Kon Tum (thành phố)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Kon Tum
Thành phố trực thuộc tỉnh
Kontum wooden catholic church.jpg
Địa lý
Tọa độ: 14°23′0″B 107°59′0″Đ / 14,38333°B 107,98333°Đ / 14.38333; 107.98333Tọa độ: 14°23′0″B 107°59′0″Đ / 14,38333°B 107,98333°Đ / 14.38333; 107.98333
Diện tích 432,98km2
Dân số (02/09/2017)  
 Tổng cộng 160. 724 người
 Mật độ 371 người/1 km2
Hành chính
Quốc gia Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Việt Nam
Vùng Tây Nguyên
Tỉnh Kon Tum
Thành lập 13/9/2009
 Trụ sở UBND số 542, đường Nguyễn Huệ, phường Quyết Thắng
Phân chia hành chính 10 phường,11
Website http://kontumcity.kontum.gov.vn

Thành phố Kon Tum là thành phố tỉnh lỵ của tỉnh Kon Tum, nằm ở vùng địa hình lòng chảo phía nam của tỉnh này. Nơi này từ xưa đã là địa bàn cư trú của người Ba Na bản địa, dẫn đến tên gọi Kon Tum, nghĩa là "Làng Hồ" theo tiếng người Ba Na. Do nằm ở vị trí đặc biệt, đất đai bằng phẳng và màu mỡ được sông Đắk Bla bồi đắp, và cũng do nhiều yếu tố lịch sử mà vùng đất này dần trở thành nơi định cư của nhiều dân tộc khác nhau, trong đó có người Kinh đến từ các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định. Trong những năm 1841-1850, người Pháp trên hành trình lên cao nguyên truyền đạo đã đặt cơ sở Thiên chúa giáo đầu tiên tại đây. Đến năm 1893, chính quyền thực dân Pháp lập Tòa đại lý hành chính Kon Tum do viên linh mục Vialleton cai quản và kể từ đó tên gọi Kon Tum chính thức được sử dụng, đơn vị hành chính cấp tỉnh được thành lập sau đó cũng mang tên gọi này. Kon Tum từ một vùng đất hoang vắng, người thưa thớt trở thành nơi tập trung dân cư, thương mại và hành chính xuyên suốt chiều dài lịch sử của tỉnh Kon Tum. Sau hơn một trăm năm phát triển và đã trải qua không ít khó khăn, Kon Tum hiện đang là đô thị loại III và được công nhận là thành phố trực thuộc tỉnh.[1]

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Hình thành[sửa | sửa mã nguồn]

Theo truyền thuyết của người Ba Na, ở vùng đất nay là xã Chư Hreng - TP Kon Tum có một làng nằm bên cạnh dòng sông Đăk Bla với tên gọi Kon Trang - Or. Lúc ấy, làng Kon Trang - Or rất thịnh vượng với dân số khá đông. Nhưng trong làng bắt đầu có mâu thuẫn về việc chiếm đoạt của cải và bắt người về làm nô lệ. Hai con trai của một trong số những người đứng đầu làng là Jơ Rông và Uông, vì không thích cảnh tranh đoạt đã cùng người của mình chuyển ra ở riêng, họ đều làm nhà gần một hồ nước nằm cạnh sông Đăk Bla. Địa điểm này rất thuận lợi cho phương thức sống định cư, nên dần dần có nhiều người đến ở, ngày một phát triển thêm đông, lập thành làng mới với tên gọi là Kon Tum. Theo tiếng Việt, Kon Tum có nghĩa là Làng Hồ (Kon là làng, Tum là hồ, ao, bàu nước,...). Từ đó, Kon Tum trở thành tên gọi chính thức cho một làng mới lập của người Ba Na, cạnh dòng Đăk Bla, nơi có nhiều hồ nước trũng.[2]

Người Kinh đến định cư, lập nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Cuối đời vua Thiệu Trị, rồi kế đến là vua Tự Đức lên ngôi (1847) nhà Nguyễn ra sắc chỉ "Bình Tây Sát Tả" bố ráp đạo Thiên Chúa. Các nhà truyền giáo người Pháp phải chạy đến Bình Định để trốn tránh sự kiểm soát gắt gao của triều Nguyễn, việc truyền giáo trở nên khó khăn. Đứng trước tình thế đó, Đức Giám mục địa phận Qui Nhơn là Stéphan Cue'not đã cử nhiều thừa sai tìm đường lên vùng cao nguyên (lúc đó còn là rừng núi hoang sơ rậm rạp có rất nhiều thú dữ và chưa có sự kiểm soát của nhà Nguyễn) để lánh nạn và đồng thời tiếp tục truyền đạo nhưng đa số là thất bại.

