Phạm Phú Quốc

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
PHẠM PHÚ QUỐC
Dt phamphuquoc.jpg
Cố Đại tá Phạm Phú Quốc
Tiểu sử
Sinh

20 tháng 10, 1935(1935-10-20)

Đà Nẵng,Việt Nam
Mất

19 tháng 4, 1966 (30 tuổi)

Hà Tĩnh, Việt Nam
Binh nghiệp
Phục vụ Flag of South Vietnam.svg Việt Nam Cộng hòa
Thuộc Flag of the South Vietnamese Army.jpg Quân đội VNCH
Năm tại ngũ 1954-1965
Cấp bậc TrungTaKQVNCH.jpg Trung tá Không quân
Đơn vị Fatherland - Space.png Không đoàn 23 CT[1]
Chỉ huy Flag of the South Vietnamese Army.jpg Quân đội VNCH
Tham chiến Chiến tranh Việt Nam
Khen thưởng B.quốc H.chương đệ V [2]

Phạm Phú Quốc (1935-1965), nguyên là một sĩ quan cao cấp của Quân chủng Không quân thuộc Quân lực Việt Nam Cộng hòa. Ông xuất thân từ trường Võ bị Không quân Pháp tại một nước Thuộc địa của Pháp ở Bắc Phi. Ông là một trong hai sĩ quan Hoa tiêu Khu trục cơ[3] đánh bom Dinh Tổng thống Việt Nam Cộng hòa vào Ngày 27/2/1962 nhằm ám sát Tổng thống Ngô Đình Diệm và Cố vấn Ngô Đình Nhu. Năm 1965, khi đang là Trung tá Tư lệnh một Không đoàn Chiến thuật. Trong một phi vụ do ông chỉ huy (gồm 18 khu trục cơ) bay ra đánh bom xuống các tỉnh thuộc miền Bắc. Máy bay của ông bị rơi do trúng đạn phòng không của đối phương. Ông tử trận được truy thăng Đại tá.

Tiểu sử và Binh nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Ông sinh ngày 20 tháng 10 năm 1935 tại Đà Nẵng, miền Trung Việt Nam, trong một gia đình khá giả. Nguyên quán của ông ở làng Đông Bàn, huyện Diên Phước (phủ Điện Bàn cũ), tỉnh Quảng Nam (nay là thôn Đông Bàn, xã Điện Trung, thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam). Thuở nhỏ, ông học Tiểu học tại Đà Nẵng. Khi lên Trung học, ông được gia đình cho về Sài Gòn học ở trường công lập Chasseloup-Laubat (về sau đổi tên là trường Trung học Lê Quý Đôn).[4] Năm 1954, ông tốt nghiệp Phổ thông Trung học với văn bằng Tú tài toàn phần (Part II). Sau đó, gia đình định cho ông sang Pháp để tiếp tục con đường học vấn nhưng vì quá ham thích máy bay nên ông xin cha mẹ cho ông được gia nhập quân đội.

Quân đội Quốc gia Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 15 Tháng 6 năm 1954, ông tình nguyện nhập ngũ vào Quân chủng Không quân. Ông được cho đi thụ huấn tại trường Huấn luyện sĩ quan Không quân của Pháp tại Marrakech thuộc Vương quốc Maroc, miền bắc Châu Phi. Đầu tháng 4 năm 1955, ông mãn khóa tốt nghiệp với cấp bậc Chuẩn úy phi công. Về nước ông phục vụ Quân đội Quốc gia và công vụ tại căn cứ Không quân Biên Hòa trong Phi đoàn máy bay Khu trục.

Quân đội Việt Nam Cộng hòa[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 11 năm 1957, sau hơn một năm chuyển sang phục vụ Quân đội Việt Nam Cộng hòa (cải danh từ Quân đội Quốc gia), ông được thăng cấp Thiếu úy. Đầu năm 1961, ông được đi tu nghiệp tại Hoa Kỳ, để tìm hiểu và lái các loại phi cơ thế hệ mới của Không lực Hoa Kỳ trong thời gian 6 tháng. Ngày Quốc khánh Đệ nhất Cộng hòa 26 tháng 10 năm 1961, ông được thăng cấp Trung úy và được của làm Trưởng phòng Hành quân của Phi đoàn 514 Khu trục cơ, trực thuộc Căn cứ 2 Trợ lực Không quân ở Biên Hòa.[5]

