Bước tới nội dung

PM M1910

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Súng máy hạng nặng M1910 7,62 Maxim
PM M1910/30
LoạiSúng máy hạng nặng
Nơi chế tạo Đế quốc Nga
Lược sử hoạt động
Phục vụ1910 – nay
Sử dụng bởiXem Các nước sử dụng
TrậnXem Các trận chiến sử dụng
Lược sử chế tạo
Năm thiết kế1909 – 1910[1]
Nhà sản xuấtNhà máy vũ khí Tula
Giai đoạn sản xuất1910-1939
1941-1945
Số lượng chế tạoÍt nhất 176,000[2]
Lên đến 600,000[3]
Các biến thểXem Các biến thể
Thông số
Khối lượng
  • Thân súng:
    23,8 kg (52,47 lb)
  • Gắn trên giá bánh xe:[4]
    62,66 kg (138,14 lb)
Chiều dài1,067 mm (0,04 in)
Độ dài nòng721 mm (28,39 in)

Đạn7.62×54mmR[4][5]
Cỡ đạn7.62mm
Cơ cấu hoạt độngGiật báng (Nạp đạn bằng độ giật), khóa chốt khuỷu
Tốc độ bắn600 viên/phút[4]
Sơ tốc đầu nòng740 m/s (2.400 ft/s)
Tầm bắn hiệu quả2.700 m (3.000 yd)[3]
Tầm bắn xa nhất5.000 m (5.500 yd)[3]
Chế độ nạpĐai đạn 250 viên[4]

PM M1910 (tiếng Nga: Пулемёт Максима на станке Соколова, Pulemyot Maxima na stanke Sokolova) hoặc Maxim M1910 ("Maxim's machine gun model 1910 on Sokolov's mount") là mẫu súng máy hạng nặng danh tiếng được quân đội Đế quốc Nga sử dụng trong Thế Chiến 1, sau đó là các phe bao gồm Hồng quân, Bạch quân, Lục vệ trong Nội chiến Nga, và rồi được Quân đội Liên Xô sử dụng trong Thế Chiến 2. Sau đó lại được sử dụng trong Chiến tranh Triều TiênChiến tranh Việt Nam, và hiện đang sử dụng trong Chiến tranh Nga - Ukraina 2022.

Lịch sử

[sửa | sửa mã nguồn]

Nó được thông qua trong biên chế của quân đội Nga Hoàng từ tháng 8 năm 1910. Đến tháng 11 năm đó, nó chính thức được đưa vào sản xuất. PM M1910 sử dụng đạn 7.62×54mmR của súng trường Mosin-Nagant. PM M1910 được lắp ráp trên bệ gồm hai bánh xe với một khiên chắn phía trước.[5]

Trong giai đoạn 1918–1920, 21,000 khẩu Maxim M1910 được sản xuất tại nước Nga Xô Viết cho Hồng quân.[4] Sau khi nội chiến Nga kết thúc vào năm 1923 thì Hồng Quân lại tiếp tục duy trì việc sử dụng và sản xuất hàng loạt loại súng này. Đến năm 1930, theo xu thế hiện đại hóa thì Hồng Quân thành lập một ủy ban chuyên làm nhiệm vụ hiện đại hóa vũ khí, trang bị đã có sẵn nhằm nâng cao tuổi thọ và thời gian phục vụ trong biên chế.[5] PM 1910, súng trường Mosin, súng ổ quay Nagant M1895 cũng được hiện đại hóa. Hồng Quân ra sức tìm kiếm những mẫu súng máy khác mới hơn, tốt hơn, hiện đại hơn để thay thế khẩu súng này từ cuối những năm 1930 nhưng gần như là vô vọng. Sau đó, phiên bản hiện đại hóa M1910/30 được đưa vào biên chế.[5] M1910/30 có thể được trang bị cùng với kính ngắm quang học.[6] Vào năm 1941, khẩu súng được hiện đại hóa một lần nữa.[5] Vào tháng 5 năm 1942, một mệnh lệnh được ban hành để bắt đầu phát triển một loại súng máy mới nhằm thay thế Maxim M1910/30. Ngày 15 tháng 5 năm 1943, súng máy SG-43 chính thức được đưa vào trang bị, và từ mùa hè năm 1943, các khẩu Maxim bắt đầu được thay thế trong quân đội Liên Xô bằng SG-43, vốn vẫn giữ kiểu giá súng có bánh xe và tấm chắn. Tuy nhiên, việc sản xuất Maxim chỉ thực sự chấm dứt vào năm 1945.[5]

Ngoài phiên bản bộ binh tiêu chuẩn, Maxim còn có các biến thể dùng cho máy bay và hải quân. Một số khẩu được trang bị nắp két nước kiểu xe kéo trên áo nước, cho phép nhét tuyết vào để tan chảy trong khi bắn, giúp duy trì khả năng làm mát.

Sau Chiến tranh Thế giới thứ hai, Maxim dần bị loại khỏi biên chế chính thức, nhưng vẫn được viện trợ và sử dụng với số lượng nhất định trong Chiến tranh Triều TiênChiến tranh Việt Nam.

