknowledgement of their suffering, will guide future societies and help to avoid similar catastrophes in the future. ... 
  5. ^ David R. Marples. Heroes and Villains: Creating National History in Contemporary Ukraine. p.50
  6. ^ Наливайченко назвал количество жертв голодомора в Украине [Nalyvaichenko called the number of victims of Holodomor in Ukraine] (bằng tiếng Nga). LB.ua. 14 tháng 1 năm 2010. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 4 năm 2012. Truy cập ngày 21 tháng 7 năm 2012. 
  7. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên britannica
  8. ^ Davies & Wheatcroft 2002, tr. 77. "[T]he drought of 1931 was particularly severe, and drought conditions continued in 1932. This certainly helped to worsen the conditions for obtaining the harvest in 1932".
  9. ^ Engerman 2003, tr. 194.
  10. ^ Zisels, Josef; Halyna Kharaz (11 tháng 11 năm 2007). “Will Holodomor receive the same status as the Holocaust?”. world.maidan.org.ua. Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 6 năm 2007. Truy cập ngày 21 tháng 7 năm 2012. 
  11. ^ Mytsyk, Y. A. (2003). Трагедія Голодомору у спогадах очевидців [The tragedy of the Holodomor in the memories of eyewitnesses]. archives.gov.ua. ISBN 978-966-518-210-8. Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 2 năm 2007. Truy cập ngày 9 tháng 12 năm 2015. 
  12. ^ Stanislav Kulchytsky (2 tháng 9 năm 2008). “The Holodomor of 1932–1933: the scholarly verdict”. day.kiev.ua. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 1 năm 2016. Truy cập ngày 9 tháng 12 năm 2015. 
  13. ^ Margolis, Eric. “Seven million died in the 'forgotten' holocaust”. ukemonde.com. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 9 năm 2017. Truy cập ngày 8 tháng 10 năm 2017. 
  14. ^ Davies, Robert; Wheatcroft, Stephen (2009). The Industrialisation of Soviet Russia Volume 5: The Years of Hunger: Soviet Agriculture 1931–1933. Palgrave Macmillan UK. tr. xiv. ISBN 978-0-230-27397-9. Truy cập ngày 15 tháng 6 năm 2017. 
  15. ^ Tauger, Mark B. (2001). “Natural Disaster and Human Actions in the Soviet Famine of 1931–1933”. The Carl Beck Papers in Russian and East European Studies (1506): 1–65. ISSN 2163-839X. doi:10.5195/CBP.2001.89. Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 6 năm 2017. 
  16. ^ Werth 2010, tr. 396.
  17. ^ Davies & Wheatcroft 2010, tr. 470, 476.
  18. ^ a ă â Wheatcroft, Stephen (2018). “The Turn Away from Economic Explanations for Soviet Famines”. Contemporary European History 27 (3): 465–469. doi:10.1017/S0960777318000358. 
  19. ^ Dawood, M; Mitra A (tháng 12 năm 2012). “Hidden agendas and hidden illness”. Diversity and Equality in Health and Care 9 (4): 297–8. 
  20. ^ Raphael Lemkin: ##Soviet Genocide in the Ukraine## Raphael Lemkin Papers, The New York Public Library, 1953.
  21. ^ Robert W. Davies, Stephen G. Wheatcroft: The Years of Hunger: Soviet Agriculture 1931–1933, Palgrave Macmillan, 2010, ISBN 978-0-230-23855-8.
  22. ^ ##Ukraine’s enduring Holodomor horror, when millions starved in the 1930s## euronews.com, 22. November 2013.
  23. ^ “Голодомор 1932-1933 годов в Украине унес жизни 3,5 млн человек - НАН Украины” (bằng tiếng russisch). Korrespondent.Net. Truy cập ngày 12 tháng 11 năm 2008. ; und Donald Bloxham, A. Dirk Moses (Hrsg.): The Oxford Handbook of Genocide Studies. Oxford University Press, Oxford 2010, ISBN 978-0-19-923211-6, S. 396.