Dưới chế độ Tổng thống Ngô Đình Diệm, vì bất đồng chính kiến, nên vào ngày 27 tháng 2 năm 1962, ông cùng với bạn đồng đội là Trung úy Nguyễn Văn Cử, nhân một chuyến hành quân nhưng không thi hành nhiệm vụ mà quay về Sài Gòn để oanh tạc dinh Độc Lập (Nay là Dinh Thống Nhất), đánh sập một góc Dinh nhưng vị Tổng thống của chế độ đã may mắn thoát chết. Máy bay ông bị hỏa lực phòng không của Hải quân ở bến Bạch Đằng bắn trúng, ông phải đáp xuống sông Sài Gòn], gần một đồn bảo an vùng kho xăng Nhà Bè, ông bị bắt và bị giam cầm tại Đề lao Chí Hòa. Ngày 1 tháng 11 1963, cuộc Đảo chính Quân sự nổ ra khiến chế độ Ngô Tổng thống bị sụp đổ. Ông được quân đảo chính giải thoát khỏi nhà lao và được phục hồi quân ngũ với cấp bậc cũ. Đầu tháng 12 cuối năm, ông được thăng cấp Đại úy tại nhiệm. Sau đó, ông tiếp tục được đi du học về chuyên môn khóa Air Ground Operation School tại Okinawa, Nhật Bản cũng trong thời gian 6 tháng.

Hai chiếc máy bay của 2 Phi công Phạm Phú Quốc và Nguyễn Văn Cử trên sông Bạch Đằng, sau khi ném bom Dinh Độc Lập
Chiếc Khu trục cơ Skyrider của Phạm Phú Quốc bị bắn hạ trên sông Bạch Đằng
Dinh Độc Lập (Dinh Norodom) bị ném bom sập gần một nửa
Phạm Phú Quốc được trả tự do và được phục hồi quân ngũ

Đầu tháng 2 năm 1964, sau cuộc Chỉnh lý ngày 30/1/1964 của tướng Nguyễn Khánh, ông được thăng cấp Thiếu tá giữ chức vụ Chỉ huy phó Phi đoàn 514 trực thuộc Không đoàn 23[6] Cuối năm ông được lên giữ chức vụ Phi đoàn trưởng Phi đoàn 514. Đầu năm 1965, ông được đặc cách thăng cấp Trung tá và được bổ nhiệm làm Tư lệnh Không đoàn 23 Chiến thuật kiêm Chỉ huy trưởng Căn cứ Không quân Biên Hòa.

Nhiệm Vụ Cuối Cùng[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 19 tháng 4 năm 1965, ông bị gãy cánh trong một phi vụ Bắc phạt. Lúc đó là 15 giờ 04 phút, ông và đồng đội trong phi vụ này với nhiệm vụ đánh trục giao thông cách 10 cây số phía nam thị xã Vinh. Sau khi hoàn tất phi vụ, trên đường trở về thì Phi đội của ông đã đụng phải một Lực lượng Phòng không của quân đội đối phương. Súng cao xạ bắn lên dữ dội, một phi cơ trúng đạn phía đuôi thiệt hại nhẹ, phi cơ của ông lao vào lửa đạn để tìm mục tiêu, bị trúng đạn bốc cháy và rơi ngay trên vùng trời Hà Tĩnh. Ông tử trận, hưởng dương 30 tuổi.

Tại Bộ Tư lệnh Không quân và Bộ Tư lệnh Không đoàn 23 Chiến thuật đã tổ chức lễ truy điệu cho ông. Tại tư thất của gia đình ông ở Căn cứ Không quân Biên Hòa, Thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ, Chủ tịch Ủy ban Hành pháp Trung ương (Thủ tướng) kiêm Tư lệnh Quân chủng Không quân. Đứng trước di ảnh của ông, thay mặt cho Quốc gia và Quân lực Việt Nam Cộng hòa truy thăng cho ông cấp bậc Đại tá, đồng thời truy tặng cho ông Huân chương Bảo quốc đệ ngũ đẳng kèm Anh dũng Bội tinh với nhành Dương liễu.

Năm 1997, hài cốt của ông được người chị ruột là bà Phạm Thị Xuân Cơ (Đông Hải), cải táng từ Hà Tĩnh đem về chôn tại khuôn viên chùa Phước Lâm ở thành phố Hội An, Quảng Nam.

Chiến Công[sửa | sửa mã nguồn]

Cố Đại tá Phạm Phú Quốc trong thời gian tại ngũ đã vang danh với những chiến công mang vinh quang về cho Quân đội Việt Nam Cộng hòa nói chung và cho Không lực Việt Nam Cộng hòa nói riêng. Tiêu biểu là ngày 6 tháng 6 năm 1959, trong cuộc không kích vào vùng Tân Phú, tỉnh Kiến Phong, ông đã khéo léo điều khiển phi tuần càn quét toán loạn quân và gây thiệt hại nặng nề cho đối phương. Ngày 28 tháng 3 năm 1961, trong cuộc hành quân tại rừng Cao Lãnh, ông đã oanh kích các mục tiêu của địch một cách hiệu quả, giúp cho đơn vị bạn tiêu diệt hoàn toàn các cứ điểm của địch quân. Ngoài ra ông còn lập được nhiều chiến công hiển hách khác.