Đến tháng 4 năm 1848, một linh mục người Việt là Nguyễn Do đã tìm ra con đường đi qua trạm Gò ở phía Bắc An Khê để tránh con đường độc đạo qua An Sơn (An Khê) luôn bị quân triều đình nhà Nguyễn canh giữ nghiêm ngặt. Trong vai một người lái buôn, sau đó ông xin làm người giúp việc cho một người lái buôn khác, nhờ vậy ông phát hiện ra vùng đất Kon Tum. Năm 1850, Nguyễn Do dẫn một phái đoàn gồm có linh mục Hoàng (Fontaine), Phêrô (P.Combe) và bảy linh mục khác cùng một số học trò người Kinh lên Kon Tum. Đến đây, họ bỏ tiền để chuộc một số người Kinh (phần lớn là người Quảng Nam, Quảng Ngãi) là nạn nhân của các cuộc đánh cướp nô lệ đang sống trong các làng người Xê Đăng, rồi chiêu mộ người Kinh theo đạo Thiên Chúa ở đồng bằng muốn tránh sự truy nã của triều đình, để thành lập những làng người Kinh tại đây.[3]

Lớp người đầu tiên này thấy nơi xứ lạ, đất đai phì nhiêu dễ bề sinh nhai nên họ đã liên lạc với người thân ở đồng bằng (Bình Định, Quảng Ngãi) đưa lên lập nghiệp, rồi dần người đông đúc họ lập nên làng người Kinh đầu tiên ở Gò Mít, lấy tên là làng Trại Lý vào năm 1874, sau đổi thành làng Tân Hương, buổi đầu chỉ có 15 hộ và 100 khẩu.

Thị xã Kon Tum năm 1972

Đến năm 1933, khu vực xung quanh thành phố Kon Tum ngày nay có 10 làng người Kinh, trong đó có 8 làng theo đạo Thiên Chúa giáo: làng Tân Hương (1874), làng Phương Nghĩa (1882), làng Phương Quý (1887), làng Phương Hòa (1892), làng Phụng Sơn (1924), làng Ngô Thạnh (1925), làng Ngô Trang (1925), và 2 làng không theo đạo: Làng Trung Lương (1914) và làng Lương Khế (1911).[4]

Giai đoạn những năm 1910-1930[sửa | sửa mã nguồn]

Dân số thành phố Kon Tum năm 1884 ước khoảng 500 người, năm 1922 – 3.067 người và 1933 – 5.000 người. Sau nửa thế kỷ, dân số thành phố đã tăng lên khoảng 10 lần. Tuy nhiên, đóng góp chủ yếu vào việc tăng dân số thành phố là do các luồng di dân từ đồng bằng lên sinh cơ lập nghiệp hơn là do tăng tự nhiên.[5] Về thương mại, giai đoạn thập niên 1910-1930, các ngành nghề ở Kon Tum hầu như không đáng kể. Đây có thể là hậu quả của chính sách hạn chế buôn bán giữa miền xuôi với Tây Nguyên hồi cuối thế kỷ XIX và tình trạng yếu kém của mạng lưới giao thông nội vùng và liên vùng. Chợ Kon Tum là nơi tập trung buôn bán chính của thành phố, chủ yếu là các sản vật từ rừng núi và từ vườn gia đình. Các sản vật dưới đồng bằng cũng được mang lên thành phố trao đổi với người Thượng.[6]

Theo mô tả của hai tác giả Nguyễn Kinh Chi và Nguyễn Đổng Chi vào thời điểm năm 1933 thì Kon Tum “Phố phường ở rải rác trên bốn, năm con đường”, đặc biệt là khu vực gần sông Đăk Bla “đường sá rộng rải, phố xá ngay thẳng. Ban đêm đèn điện sáng choang. Quang cảnh không kém mấy thành phố ở dưới trung châu”. Thành phố Kon Tum lúc này được chia thành hai khu: khu phía Tây là nơi tập trung các cơ quan hành chính và khu phía Đông là vùng tập trung sinh sống của dân cư.[7]

