M1903 Springfield

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
M1903 Springfield
M1903 Springfield - USA - 30-06 - Armémuseum.jpg
Súng trường M1903 Springfield
LoạiSúng trường, súng trường chiến đấu, súng bắn tỉa
Quốc gia chế tạo Hoa Kỳ
Lược sử hoạt động
Phục vụ1903-1974
Sử dụng bởiXem phần Các quốc gia sử dụng  Hoa Kỳ
 Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland
 Úc
 New Zealand
 Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
 Cộng hòa Miền Nam Việt Nam
 Việt Nam
 Lào
 Hàn Quốc
 Nhật Bản
 Đài Loan
 Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên
 Trung Quốc
 Philippines
 Indonesia
 Singapore
 Pháp
 Thái Lan
 Cộng hòa Nhân dân Campuchia
 Campuchia
 Israel
 Cuba
 Mexico
 Brasil
 Malaysia
 Hy Lạp
 Bồ Đào Nha
Cuộc chiến tranhChiến tranh thế giới thứ nhất
Chiến tranh thế giới thứ hai
Sự kiện Vịnh Con Lợn
Chiến tranh Triều Tiên
Chiến tranh Đông Dương
Chiến tranh Việt Nam
Nội chiến Lào
Nội chiến Campuchia
Nội chiến Trung Quốc
Chiến tranh biên giới Lào-Thái Lan
Chiến tranh Việt Nam-Campuchia
Chiến tranh biên giới Việt-Trung, 1979
Xung đột Ả Rập-Israel
Chiến tranh Trung-Nhật lần thứ hai
Cách mạng Cuba
Cách mạng Mexico
Lược sử chế tạo
Người thiết kếSpringfield Armory
Năm thiết kế1902
Nhà sản xuấtSpringfield Armory
Remington
Giai đoạn sản xuất1903-1949
Số lượng chế tạoKhoảng 3.004.079 khẩu
Các biến thểM1903 Springfield
Remington M1903A3 Springfield
M1903A4 Springfield (phiên bản bắn tỉa)
Sporterized M1903 Springfield (dành cho giới thể thao)
Thông số
Khối lượng3,9 kg
Chiều dài43,9 in

Đạn.30-06 Springfield
.30-03 Springfield
Cơ cấu hoạt độngBolt-Action
Tốc độ bắn10 - 15 viên/phút
Vận tốc mũi853 m/giây
Tầm bắn hiệu quả402 m
Tầm bắn xa nhất1300 mét
Chế độ nạpỔ đạn 5 viên
Ngắm bắnĐiểm ruồi hoặc ống ngắm M84

Súng trường M1903 Springfield, trước đó được biết với tên là súng trường Hoa Kỳ, súng trường.30-06súng trường mẫu 1903, là một mẫu súng trường không tự động rất nổi tiếng, được trang bị bởi quân đội Hoa Kỳ trong suốt nửa đầu của thế kỷ 20. Đây cũng là một trong những khẩu súng bắn tỉa được sử dụng nhiều trong những cuộc chiến như thế chiến thứ hai, chiến tranh Triều Tiên, chiến tranh Đông Dươngchiến tranh Việt Nam.

Giai đoạn chế tạo[sửa | sửa mã nguồn]

M1903 Springfield trong viện bảo tàng lịch sử ở Stockholm, Thụy Điển.
Phiên bản gốc M1903 Springfield, được dùng bởi quân đội Mỹ trong những ngày đầu ở mặt trận Thái Bình Dương.
Phiên bản Remington M1903A3 Springfield.
Phiên bản M1903 Springfield với loại báng khác.
Phiên bản bắn tỉa M1903A4 Springfield với ống nhắm M84.

Trước khi khẩu M1903 Springfield ra đời thì quân đội Hoa Kỳ sử dụng phổ biến súng trường Krag-Jørgensen cũ kĩ của Đan Mạch. Trong khi đó, các cường quốc quân sự lớn trên thế giới khi đó đều đã có cho riêng mình những khẩu súng trường do họ tự nghiên cứu thiết kế và sản xuất. Chính phủ Mỹ nhận thấy rằng quân đội không thể sử dụng mãi những khẩu súng trường Krag-Jorgensen được. Quân đội Mỹ cần phải có một khẩu súng trường do chính người Mỹ tự thiết kế và tự sản xuất. Nhà máy vũ khí Springfield Armory nổi tiếng đã nhận nhiệm vụ thiết kế và họ hứa rằng họ sẽ thiết kế ra một khẩu súng trường đáp ứng đúng như những gì mà chính phủ đã mong muốn. Sau đó, các kĩ sư trong ban thiết kế của nhà máy Springfield Armory đã thiết kế ra khẩu súng này với sự giúp đỡ từ phía các kĩ sư của nhà máy sản xuất vũ khí Mauser danh tiếng của Đức. Đến năm 1903 thì nó được đặt tên là M1903 Springfield. Vào giữa năm 1903, Quân đội Mỹ cũng chấp nhận khẩu súng trường này trong biên chế và họ bắt đầu tổ chức sản xuất hàng loạt khẩu súng này từ khoảng cuối năm 1903.

