Xe tăng hạng nhẹ

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Tăng Mỹ M8 armored gun system với 105 mm gun

Tăng hạng nhẹ là một trong các biến thể của xe tăng, đầu tiên được thiết kế cho việc di chuyển nhanh, và sau đấy chúng thường dùng trong việc trinh sát hoặc hỗ trợ cho lực lượng viễn chinh, lúc mà tăng chủ lực (MBT) chưa sẵn sàng. Những chiếc xe tăng hạng nhẹ đời đầu tiên thường được trang bị vũ khí và bọc giáp tương tự như một xe bọc thép, nhưng sử dụng bánh xích cho chiếc tăng này để có thể vượt địa hình cơ động hơn.

Sự nhanh nhẹn của những chiếc tăng hạng nhẹ là tính năng chính đã được quan tâm tới vào trước chiến tranh thế giới thứ hai, lúc đó nó được mong đợi là sẽ dùng để phá và xuyên thủng đội hình địch mà trước đó thường dành cho những chiếc tăng hạng trung và tăng hạng nặng làm. Một số lượng xe tăng nhỏ đã được thiết kế và làm nhỏ (nhẹ) lại, được phát triển khi đó và được biết tới với nhiều cái tên khác nhau như  "xe tăng siêu nhẹ".

Một vài loại tăng hạng nhẹ vẫn còn được sử dụng khi tăng chủ lực (MBT) phát triển và nó được dùng trong nhiều vai trò khác nhau như hỗ trợ không vận, lực lượng lội nước và trinh sát. Những kiếu xe nâng cấp của những xe chiến đấu bộ binh IFVs thì thường dùng trong vai trò lực lượng dự bị để trực tiếp sử dụng, rẻ hơn khi thay thế, phát triển và dàn trận một chiếc thuần tăng nhẹ.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Thế chiến thứ nhất[sửa | sửa mã nguồn]

Xe tăng hạng nhẹ Renault FT của quân đội Mỹ

Ý tưởng công nghiệp trong thế chiến thứ nhất đã dẫn đường cho sự mở rộng nhanh chóng. Ngành công nghiệp xe đã có được đa dạng về sản phẩm và có nhiều kinh nghiệm trong thiết kế xe cộ, năm 1916 đã thiết kế một chiếc thử nghiệm đầu tiên, một dòng sơ khai bởi người Anh. Xe tăng của Renault với thiết kế chiếc FT, đã tích hợp bánh xích, đó là chiếc tăng đầu tiên có tháp pháo có thể quay tròn hoàn toàn. Thực tế cho thấy, chiếc FT được xem như là chiếc xe tăng hiện đại đầu tiên thực thụ có được thiết kế chuẩn, hầu hết những thiết kế sau này đều được thiết kế theo mẫu đó: tài xế ở đầu xe; súng chính quay tròn hoàn toàn trên tháp pháo; máy phía sau. Những chiếc tăng trước đó là "tăng hộp" nó có một không gian duy nhất cho toàn bộ các bộ phận máy móc, kíp chiến đấu, đạn dược và buồng lái. Chiếc FT có số lượng lớn nhất trong cuộc chiến tranh với 3,700 chiếc được chế tạo (hầu hết vào năm 1918) nhiều hơn tất cả các xe tăng Anh quốc cộng lại.[1]

Giữa cuộc chiến[sửa | sửa mã nguồn]

Xe tăng hạng nhẹ Mk V của Anh
Xe tăng Type 95 Ha-Go tại New Britain sau khi là lính Nhật đầu hàng.

Chiếc tăng siêu nhẹ Carden Loyd và những chiếc tương tự đã được nuôi bởi một vài quốc gia như là một loại phương tiện bánh xích nhỏ có gắn súng cho chiến đấu. Năm 1928, Vickers Armstrong người Anh đã phát triển một chiếc tăng 6 tấn lấy từ một thiết kế của John Carden và Vivien Loyd. Mặc dù quân đội Anh quốc từ chối, một số lượng nhỏ đã được mua bởi nhiều quốc gia khác. Và nó đã làm nên sự hình thành của chiếc tăng T-26 (khoảng 10,000 chiếc) và tăng Ba Lan 7TP, có ảnh hưởng đến chiếc tăng Ý là Fiat M11/39. Quân đội Anh đã không sử dụng thiết kế tăng hạng nhẹ của họ nhưng họ dùng một phiên bản được phát triển của xe tăng siêu nhẹ Carden-Loyd làm tiền đề cho loạt xe tăng hạng nhẹ của mình mục đích dùng trong chính trị hoàng gia và viễn chinh. Khi chỉ có xe tăng đã phù hợp cho việc lắp ráp nhanh chóng, nó là nhân tố chính để nước Anh dẫn đầu cho việc mở rộng chiến tranh.[2]

