AKM

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
AKM
AKM automatkarbin, Ryssland - 7,62x39mm - Armémuseum.jpg
Súng trường AKM
Loại Súng trường tấn công
Nguồn gốc  Liên Xô
Lược sử hoạt động
Trang bị 1959–nay
Quốc gia sử dụng Xem Ứng dụng
Sử dụng trong Chiến tranh Việt Nam, Chiến tranh Liên Xô-Afghanistan, Chiến tranh Iran–Iraq, Chiến tranh Chechenya, Chiến tranh Iraq, Chiến tranh Afghanistan (2001-nay)
Lược sử chế tạo
Nhà thiết kế Mikhail Kalashnikov
Năm thiết kế thập niên 1950
Các biến thể AKMS, AKMP, AKML, AKMLP, AKMSP, AKMSN, AKMSNP
Thông số kỹ chiến thuật
Khối lượng 3,1 kg (AKM)
3,8 kg (AKML)
3,3 kg (AKMS)
3,77 kg (AKMSN)
Chiều dài 880 mm (AKM, AKML)
902 mm báng mở / 655 mm báng gập (AKMS)
Cỡ nòng  415 mm

Đạn 7,62x39mm
Cơ cấu hoạt động Trích khí xung, khóa nòng then xoay
Tốc độ bắn 600 viên/phút (lý thuyết)
Sơ tốc 715 m/s
Tầm bắn hiệu quả 300-400 m
Tầm bắn xa nhất 2500 m (góc bắn 40-45o)
Cơ cấu nạp Hộp tiếp đạn 30 viên hai hàng so le, đẩy đạn bằng lò xo, đường đẩy cong.
Ngắm bắn Thước ngắm kiểu AK, đầu ngắm có vòng bảo vệ
đường ngắm từ rãnh đến đầu ngắm dài 378 mm

AKM (tên đầy đủ là Avtomat Kalashnikova Modernizirovannyj)(tiếng Nga: Автомат Калашникова модернизированный)súng trường tấn công được cải tiến từ phiên bản cũ là AK-47 vào thập niên 1950. Được trang bị cho Hồng Quân vào năm 1959, AKM được sử dụng rộng rãi trên thế giới bởi độ chính xác, hỏa lực mạnh, độ tin cậy cao, độ bền và thiết kế đơn giản của nó. Tại Liên Xô cũNga AKM được sản xuất tại các xưởng quân khí TulaIzhevsk. Súng được chính thức sử dụng trong quân đội Liên Xô vào cuối năm 1960, thay thế cho AK-47. Hiện nay AKM vẫn còn được sử dụng tại Nga và nhiều lực lượng vũ trang trên thế giới[1].

Lịch sử và Cấu tạo[sửa | sửa mã nguồn]

AKMS

Những thay đổi chủ yếu của súng so với AK-47 việc ứng dụng loại thép mới bền hơn và cụm cò-búa được cải tiến bằng cách thiết kế thêm một chi tiết làm trễ búa đập. Những thay đổi khác là việc tái thiết kế báng súng, tay cầm và bộ ốp lót phía trước, đồng thời thay đổi nguyên liệu chế tạo từ gỗ tiện sang gỗ ép cường độ cao và bakelite. Các cải tiến này làm súng nhẹ hơn 25% so với AK-47 nhưng lại chắc chắn hơn. Ốp lót tay dưới có mấu giữ tăng cường khả năng nắm chắc súng của xạ thủ. Chụp đầu nòng bù giật từ phiên bản AK-47 1955 được gắn vào đầu nòng súng bằng ren nòng tăng độ chụm của loạt bắn liên thanh (sang phải lên trên, theo tư thế bắn và cách cầm súng tiêu chuẩn) và làm giảm khả năng tản mát.[2] Ống bù giật có thể được tháo ra thay thế bằng thiết bị giảm thanh PBS-1, thường được biết tới với tên gọi ống giảm thanh. Thiết bị giảm thanh này đòi hỏi đạn cận âm để chức năng giảm thanh hiệu quả. AKM sử dụng loại đạn 7,62x39mm M43 tiêu chuẩn có lõi thép tăng khả năng xuyên giáp chống đạn.

Một thay đổi khác của AKM là việc cải tiến thước ngắm với các vạch chia tầm từ 100m đến 1.000m (AK-47 tối đa là 800m), dù rằng khả năng ngắm bắn ở khoảng cách 800 hay 1000 mét chỉ là trên lý thuyết vì quá xa với mục tiêu đơn lẻ (trừ trường hợp bộ binh địch đứng tập trung thành đám đông), tầm ngắm hiệu quả chung của xạ thủ với mục tiêu đơn lẻ chỉ vào khoảng 300-400m.

Mặc dù AK-74 với loại đạn 5,45x39 mm được sản xuất và sử dụng tại các lực lượng vũ trang, song AKM chưa bao giờ bị Nga loại khỏi quân ngũ, và vẫn được cất giữ trong các kho quân giới của quân đội Nga, nhiều đơn vị vẫn được trang bị AKM của những năm 60. Một vài đơn vị đặc biệt của Nga (hầu hết là cảnh sát và lực lượng đặc biệt) tham chiến trực tiếp tại Chechnya đều sử dụng AKM thay vì AK-74, một phần vì đạn 7,62mm của AKM có sức xuyên phá mạnh hơn đạn 5,45mm của AK-74.

Sử dụng[sửa | sửa mã nguồn]

Lính Ai Cập - năm 1983.
Một khẩu AKM với hệ thống chấm mục tiêu laser

Chú thích - Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]