Bước tới nội dung

Cảng Hải Phòng

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Cảng Hải Phòng
Quốc gia Việt Nam
Vị tríthành phố Hải Phòng
Chi tiết
Mở cửa1874
Website
https://haiphongport.com.vn/
Cảng Hải Phòng đầu thế kỷ XX https://vnexpress.net/cang-hai-phong-150-nam-truoc-4765876.html

Cảng Hải Phòng là một cụm cảng biển tổng hợp cấp quốc gia, lớn thứ 2 ở Việt Nam sau cảng Sài Gòn, là cửa ngõ quốc tế của Việt Nam. Đây là một trong hai cảng biển tổng hợp lớn và lâu đời nhất tại Việt Nam thuộc Công ty cổ phần cảng Hải Phòng (tiếng Anh: Port of Hai Phong hoặc Hai Phong Port). Năm 2022 và 2024, Cảng Hải Phòng lần lượt xếp hạng 28 và 32 trong danh sách 100 cảng container hàng đầu thế giới, với sản lượng thông qua đạt 5.695.839 TEUs, theo Lloyd's List.[1]

Lịch sử

[sửa | sửa mã nguồn]

Cảng Hải Phòng được người Pháp xây dựng năm 1874, là nơi được sử dụng để đổ bộ và tiếp tế cho quân đội viễn chinh. Các công trình ban đầu bao gồm hệ thống cầu cảng và kho bãi, trong đó có khu bến Sáu Kho. Sau đó, thương cảng này được nối liền với Vân Nam, Trung Quốc bằng đường xe lửa. Đến năm 1939, cảng này thực hiện 23% khối lượng vận chuyển xuất nhập khẩu của xứ Đông Dương.[2]

Thông số kỹ thuật

[sửa | sửa mã nguồn]

Cảng Hải Phòng hiện nay đang quản lý và khai thác các bến cảng

  1. Cảng Hoàng Diệu Chùa Vẽ (một đơn vị thành viên của Công ty CP Cảng Hải Phòng
    Cảng Hải Phòng – cụm cảng Hoàng Diệu (khu cảng chính, hay còn gọi tắt là Cảng Hoàng Diệu, trước gọi là Bến Sáu Kho) trên sông Cấm: cảng bốc xếp và vận chuyển hàng rời đầu tiên của miền Bắc, ra đời vào năm 1874,  chủ yếu phục vụ nội địa. Khu cảng này có 11 cầu tàu, độ sâu trước bến là - 8.4 mét; hệ thống kho rộng 31.320 mét vuông, hệ thống bãi rộng 163 ngàn mét vuông. Năm 2025, do quy hoạch đô thị, cảng dần thu hẹp và chuyển đổi thành khu đô thị xanh. Tới thời điểm tháng 8 năm 2025, khu cảng này còn lại 7 cầu tàu, hệ thống bãi giảm dần còn 150 ngàn mét vuông.
  2. Cảng Tân Vũ (một đơn vị thành viên của Công ty CP Cảng Hải Phòng)
    Cảng Hải Phòng – cụm cảng Chùa Vẽ (gọi tắt là cảng Chùa Vẽ) trên sông Cấm: từng là cảng container chuyên dụng quốc tế đầu tiên của khu vực phía Bắc, bắt đầu hoạt động năm 1993, có 5 cầu tàu, độ sâu trước bến - 8,4m. Hệ thống bãi rộng 205 ngàn mét vuông, được xây dựng theo quy chuẩn Nhật Bản. Sau ngày 15/07/2025, cảng này hợp nhất với cảng Hoàng Diệu tạo thành cụm cảng Hoàng Diệu Chùa Vẽ, thuộc quyền sở hữu của Công ty cổ phần Cảng Hải Phòng.
  3. Cảng Đình Vũ (một đơn vị thành viên của Công ty CP Cảng Hải Phòng)
    Cảng Hải Phòng - cụm Cảng Tân Vũ, Cảng Đình Vũ: Đây là hai cảng riêng biệt liền kề nhau, đều thuộc sở hữu của Cảng Hải Phòng, trong đó cảng Đình Vũ hoạt động năm 2002 với hai cầu cảng và cảng Tân Vũ hoạt động năm 2008 với 5 cầu cảng. Là cảng container chuyên dụng, Tân Vũ hiện là đơn vị sản xuất trọng điểm của Cảng Hải Phòng trong khai thác container, có độ sâu luồng là -8.5m và độ sâu trước bến là -11m, với bãi chứa hàng dó diện tích 550 ngàn mét vuông, được phép tiếp nhận tàu có tải trọng đến 55.000 DWT. Cùng với Cảng VIMC Đình Vũ cạnh bên (Cùng là đơn vị thành viên của Tổng công ty Hàng hải Việt Nam VIMC) với 1 cầu tàu chuyên dụng, các cảng Đình Vũ – Tân Vũ – VIMC Đình Vũ tạo thành cụm cảng với 8 cầu bến, là cụm cảng sông chuyên hàng container lớn nhất Hải Phòng hiện nay.
  4. Cảng quốc tế TIL Cảng Hải Phòng HTIT (một đơn vị thành viên của Công ty CP Cảng Hải Phòng)
    Cảng container quốc tế TIL Cảng Hải Phòng (Bến số 3,4 tại cụm cảng nước sâu Lạch Huyện): Liên doanh giữa Công ty cổ phần Cảng Hải Phòng và hãng tàu MSC (hãng tàu lớn nhất thế giới). Hoạt động từ năm 2025 với quy mô 2 cầu cảng, tổng chiều dài 750m. Chính phủ Việt Nam cho phép Cảng tiếp nhận tàu có trọng tải đến 165.000 DWT