Chung cuộc, xe tăng Pháp của những năm 1930 là phương tiện đột phá, vỏ giáp tốt và có một chút thiết kế của nước khác. Tuy nhiên, những chiếc tăng hạng nhẹ thường thiếu sức mạnh hỏa lực và hầu hết những chiếc tăng Pháp bất lợi bởi chỉ có một súng trên tháp pháo, cũng như lượng lớn những chiếc khác như the Char B, nó quá sức cho việc vừa chỉ đạo bên cạnh việc trực tiếp lái xe hoặc là việc hành quân với những chiếc khác và nhắm qua súng ở tháp pháo. Thiếu radio trên xe tăng hạng nhẹ đã không được xem như một thiếu sót chính yếu, cho đến khi nhận ra sự bất tiện của nó lúc kế hoạch sắp kết thúc đã có sự thay đổi vội vàng về vấn đề này. Một số nhỏ dẫn đầu đã được thực hiện theo kế hoạch, nó đã không chủ động trong chiến đấu. Năm 1939, một nỗ lực hơi muộn đã làm tăng được sự linh hoạt và số lượng của radio.

Xuyên suốt giai đoạn giữa cuộc chiến, nước Mỹ chỉ sản xuất vài trăm chiếc xe tăng. Từ chiến tranh thế giới thứ nhất tới năm 1935, chỉ 15 chiếc được chế tạo. Hầu hết là dẫn theo hay thiết kế nước khác hoặc nghèo nàn trong việc tự chế tạo về thiết kế và vật liệu. Thiết kế Christie tốt hơn trong một vài điểm nhưng quân đội Mỹ đã thu được chỉ có 3 chiếc Christie và không theo đuổi ý tưởng này xa hơn. Hạn chế về ngân sách và mức ưu tiên thấp cho quân đội làm giảm bớt tài nguyên để chế xe tăng. Quân đội Mỹ đã phát triển và thử nghiệm những bộ phận như hộp số, bánh xích, và hệ thống truyền động. Những hoạt động này được trả hết khi khởi xướng vào lúc mở rộng cuộc chiến.

Thế chiến thứ hai[sửa | sửa mã nguồn]

Tăng hạng nhẹ của Đức Panzer I trong cuộc xâm lược Nauy

Tăng BT của Liên Xô có thiết kế tốt nhất trong những năm 1930, rất nhanh và gắn pháo tốc hành 45 mm. Hạn chế duy nhất là động cơ xăng thường dễ dàng bắt lửa trong trận đánh Nomonhan nó đã trải qua từ tháng 5 tới tháng 9 năm 1939. Tăng hạng nhẹ của Nhật Type 95 Ha-Go được trang bị động cơ diesel và cũng gắn một khẩu pháo 37 mm, nó có tốc độ bắn châm với vùng hiệu quả khoảng 700 mét. Tuy nhiên, những cuộc xung đột này góp phần vào sự phát triển của chiếc tăng hạng trung T-34 nổi tiếng.

Lực lượng thiết giáp của Đức là Panzer đã không thực sự nổi bật lúc bắt đầu cuộc chiến. Trong cuộc xâm lược Ba LanPháp, quân Đức đã hầu như chỉ có tăng hạng nhẹ Panzer IPanzer II. Chiếc Panzer I chỉ nhỏ hơn một chiếc xe thiết giáp một chút và chỉ có súng máy, Panzer II có pháo 20 mm. Dòng Panzer cũng chia ra vài loại bao gồm những thiết kế tăng nhẹ của Tiệp Khắc - Panzer 35(t) và Panzer 38(t).