Huy chương[sửa | sửa mã nguồn]

- Đệ ngũ đẳng Bảo quốc Huân chương (truy tặng)
- Anh dũng Bội tinh với nhành Dương liễu (truy tặng)
- 1 Anh dũng Bội tinh với ngôi sao vàng
- 5 Anh dũng bội Tinh với ngôi sao bạc
- 2 Anh dũng Bội tinh với ngôi sao đồng
- Phi dũng Bội tinh với cánh chim vàng
- Đệ nhị Không lực Huy chương
- 12 lần được tuyên dương công trạng và nhiều lần khen thưởng.

Hình tượng trong thơ và nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

Nhà văn Triệu Vũ từng viết một văn tế Phạm Phú Quốc. Cùng thời gian đó, Nhạc sĩ Phạm Duy viết nhạc phẩm "Huyền sử ca một người mang tên Quốc" để tưởng nhớ ông.

Gia tộc và Gia đình[sửa | sửa mã nguồn]

  • Cụ Cố Nội: Cụ Phạm Phú Thứ[7] (1821-1882), nguyên là quan Đại thần dưới triều nhà Nguyễn thời vua Tự Đức.
  • Thân phụ: Cụ Phạm Phú Phò (nguyên là một thương gia thành đạt và nổi danh trên thương trường tại Đà Nẵng vào thập niên 30-40 ở thế kỷ 20)
  • Cố Đại tá Phạm Phú Quốc có vợ và một con trai, ngày ông tử trận, vợ ông đang mang thai con trai đầu lòng được 3 tháng. Trước năm 1975 bà và con trai đã di tản sang Mỹ. Con trai ông, Phạm Phú Phi hiện nay là Bác sĩ khoa Thẩm mỹ ở Hoa Kỳ.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Không đoàn 23 Chiến thuật đồn trú tại căn cứ Không quân Biên Hòa thuộc Quân khu 3. Năm 1970 cùng với Không đoàn 43 và 63 Chiến thuật trở thành Sư đoàn 3 Không quân, phối thuộc Bộ Tư lệnh Quân đoàn III và Quân khu 3.
  2. ^ Bảo quốc Huân chương đệ ngũ đẳng (truy tặng).
  3. ^ Người thứ hai là Trung úy Nguyễn Văn Cử (sinh năm 1934, cấp bậc sau cùng là Thiếu tá Không quân. Sau 1975 định cư ở Hoa Kỳ. Từ trần năm 2013).
  4. ^ Thời gian còn là học sinh, ông rất đam mê về máy bay, bao nhiêu tiền mẹ ông cho để ăn qufa, ông đều dành để gởi mua tận bên Pháp các sách kỹ thuật dạy cách chế tạo các loại máy bay nhỏ (tạp chí Mécanique Populaire), lắp ráp đem ra thực dụng trên bầu trời thuộc Sân bay Tân Sơn Nhất bây giờ.
  5. ^ Vào thời điểm này, Không quân Việt Nam Cộng hòa mới chỉ có 2 Phi đoàn Trợ lực Không quân: Phi đoàn 514 ở Biên Hòa và Phi đoàn 516 ở Nha Trang.
  6. ^ Năm 1962, các đơn vị Không quân tác chiến và Yểm trợ tác chiến của Không lực Việt Nam Cộng hòa được nâng lên cấp Không đoàn và bố trí đều trên 4 Quân khu:
    - Quân khu 1: Không đoàn 41 Chiến thuật (Đà Nẵng).
    - Quân khu 2: Không đoàn 62 Chiến thuật (Pleiku).
    - Quân khu 3: Không đoàn 23 Chiến thuật (Biên Hòa) và Không đoàn 33 Vận tải (Tân Sơn Nhất)
    - Quân khu 4: Không đoàn 74 Chiến thuật (Cần Thơ).
  7. ^ Cụ Phạm Phú Thứ, nguyên gốc là họ Đoàn của cụ Tổ Đoàn Thế Thân, đến đời ông Nội của cụ cải sang họ Phạm.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Trần Ngọc Thống, Hồ Đắc Huân, Lê Đình Thụy (2011). Lược sử Quân lực Việt Nam Cộng hòa.