Hình ảnh

[sửa | sửa mã nguồn]

Các biến thể

[sửa | sửa mã nguồn]

Đế quốc Nga

[sửa | sửa mã nguồn]
  • Maxim M1905 — Phiên bản thời kỳ đầu được Quân đội Đế quốc Nga áp dụng, các khẩu trước năm 1905 được sản xuất bởi công ty Vickers, Sons & Maxim tại Anh.
  • Maxim M1910 — Phiên bản Maxim dựa trên Maxim–Vickers Model 1906, có áo nước dạng gân sóng.
  • Maxim M1910/30 — Phiên bản cải tiến của Maxim M1910, nâng cấp một số chi tiết để phù hợp tiêu chuẩn mới trong thập niên 1930.
  • Maxim–Tokarev — Biến thể súng máy hạng nhẹ làm mát bằng không khí, phát triển từ M1910.
  • PV-1 — Phiên bản Liên Xô làm mát bằng không khí của M1910, dùng để lắp trên máy bay.
  • Esiunin Phiên bản nâng cấp bắn đạn 13mm, được dựa trên súng máy MG 18 TuF của Đức.
  • Maxim M/09-09 — Phiên bản Maxim được sản xuất và sử dụng tại Phần Lan, dựa trên mẫu M1910.
  • Maxim wz. 1910 — Phiên bản Maxim M1910 của Ba Lan.[9]
  • Maxim wz. 1910/28 — Phiên bản Ba Lan chuyển đổi Maxim wz. 1910 sang cỡ đạn 7,92 mm Mauser.[9]

Các trận chiến sử dụng

[sửa | sửa mã nguồn]

1900 - 1920s

[sửa | sửa mã nguồn]
Chiến tranh thế giới thứ nhất
Cách mạng Nga
Nội chiến Nga
Chiến tranh giành độc lập Thổ Nhĩ Kỳ
Chiến tranh Ba Lan - Xô Viết
Nội chiến Phần Lan
Chiến tranh giành độc lập Estonia
Thời đại quân phiệt

1930 - 1990s

[sửa | sửa mã nguồn]
Cuộc nổi loạn Mäntsälä
Nội chiến Tây Ban Nha
Nội chiến Trung Quốc
Chiến tranh Trung – Nhật
Chiến tranh thế giới thứ hai
Chiến tranh Triều Tiên
Chiến tranh Việt Nam

2000 - nay

[sửa | sửa mã nguồn]

Nội chiến Syria

Chiến tranh Nga - Ukraina

Các nước sử dụng

[sửa | sửa mã nguồn]

Hiện tại

[sửa | sửa mã nguồn]

Trước đây

[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo

[sửa | sửa mã nguồn]
  1. ^ Fedoseyev 2010, tr. 40–46.
  2. ^ Forty 2024, tr. 81.
  3. ^ a b c PM M.1910 (quartermastersection).
  4. ^ a b c d e f g Пулемёты // Гражданская война и военная интервенция в СССР. Энциклопедия / редколл., гл. ред. С. С. Хромов. — 2-е изд. — М., «Советская энциклопедия», 1987. стр.490-491
  5. ^ a b c d e f g "На вооружении Советской Армии состояли станковые пулемёты Максима образца 1910, модернизированные в 1930 и 1941"
    Пулемёты // Великая Отечественная война 1941 - 1945. Энциклопедия. / редколл., гл. ред. М. М. Козлов. М., "Советская энциклопедия", 1985. стр.594-595
  6. ^ Описание пулемётного оптического прицела обр. 1930. Москва, Ленинград; Отдел Издательства Народного Комиссариата Обороны Союза ССР. 1951 г.
  7. ^ a b "MACHINEGUNS PART 1: 7,62 mm Maxim machineguns". jaegerplatoon.net. Finland. Truy cập ngày 6 tháng 7 năm 2025.
  8. ^ a b "Anti-Aircraft Machineguns". jaegerplatoon.net. Finland. Truy cập ngày 6 tháng 7 năm 2025.
  9. ^ a b c Andrzej Konstankiewicz. Broń strzelecka i sprzęt artyleryjski formacji polskich i Wojska Polskiego w latach 1914-1939. Warszawa, 2003. str.113
  10. ^ a b Zoria, Yuri (ngày 26 tháng 2 năm 2024). "WWI and WWII firearm relics still used in Russo-Ukrainian war". Euromaidan Press (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 9 tháng 10 năm 2025.
  11. ^ Lugosi, József (2008). "Gyalogsági fegyverek 1868–2008". In Lugosi, József; Markó, György. Hazánk dicsőségére: 160 éves a Magyar Honvédség. Budapest: Zrínyi Kiadó. p. 382-383. ISBN 978-963-327-461-3.
  12. ^ Out, Roger (tháng 5 năm 2005). "La mitrailleuse russe Maxim modèle 1910". Gazette des armes (bằng tiếng Pháp). Số 365. tr. 47.[liên kết hỏng]
  13. ^ Ермаков В. Ф. Из истории советско-чехословацкого боевого содружества // «Военно-исторический журнал», 1988, № 3. стр.11-16
  14. ^ Terry Gander, Peter Chamberlain. Enzyklopädie deutscher Waffen 1939–1945. Handwaffen, Artillerie, Beutewaffen, Sonderwaffen. Motorbuch Verlag, 2008.
  15. ^ Сведения штаба Московского военного округа о материальном обеспечении 1-й румынской пехотной дивизии, 1 апреля 1944 г. // Освободительная миссия Советских Вооружённых Сил в Европе во второй мировой войне: документы и материалы. М., Воениздат, 1985. стр.87-88
  16. ^ a b Kinard, Jeff (ngày 9 tháng 4 năm 2010). "Machine guns". Trong Tucker, Spencer C.; Pierpaoli, Paul G. Jr. (biên tập). The Encyclopedia of the Korean War: A Political, Social, and Military History. Quyển 1. A-L (ấn bản thứ 2). ABC-CLIO. tr. 535. ISBN 978-1-85109-849-1. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 11 năm 2018. Truy cập ngày 15 tháng 11 năm 2018.
  17. ^ Maxim M09/21 & M32/33 (mosinnagant.net).

Liên kết ngoài

[sửa | sửa mã nguồn]

Tư liệu liên quan tới PM M1910 tại Wikimedia Commons