Bên phía người Mỹ, dòng tăng hạng nhẹ M2 là quan trọng nhất. Những chiếc tăng này có động cơ tin cậy với sự cơ động tốt. Tuy nhiên nó có cái bóng cao và chỉ một vài bị phát hiện trong chiến đấu. Những chiếcM3 Stuart là dòng được cải tiến từ M2 với giáp tốt hơn và pháo 37 mm. Chiếc tăng hạng trung mới được sản xuất vào năm 1940 là M2A1. Nhìn chung xe tăng Mỹ có thiết kế kém với giáp mỏng và quá cao. 

Chiếc M3 Stuart được sử dụng ở mặt trận Bắc Phi nhưng nó đã xuống hạng trở thành trinh sát sớm bởi vì tăng hạng trung bắt đầu sử dụng. Xa hơn, sự phát triển của tăng hạng trung trong chiến tranh bao gồm M24 Chaffee.

Người Anh rút lại những chiếc xe tăng hạng nhẹ từ lực lượng thiết giáp của mình sớm trong trận chiến, nhưng họ lại sử dụng một vài thiết kế sau này cho hành quân lội nước và hoạt động không vận. Nhìn chung, họ sử dụng xe thiết giáp cho hoạt động tình báo và thiết kế tăng nhẹ cuối cùng, chiếc Mk VIII "Harry Hopkins" đã được sản xuất với số lượng nhỏ.

Người Nhật mở rộng việc sử dụng tăng nhẹ tốt hơn nhiều khi nguỵ trang hợp lý trong chiến tranh ở rừng rậm hơn những thiết kế lớn.

Chiến tranh lạnh[sửa | sửa mã nguồn]

 Xe tăng hạng nhẹ M41 Walker Bulldog của Việt Nam Cộng hòa trong một cuộc tập trận.

Tăng hạng nhẹ tiếp tục được chế tạo nhưng với số lượng rất giới hạn đóng vai trò lội nước trinh sát, hỗ trợ những đơn vị không quân và lực lượng phản ứng nhanh, không dùng để đối mặt với kẻ thù. Tăng Liên Xô PT-76 là loại tăng nhẹ chuyên dụng dùng để lội nước với đầy đủ sức mạnh hoả lực để đương đầu với những phương tiện trinh sát khác. Phía Mỹ đã bày ra một số nhỏ những chiếc M41 Walker Bulldog với pháo tốc hành 76 mm và vỏ giáp tốt hơn, nhưng nó bị giới hạn về tầm bắn và quá nặng cho không vận. Chiếc M551 Sheridan của Mỹ có sức mạnh và điểm yếu tương tự nhưng cũng có thể thả dù và hệ thống dù tầm thấp (LAPES).

Tăng FV101 Scorpion, một dòng biến thể về hoả lực của xe chiến đấu trinh sát có bánh xích, nó thay thế cho xe thiết giáp phục vụ trong nước Anh đã được mô tả là loại tăng hạng nhẹ và được bán đến nhiều nước nhỏ hơn.

Sau chiến tranh lạnh[sửa | sửa mã nguồn]

Tăng hạng nhẹ như PT-76 tiếp tục chơi một vai trò nhỏ trong chiến tranh xe tăng, mặc dù nhiều chiếc đang mất dần, những chiếc xe bọc thép nhẹ, rẻ và nhanh hơn được ưa chuộng. Tăng hạng nhẹ vẫn dùng để lấp vào một vị trí quan trọng trong nhiều đội quân, đặc biệt với những quốc gia với lực lượng không quân không có tài nguyên và tài chính cho tăng chủ lực (MBT). Nó góp phần quan trong hơn xe tăng hạng nặng ở đông nam Á và nhiều quốc gia trong khu vực xích đạo. Kích cỡ của tăng hạng nhẹ cho phép di chuyển qua rừng rậm nhiệt đới và trọng lượng thấp giảm hẳn nguy cơ mắc trong bùn. Điều này làm cho tăng hạng nhẹ được khuyên dùng cho hỗ trợ bộ binh trong những quốc gia vùng xích đạo. Tăng hạng nhẹ hậu chiến tranh lạnh gồm có Stingray và M8 AGS, và tăng hạng nhẹ dựa trên những xe bọc thép bộ binh như CV90120T, 2S25 Sprut-SD và ASCOD LT 105. Với xu hướng gần đây là nhỏ và nhẹ hơn trong những phương tiện nhiều chức năng, một vài quốc gia đã bắt đầu thử nghiệm với tăng hạng nhẹ như trường hợp tăng Ba Lan PL-01.

