Võ Dinh

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
VÕ DINH
Tiểu sử
Sinh 28 tháng 6, 1929 (88 tuổi]]
Thừa Thiên, Việt Nam
Binh nghiệp
Phục vụ Flag of South Vietnam.svg Việt Nam Cộng hòa
Thuộc Flag of the South Vietnamese Army.jpg Quân lực VNCH
Năm tại ngũ 1950-1975
Cấp bậc US-O7 insignia.svg Chuẩn tướng
Đơn vị Fatherland - Space.png Không quân
Chỉ huy Flag of France.svg QĐ Liên hiệp Pháp
Flag of the Vietnamese National Army.svg Quân đội Quốc gia
Flag of the South Vietnamese Army.jpg Quân lực VNCH
Tham chiến Chiến tranh Việt Nam

Võ Dinh (1929), nguyên là một tướng lĩnh Không Quân của Quân lực Việt Nam Cộng hòa, cấp bậc Chuẩn tướng. Ông xuất thân từ trường Võ bị Liên quân do Chính phủ Quốc gia Việt Nam được Quân đội Pháp hỗ trợ mở ra ở nam Cao nguyên Trung phần Việt Nam trên cơ sở cũ của trường Võ bị Liên quân Viễn Đông của Quân đội thuộc địa Pháp. Sau khi tốt nghiệp, ông trúng tuyển vào Quân chủng Không quân và đã phục vụ ở đơn vị này cho đến ngày cuối tháng 4 năm 1975.

Tiểu sử & Binh nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Ông sinh ngày 28 tháng 6 năm 1929 tại Thừa Thiên, miền Trung Việt Nam, trong một gia đình thuộc một gia tộc khoa cử đã có mấy đời làm quan dưới triều Nhà Nguyễn. Ông học phổ thông tại Huế. Năm 1949, ông tốt nghiệp Trung học chương trình Pháp tại trường Quốc học Huế với văn băng Tú tài toàn phần (Part II).

Quân đội Liên hiệp Pháp[sửa | sửa mã nguồn]

Cuối tháng 9 năm 1950, thi hành lệnh động viên, ông nhập ngũ vào Quân đội Liên hiệp Pháp, mang số quân: 49/600.095. Theo học khóa 3 Trần Hưng Đạo tại trường Võ bị Liên quân Đà Lạt, khai giảng ngày 1 tháng 10 năm 1950. Ngày 25 tháng 6 năm 1951 mãn khóa tốt nghiệp với cấp bậc Thiếu úy hiện dịch. Sau khi ra trường, ông được tuyển chọn vào Quân chủng Không quân, theo học khóa 1 Hoa tiêu Quan sát tại Trung tâm Huấn luyện Không quân Nha Trang, khai giảng ngày 30 tháng 3 năm 1952.[1]

Quân đội Quốc gia Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Đầu tháng 12 năm 1952, mãn khóa học Không quân, ra trường ông chuyển sang Phục vụ Quân đội Quốc gia, về phục vụ tại Ban Không quân trong Bộ Tổng tham mưu. Cuối tháng, ông được thăng cấp Trung úy tại nhiệm. Đầu tháng 7 năm 1953, ông được thăng cấp Đại úy tại nhiệm, Sau đó ông chuyển ra Duyên hải miền Trung, được cử làm Chỉ huy trưởng Phi đoàn 2 Quan sát và Trợ chiến tại Nha Trang. Đầu năm 1954, ông được lệnh bàn giao Phi đoàn 2 lại cho Trung úy Nguyễn Văn Lượng.

Quân đội Việt Nam Cộng hòa[sửa | sửa mã nguồn]

Đầu năm 1955, ông được cử đi du học và tốt nghiệp khóa Tham mưu tại Trường Tham mưu Paris, Pháp. Sau đó theo học khóa Bổ túc Hoa tiêu tại Căn cứ Huấn luyện Không quân Marrakech, Maroc. Tháng 7 cùng năm, mãn khóa về nước chuyển phục vụ cơ cấu mới là Quân đội Việt Nam Cộng hòa, ông được thăng cấp Thiếu tá và giữ chức vụ Chỉ huy trưởng căn cứ Không quân Chiến thuật số 1 ở Nha Trang. Đầu năm 1956, ông chuyến về làm Chỉ huy trưởng căn cứ Trợ lực Không quân số 2 ở Biên Hòa do Không quân Pháp chuyển giao. Giữa năm 1957, ông được cử đi du học và tốt nghiệp khóa Thực tập Chỉ huy tại Clarkfield căn cứ Không quân Hoa Kỳ ở Phi Lật Tân. Tháng 11 cùng năm, ông được cử làm Chỉ huy trưởng căn cứ Trợ lực Không quân số 4 ở Đà Nẵng do Không quân Pháp chuyển giao.