Quy hoạch

[sửa | sửa mã nguồn]

Đầu năm 2025, dự án Hành lang Côn Minh – Lào Cai – Hà Nội – Hải Phòng được Trung Quốc và Việt Nam công bố, với mục tiêu biến Hải Phòng thành khu vực thương mại tự do và trung tâm trung chuyển của khu vực, đồng thời phát triển các tuyến đường sắt mới kết nối Trung Quốc với thủ đô Hà Nội của Việt Nam, điểm cuối tại cảng Lạch Huyện.

Bên cạnh đó, khu vực sông Cấm cũng được nạo vét để tăng diện tích vũng quay, và độ sâu tiếp nhận cho các cảng sông, dẫn đến việc nâng khả năng tiếp nhận tàu cho các cảng từ 48,000 DWT – 55,000 DWT, trong đó cảng Tân Vũ và cảng Đình Vũ của Công ty Cảng Hải Phòng có thể tiếp nhận và khai thác tàu tải trọng cao nhất là 55,000 DWT. Ngoài ra, còn có bến Nam Đồ Sơn chuyên dùng cho an ninh quốc phòng.[3]

Thành tựu

[sửa | sửa mã nguồn]
  • Kỷ niệm chương Tổ quốc ghi công năm (1966)
  • Danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân (năm 1973)
  • Danh hiệu Anh hùng lao động (năm 1998)
  • Huân chương Độc lập hạng Nhất (năm 2009)
  • Huân chương Độc lập hạng Nhì (năm 2003)
  • Huân chương Độc lập hạng Ba (năm 1985)
  • Huân chương Kháng chiến hạng Nhì (năm 1973)
  • Huân chương Chiến công hạng Nhất (năm 1968)
  • Huân chương Quân công hạng Ba (năm 1973)
  • Huân chương Lao động hạng Nhất (năm 1967, 1998, 2014)
  • Huân chương Lao động hạng Nhì (năm 1965,1994, 2024)
  • Huân chương Lao động hạng Ba (năm 1958, 1966, 2019)
  • Doanh nghiệp tiêu biểu vì người lao động (năm 2017,2019,2022,2023,2024)

Tham khảo

[sửa | sửa mã nguồn]
  • Quyết định số 2190/QĐ-TTg ngày 24 tháng 12 năm 2009 của Chính phủ Việt Nam về việc phê duyệt quy hoạch hệ thống cảng biển Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030.
  1. "Digital Edition 2024". Lloyd's List. Truy cập ngày 19 tháng 8 năm 2025.
  2. Nguyễn Thế Anh (1970). Viet-Nam Thoi Phap Do-Ho.
  3. Quyết định 2190/QĐ-TTg.