  24. ^ David R. Marples. Heroes and Villains: Creating National History in Contemporary Ukraine. p.50
  25. ^ http://www.populstat.info/Europe/ukrainec.htm
  26. ^ http://www.demogr.mpg.de/books/drm/009/2.pdf
  27. ^ [1] Trích dẫn: "In the former Soviet Union millions of men, women and children fell victims to the cruel actions and policies of the totalitarian regime. The Great Famine of 1932-1933 in Ukraine (Holodomor), which took from 7 million to 10 million innocent lives and became a national tragedy for the Ukrainian people. In this regard we note activities in observance of the seventieth anniversary of this Famine, in particular organized by the Government of Ukraine"
  28. ^ a ă â https://eh.net/book_reviews/the-years-of-hunger-soviet-agriculture-1931-1933/
  29. ^ Levy, Clifford (15 tháng 3 năm 2009). “A New View of a Famine That Killed Millions”. New York Times. Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 3 năm 2017. 
  30. ^ Gunnar Heinsohn: Lexikon der Völkermorde (= rororo. rororo-aktuell 22338). Rowohlt-Taschenbuch-Verlag, Reinbek bei Hamburg 1998, ISBN 3-499-22338-4.
  31. ^ Vgl. Alexander Vatlin: Die unvollendete Vergangenheit: Über den Umgang mit der kommunistischen Geschichte im heutigen Russland. In: Jahrbuch für Historische Kommunismusforschung. 2010, ISSN 0944-629X, S. 279–294.
  32. ^ Die Zeit 48/2008: Stalinismus - Stille Vernichtung, 20. November 2008
  33. ^ Davies u. a.: The Years of Hunger. 2004; Wheatcroft: Towards Explaining the Soviet Famine of 1931–1933. In: Food and Foodways. Vol. 12, H. 2/3, 2004, S. 104–136; Penner: Stalin and the „Ital'ianka" of 1932–1933 in the Don Region. In: Cahiers du Monde Russe. Bd. 39, 1998, S. 27–67.
  34. ^ Naimark, Norman (2010). Stalin's Genocides (Human Rights and Crimes against Humanity). Princeton University Press. ISBN 978-0-691-14784-0. 
  35. ^ https://web.archive.org/web/20180126070832/http://new.rusarchives.ru/publication/golod.shtml
  36. ^ Zitiert nach Timothy Snyder: Bloodlands. Europa zwischen Hitler und Stalin. 3. Auflage. C. H. Beck, München 2011, ISBN 978-3-406-62184-0, S. 74.
  37. ^ „Vielleicht die größte humanitäre Katastrophe" FAZ, 20 tháng 11 năm 2008
  38. ^ Resolución del Senado de la República Argentina (n.º1278/03)], Cámara de Diputados de la Nación, 26 de junio 2003, Internetlink von 2007 seit 2010 nicht mehr erreichbar. Geprüft am 13. Januar 2014.
  39. ^ http://parlinfoweb.aph.gov.au/piweb/view_document.aspx?id=93255&table=JOURNALS
  40. ^ http://www.parliament.ge/index.php?lang_id=ENG&sec_id=89&info_id=8347&date=ngày 20 tháng 12 năm 2005&new_month=12&new_year=2005
  41. ^ http://www.parl.gc.ca/37/2/parlbus/chambus/senate/jour-e/pdf/072jr_ngày 19 tháng 6 năm 2003.pdf
  42. ^ http://www3.lrs.lt/pls/inter3/dokpaieska.showdoc_e?p_id=266526&p_query=&p_tr2=
  43. ^ PDF bei www.senat.gov.pl
  44. ^ http://korrespondent.net/ukraine/politics/218994-chehiya-priznala-golodomor-v-ukraine
  45. ^ http://www.mkogy.hu/irom37/6288/6288.htm
  46. ^ http://frwebgate.access.gpo.gov/cgi-bin/getdoc.cgi?dbname=109_cong_bills&docid=f:h562rfs.txt.pdf
  47. ^ http://www.vatican.va/holy_father/john_paul_ii/speeches/2001/documents/hf_jp-ii_spe_20010623_ucraina-meeting_en.html
  48. ^ http://rus.newsru.ua/ukraine/20nov2007/golod.html
  49. ^ [2] Protokoll der Resolution der EU bezüglich des Holodomor vom 23. Oktober 2008, truy cập ngày 29. Oktober 2009
  50. ^ Parlamentarische Versammlung des Europarates erkennt Holodomor nicht als Völkermord an, Ukraine-Nachrichten, 28. April 2010
  51. ^ The Harvest of Sorrow, Inhaltsverzeichnis (englisch)

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]