Giữa năm 1958, ông được cử đi du học và tốt nghiệp khóa Chỉ huy Tham mưu cao cấp tại trường Chỉ huy và Tham mưu Fort Leavenworth, Tiểu bang Kansas, Hoa Kỳ. Đầu năm 1959, ông được thăng cấp Trung tá giữ chức vụ Phụ tá Thanh tra tại Bộ Tư lệnh Không quân. Cùng năm ông được cử đi học và tốt nghiệp khóa Chiến tranh Chính trị cao cấp do Nha Tâm lý chiến tổ chức tại Sài Gòn. Đầu năm 1960, ông được chỉ định làm Tham mưu phó Chiến tranh Chính trị tại Bộ Tư lệnh Không quân. Cuối năm, ông được cử đi du học và tốt nghiệp khóa Cao đẳng Quốc phòng tại Monterey, Tiểu bang California, Hoa Kỳ. Tháng 2 năm 1961 về nước, ông giữ chức vụ Tham mưu phó Nhân viên tại Bộ Tư lệnh Không quân.

Ngày Quốc khánh Đệ Nhị Cộng hòa 1 tháng 11 năm 1967, ông được thăng cấp Đại tá tại nhiệm, Sau đó giữ chức Tham mưu trưởng tại Bộ Tư lệnh Không quân thay thế Đại tá Võ Xuân Lành lên làm Tư lệnh phó Quân chủng Không quân.

Ngày Quốc khánh 1 tháng 11 năm 1972, ông được thăng cấp Chuẩn tướng tại nhiệm và ở chức vụ Tham mưu trưởng Không quân cho tới cuối tháng 4 năm 1975.

1975[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 30 tháng 4, ông di tản ra khỏi Việt Nam. Sau đó sang định cư tại Corona, Tiểu bang California, Hoa Kỳ.

Gia tộc và Gia đình[sửa | sửa mã nguồn]

  • Ông nội: Cụ cố Võ Liêm (nguyên Thượng thư Bộ Lễ dưới 2 triều Vua Khải Định và Bảo Đại)
  • Bá phụ: Cụ Võ Chuẩn (nguyên giữ chức Quản đạo Kontum và Tổng đốc Quảng Nam dưới triều Vua Bảo Đại)
  • Thân phụ: Cụ Võ Trị (nguyên là một nhà Nho học uyên thâm)
  • Bào đệ: Ông Võ Quế (nguyên Đại tá Không đoàn trưởng Không đoàn Yểm cứ thuộc Sư đoàn 6 Không quân Việt Nam Cộng hòa)
  • Tướng Dinh là em thúc bá với ông Võ Sum (nguyên Đại tá Hải quân Việt Nam Cộng hòa) và nữ thi sĩ Minh Đức Hoài Trinh (Võ Thị Hoài Trinh). Hai vị này là con của cụ Võ Chuẩn.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Sĩ quan và khóa sinh Dân chính theo học khóa 1 Hoa tiêu Quan sát cùng với Thiếu úy Võ Dinh tại Nha Trang:
    - Thiếu úy Nguyễn Ngọc Oánh (Tốt nghiệp Võ bị Đà Lạt K3. Sau cùng là Chuẩn tướng Chỉ huy trưởng Trung tâm Huấn luyện Không quân Nha Trang)
    - Thiếu úy Từ Bộ Cam (sinh năm 1926 tại Quảng Nam. Tốt nghiệp Võ bị Đà Lạt K3. Sau cùng là Đại tá phục vụ trong Bộ Tư lệnh Không quân)
    - Dương Thiệu Hùng (sinh năm 1930 tại Hà Nội. Sau cùng là Đại tá Tư lệnh Không đoàn 41)
    - Phạm Long Sửu (sinh năm 1925 tại Hà Nội. Sau cùng là Đại tá Giám đốc Hàng không Việt Nam Cộng hòa)
    - Vũ Văn Ước (sinh năm 1930 1930 tại Hà Đông. Sau cùng là Đại tá Chỉ huy trưởng Bộ chỉ huy Hành quân tại Bộ Tư lệnh Không quân).

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Trần Ngọc Thống, Hồ Đắc Huân, Lê Đình Thụy (2011). Lược sử Quân lực Việt Nam Cộng hòa.