Thiết kế tăng hạng nhẹ hiện đại[sửa | sửa mã nguồn]

Phòng thủ[sửa | sửa mã nguồn]

Thông thường, giáp bọc trong những loại tăng cùng loại thì có tiêu chuẩn như nhau, thỉnh thoảng dày hơn ba lần.[3]

Vỏ ngoài hình dẹt là rất cần thiết để tăng lội nước và lướt qua mặt phẳng của nước không bị lún với vỏ giáp hình chữ V.[4] Điều này được đưa vào chế tạo vỏ giáp ngang bụng có thể áp dụng trên những chiếc tăng trước khi nó di chuyển lên bờ và trước khi trạm trán với vật nổ.[5]

Một ví dụ của xe tăng hiện đại, the Polish PL-01

Vũ khí[sửa | sửa mã nguồn]

Tên lửa bắn ra từ một chiếc M551 Sheridan

Pháo đủ khả năng để đánh hạ một chiếc xe tăng hiện đại ở phạm vi hợp lý cần một phương tiện lớn để chuyên chở nó. Trọng lượng của pháo được đặc trưng bởi loại đạn và tốc độ rời nòng. Pháo cỡ đạn lớn trên tăng hạng nhẹ thường làm giảm vận tốc rời nòng của đạn và tăng trọng lượng xe tăng. Pháo loại này có hiệu quả chống lại những mục tiêu cận chiến nhưng thiếu sức mạnh và độ chính xác để gây hiệu quả lên những phương tiện nặng hơn đến từ xa. Thay vào đó, pháo tốc độ cao nòng dài hơn thường giảm số lượng đạn và kích cỡ nhằm tiết kiệm trọng lượng. Những pháo loại này thường thiếu sức phá để vô hiệu hoá đối thủ

Tính cơ động[sửa | sửa mã nguồn]

Thiết kế của PT-76 cho phép nó dễ dàng di chuyển trên bộ xuống nước với một vài chuẩn bị nhỏ
Máy bay A C-130 vận chuyển một chiếc M551 Sheridan (hiện tại không còn dùng) sử dụng hệ thống dù thấp (LAPES).
Di chuyển chiến thuật

Một vài loại tăng hạng nhẹ như PT-76 có khả năng lội nước, đặc trưng khi vận hành trên nước là hệ thống phun nước hoặc bởi bánh xích của nó. Hầu hết xe tăng lội nước có trọng lượng thấp và thường dùng nhôm hợp kim làm vỏ giáp. Vài loại không cần điều chỉnh để vượt sông. Người lái chỉ đơn giản kéo tấm chặn bên hông, đậy nắm và mở bơm đáy, lên số cho truyền động qua nước. Thường, một cánh van được dựng lên để chặn nước khỏi ngập vào nắp. 

Di chuyển chiến lược

Một vài loại tăng hạng nhẹ như xe trinh sát bọc thép M551 Sheridan, có thể điều chỉnh cho tốc độ thả dù chậm từ máy bay chuyên chở.[6] Với cách này, chiếc tăng được kéo thả bằng bộ phanh máng của máy bay và trượt tới điểm dừng. Tổ lái không ngồi trong xe tăng trong khi thả, nhưng nhảy dù từ một máy bay khác. Khi đáp, họ lên xe tăng và tháo dây, lái nó.

Ảnh hưởng[sửa | sửa mã nguồn]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ By comparison the French built about 800 medium and heavy tanks in total.
  2. ^ Harris, J.
  3. ^ John Pike (ngày 27 tháng 4 năm 2005). “M8 Armored Gun System”. Globalsecurity.org. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2010. 
  4. ^ JSF Not Too Hot For Carriers
  5. ^ RS22947 The Marines Expeditionary Fighting Vehicle (EFV): Background and Issues for Congress
  6. ^ “M551 Armored Reconnaissance/Airborne Assault Vehicle”. Gary's Combat Vehicle Reference Guide. Inetres.com. Truy cập ngày 31 tháng 3 năm 2010.