Trong thế chiến thứ nhất[sửa | sửa mã nguồn]

Trong thế chiến thứ nhất, súng trường M1903 Springfield đã trở thành khẩu súng trường chính của quân đội Hoa Kỳ. Bằng chứng là trong một bộ phim của Charlie Chaplin có tựa là "Shoulder Arms", trong bộ phim này khẩu M1903 Springfield được mang theo và sử dụng bởi hầu hết những người lính trong quân đội Mỹ lẫn cả quân đội Đức, nhưng trên thực tế thì quân Đức không bao giờ dùng chung vũ khí Springfield chung với quân Đồng Minh, họ cũng có những khẩu súng trường Gewehr 98 cũng không hề kém cạnh khẩu M1903 một tí nào của riêng họ. Trong thế chiến thứ nhất, mỗi khi quân Mỹ tấn công quân Đức bằng cách xông lên và đánh nhau theo kiểu giáp lá cà với binh lính Đức trong chiến hào thì đa số súng trường đều bị vứt lại ở hào cho nó đỡ vướng víu, họ giết nhau bằng cách dùng súng ngắn (nhưng chỉ sĩ quan mới được trang bị súng ngắn mà thôi). Còn lại đa số lính Mỹ lại chọn cách đó là dùng lưỡi lê hoặc mũ cối sắt mà họ đội trên đầu để đánh nhau với kẻ thù. Chính phủ Mỹ nhận thấy điều đó rất tốn kém nhưng họ không biết nên làm cách gì để giải quyết.

Trong thế chiến thứ hai[sửa | sửa mã nguồn]

Khi thế chiến thứ hai diễn ra, vì quân đội Mỹ đã đưa vào sử dụng hai mẫu súng trường bán tự động danh tiếng: M1 GarandM1 Carbine nên số lượng súng trường M1903 Springfield được sử dụng đã bị ít dần đi. Một phần lớn số súng trường M1903 Springfield đã được giao lại cho những người lính bắn tỉa, lính hải quân và một số người lính dù, nó cũng được dùng rất nhiều bởi thủy quân lục chiến vào những ngày đầu của mặt trận Thái Bình Dương. Khẩu súng trường M1903 Springfield có ưu điểm là khá nhẹ, độ chính xác cao nên cho dù có kính ngắm hay không có kính ngắm thì nó vẫn giữ được ưu thế của súng trường bắn tỉa. M1903 Springfield được biết là một trong những khẩu súng bắn tỉa mạnh nhất thời thế chiến thứ hai, may mắn thay đạn của M1903 Springfield sử dụng lại chính là loại đạn tiêu chuẩn của quân sự Mỹ suốt năm 1903 đến năm 1960s nên không có vấn đề gì trong việc cung cấp đạn cho nó, ống ngắm của M1903 Springfield là ống ngắm M84, một loại ống ngắm của súng trường M1 Garand nên việc cung cấp ống ngắm cho nó cũng rất dễ. Trong thế chiến thứ hai, quân đội Mỹ cũng thử dùng súng trường M1 Garand làm súng bắn tỉa nhưng lực giật của cây Garand tương đối lớn khiến những người lính bắn tỉa Mỹ rất khó bắn trúng quân địch, đặc biệt là Garand có thể nạp đạn bằng ổ đạn 8 viên vào phiên bản bình thường nhưng phải nạp đạn từng viên một cho phiên bản bắn tỉa vì ống nhắm đã chiếm gần hết vị trí của ổ tiếp đạn, chính lý do này đã làm binh lính Mỹ không thích phiên bản bắn tỉa của Garand cho lắm. Tuy khẩu Garand bắn nhanh nhưng thời gian nạp đạn chậm và giật nên những người lính bắn tỉa trong quân đội Mỹ đành phải thay thế khẩu Garand bằng M1903A4 Springfield.

Những cuộc chiến khác[sửa | sửa mã nguồn]

Trong thời kỳ chiến tranh Đông Dương, nhất là từ năm 1903 trở đi, Pháp đã thay thế những khẩu súng trường cổ điển Lebel 1886 bằng M1903 Springfield, nó được trang bị rộng rãi bởi quân đội Pháp sau khi mua một lượng lớn từ nước Mỹ. Quân Pháp cũng lấy kính ngắm M84 gắn vào nó và đưa lại cho những người lính bắn tỉa sử dụng trong khi những người lính bắn tỉa trong quân đội Việt Minh được sử dụng Mosin Nagant. Có thể nói: M1903 Springfield và Mosin Nagant là đối thủ của nhau trong suốt thời gian chiến tranh Đông Dương. Vì khẩu M1903 Springfield được sản xuất từ nhà máy Remington nên quân đội Việt Nam lẫn cả những người dân miền Nam Việt Nam gọi nó là súng trường Rơ-manh-tông. Khẩu Springfield được phục vụ rất hạn chế trong chiến tranh Việt Nam và nhiều cuộc chiến khác sau này. Chủ yếu nó được sử dụng để đóng vai trò làm súng trường bắn tỉa chứ không cần làm súng trường chiến đấu bình thường vì đã có khẩu M16 thay thế.

Quân du kích từ khắp nơi trên thế giới chỉ thích mua và sử dụng vũ khí của Liên Xô chứ không thích sử dụng vũ khí của Hoa Kỳ, vì quân đội Hoa Kỳ kẻ thù của họ cũng như súng trường Springfield là súng của Hoa Kỳ.

Các quốc gia sử dụng[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích và tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]