Phạm Phú Quốc

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Cố Đại Tá Phạm Phú Quốc, Anh Hùng Không Lực Việt Nam Cộng Hòa

Phạm Phú Quốc (1935-1965) là một trong hai phi công Quân lực Việt Nam Cộng hòa (cùng với Nguyễn Văn Cử) đánh bom dinh tổng thống Việt Nam Cộng hòa vào năm 1962 nhằm ám sát Tổng thống Ngô Đình Diệm và cố vấn Ngô Đình Nhu.

Cuộc đời[sửa | sửa mã nguồn]

Phạm Phú Quốc sinh năm 1935, gốc làng Đông Bàn, phủ Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam, là cháu gọi ông Phạm Phú Thứ là cố bác, một đại thần triều nhà Nguyễn và là con của ông Phạm Phú Phò (một doanh nhân rất thành công và nổi tiếng trên thương trường tại đất Đà Nẵng trong thập niên 1930-1940), (gốc họ Đoàn của cụ tổ Đoàn Thế Thân).

Thưở nhỏ, Quốc học tại trường Chasseloup-Laubat (bây giờ là trường Lê Quý Đôn). Thời gian còn là học sinh, Quốc rất đam mê về máy bay, bao nhiêu tiền mẹ ông cho để ăn quà, Quốc đều dành để gởi mua tận bên Pháp các sách kỹ thuật dạy cách chế tạo các loại máy bay nhỏ (tạp chí Mécanique populaire) lắp ráp đem ra thực dụng trên bầu trời thuộc Tân Sơn Nhất bây giờ.

Sau khi thi tốt nghiệp trung học, gia đình định cho Quốc sang Pháp để tiếp tục con đường học vấn, nhưng Quốc cũng vì quá ham thích máy bay nên xin gia đình được đầu quân vào binh chủng không quân.

Sau đó Quốc được gởi sang học lái máy bay chiến đấu tại một trường huấn luyện của Pháp tại Marrakech thuộc Maroc, và đã tốt nghiệp với bằng cấp chuẩn úy phi công.

Dưới chế độ Ngô Đình Diệm, vì bất đồng chính kiến,vào ngày 27-2-1962 trung úy phi công Phạm Phú Quốc cùng với bạn đồng đội là thiếu úy Nguyễn Văn Cử, nhân một chuyến hành quân nhưng không thi hành nhiệm vụ mà quay về Sài Gòn để oanh tạc dinh Độc Lập (bây giờ là dinh Thống Nhất) đánh sập một góc dinh nhưng vị tổng thống của chế độ đã may mắn thoát chết. Máy bay Quốc bị phòng không của hải quân ở bến Bạch Đằng bắn trúng, Quốc phải đáp xuống sông Sài Gòn, gần một đồn bảo an vùng kho xăng Nhà Bè và bị bắt giam cầm cho đến năm 1963 thì chế độ Ngô Đình Diệm bị sụp đổ, quân đảo chính giải thoát và phục hồi quân ngũ cho Quốc, thăng dần lên làm tới chức trung tá và được cử làm chỉ huy trưởng căn cứ không quân Biên Hòa.

Hai chiếc máy bay của Phạm Phú Quốc và Nguyễn Văn Cử sau khi oanh tạc dinh Độc Lập trên sông Bạch Đằng
Máy Bay SkyRider của Trung Tá Phạm Phú Quốc bị bắn hạ trên sông Bạch Bằng
Dinh Độc Lập (Dinh Norodom) bị dội bom sập gần 1 nữa
Được trao trả tự do và phục hồi quân hàm

Vào năm 1965, Quốc bị tử trận khi bay từ Đà Nẵng ra đánh phá đường giao thông vùng Hà Tĩnh.

Nhiệm Vụ Cuối Cùng[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 19-4-1965 trung tá Phạm Phú quốc gãy cánh trong một phi vụ Bắc phạt,cách thị xã Vinh về phía đông nam 10 km. Lúc đó là 15 giờ 04 phút. Trung tá Quốc trong phi vụ này với nhiệm vụ đánh trục giao thông cách 10 cây số phía nam thành phố Vinh. Sau khi hoàn tất phi vụ, trên đường trở về thì phi đội của trung tá Quốc đã đụng phải một lực lượng phòng không của QĐND Việt Nam, súng cao xạ bắn lên dữ dộI, một phi cơ trúng đạn phía đuôi thiệt hại nhẹ, phi cơ của Quốc lao vào lửa đạn, bị trúng đạn và bốc cháy. Truy Phong Hàm Đại tá.

Chức Vụ[sửa | sửa mã nguồn]

  • Trưởng Phòng Hành Quân năm 1960
  • Chỉ huy trưởng phi đoàn 516 năm 1964
  • Tư Lệnh Không Đoàn 23

Chiến Công[sửa | sửa mã nguồn]

  • 2 Anh Dũng BộI Tinh vớI Ngôi Sao Đồng
  • 5 Anh Dũng BộI Tinh vớI Ngôi Sao Bạc
  • 1 Anh Dũng BộI Tinh vớI Ngôi Sao Vàng
  • 1 Anh Dũng BộI Tinh vớI Ngành Dương Liễu
  • Phi Dũng BộI Tinh với Cánh Chim Vàng
  • Đệ Nhị Không Lực Huy Chương
  • Đệ Ngũ Đẳng Bảo Quốc Huân Chương vớI Ngành Dương Liễu
  • Với 12 lần được tuyên dương công trạng và nhiều lần khen thưởng

Gia đình[sửa | sửa mã nguồn]

Phạm Phú Quốc có vợ và một con trai, ngày tử trận vợ Quốc mang thai đứa con đàu lòng được 3 tháng và đã di tản sang Mỹ trước năm 1975. Con trai ông hiện là bác sĩ khoa thẩm mỹ ở bên Mỹ.

Năm 1997 hài cốt của Phạm Phú Quốc được người chị ruột là Phạm Thị Xuân Cơ (Đông Hải) cải táng đem về chôn tại khuôn viên chùa Phước Lâm, TP Hội An, tỉnh Quảng Nam.

Hình tượng trong thơ và nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

Nhà văn Triều Vũ từng viết một bài văn tế Phạm Phú Quốc. Cũng thời gian đấy, nhạc sĩ Phạm Duy viết nhạc phẩm "Huyền sử ca một người mang tên Quốc" để tưởng nhớ ông.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]