  • Về cảnh quan hai bên đường Phan Đình Phùng (dùng theo tên gọi hiện nay, thời điểm đó các con đường vẫn chưa được đặt tên), chủ yếu là rừng rậm và xen lẫn đồng hoang. Đoạn từ trường THCS Lý Tự Trọng hiện nay đến đầu cầu Đak Bla là nơi tập trung nhà ở của các quan lại và cơ quan hành chính tỉnh[8] (khu phía Tây thành phố - theo cách gọi của Nguyễn Kinh Chi, Nguyễn Đổng Chi). Khu vực ngã tư Phan Đình Phùng – Phan Chu Trinh ngày nay vào năm 1914 được phát quang để thành lập làng Trung Lương (đến nay vẫn còn di tích đình Trung Lương ở dọc ven đường Phan Đình Phùng). Từ đây đổ lên phía Bắc đều là rừng rậm. Dấu tích của các cánh rừng đó ngày trước vẫn còn nhận thấy qua những cây lớn như gốc Dong (ngã tư Phan Đình Phùng – Lê Lợi), trong khuôn viên Sở Y tế, chi cục kiểm lâm…
  • Đường Nguyễn Huệ: là một trong hai con đường lớn nhất (cùng với đường Phan Đình Phùng), “sầm uất” nhất, và đồng thời là trục Đông – Tây của thành phố. Với lợi thế chạy dọc theo bờ sông Đak Bla, đường Nguyễn Huệ là nơi cư trú ưa thích của người dân đương thời. Chính ngôi làng Việt đầu tiên – làng Tân Hương (Gò Mít, Trại Lý) – được thành lập sớm nhất (năm 1874) ở dọc theo con đường này. Đường Nguyễn Huệ nối liền khu phía Tây thành phố (khu hành chính, công sở) với khu phía Đông (khu Tân Hương, Phương Nghĩa), đi ngang qua khu dân cư dọc hai ven đường. Năm 1910, khi đặt chân tới mảnh đất Kon Tum, Henri Maitre đã miêu tả cảnh quan đường Nguyễn Huệ như sau: “Khu dân cư có tên Kon Tum nằm về phía đông cánh đồng tuyệt vời Reungao; gồm những chòm xóm nối nhau chạy dài như chuỗi tràng hạt nằm hai bên con đường cái căng như kẻ chỉ giữa hai đầu khúc sông uốn cong của con sông Bla…[9]
  • Đường Trần Phú: là con đường từ thành phố đi lên Đak Cấm, nhưng con đường này có thể mở muộn hơn, vào cuối những năm 1930. Quang cảnh hai bên đường Trần Phú vẫn còn là những cánh rừng rậm rạp. Đến năm 1938, khi làng Võ Lâm thành lập, nơi này mới dần có người đến ở, tuy vậy, quang cảnh vẫn còn rất hoang vu. Theo miêu tả của các giáo dân Võ Lâm đi nhà thờ Tân Hương làm lễ thì “Thời đó muốn đi lễ nhà thờ Tân Hương, phải đi bộ qua những cánh rừng xoài, mít, rừng cây… theo những con đường mòn, rất sợ hãi. Vào dịp lễ Sinh Nhựt (Giáng sinh), từ trưa phải dỡ cơm mang theo đến xin ngủ nhờ nhà người quen gần nhà thờ Tân Hương, để đến nửa đêm dự lễ Sinh Nhựt, đêm hôm đó ngủ lại đến sáng mai mới khăn gói trở về nhà. Còn học sinh đi học trường Têrêxa gần nhà thờ Tân Hương, phải đem theo cơm trưa ở lại học cho tiện, vì đường sá cách trở”.[10] Dọc đường Trần Phú hiện nay, trong khuôn viên Hội trường Ngọc Linh vẫn còn một gốc đa cổ thụ, chính là dấu tích còn lại của các cánh rừng đầu thế kỷ XX.
  • Đường Bà Triệu: là đường đi vào nhà thương tỉnh lúc bấy giờ. Đường Bà Triệu đoạn nối Phan Đình Phùng – Trần Phú lúc này là một con đường nhỏ chia đôi khu mả Thượng. Từ đó hắt lên phía Trần Phú là những cánh rừng của làng Võ Lâm.

Tháng 6-1931, nhà đương cục lợi dụng sức lao động của các tù chính trị vừa đi làm đường từ Đak Pet về, đã có ý định bắt một chiếc cầu qua sông Đak Bla.[11] Công việc đang tiến hành thì bị hủy bỏ bởi các cuộc đấu tranh của tù chính trị. Vết tích hiện nay vẫn còn một mố đất cao trong khu di tích Ngục Kon Tum. Phải đến một năm sau, chính quyền mới bắc được một chiếc cầu gỗ qua sông (tháng 7-1932) nhưng đến tháng 10 lại bị lũ cuốn trôi mất.[12] Việc đi lại trên sông này vẫn phải dùng phà.

Sau năm 1975[sửa | sửa mã nguồn]

Sau năm 1975, thị xã Kon Tum thuộc tỉnh Gia Lai - Kon Tum gồm 4 phường: Quang Trung, Quyết Thắng, Thắng Lợi, Thống Nhất và 11 xã: Đắk Blà, Đắk Cấm, Đắk La, Đắk Uy, Đoàn Kết, Hòa Bình, Ia Chim, Ia Ly, K'roong, Ngọk Bay, Vinh Quang.

Ngày 10 tháng 10 năm 1978, chia Ia Ly thành 2 xã: xã Ia Ly thuộc Gia Lai, phía Nam sông Sê San và phía Bắc là xã Ya Ly thuộc Kon Tum được chuyển về huyện Sa Thầy quản lý[13]. Ngày 17 tháng 8 năm 1981, chia xã Đoàn Kết thành 2 xã: Đoàn Kết và Chư H'reng; chia xã Đắk Cấm thành 2 xã: Đắk Cấm và Ngọk Réo[14]. Ngày 1 tháng 2 năm 1985, chia xã Đắk La thành 2 xã: Đắk La và Hà Mòn[15]. Đầu năm 1991, thị xã Kon Tum có 4 phường: Quang Trung, Quyết Thắng, Thắng Lợi, Thống Nhất và 13 xã: Chư H'reng, Đắk Blà, Đắk Cấm, Đắk La, Đắk Uy, Đoàn Kết, Hà Mòn, Hòa Bình, Ia Chim, K'roong, Ngọk Bay, Ngọk Réo, Vinh Quang.

Ngày 12 tháng 8 năm 1991, tái lập tỉnh Kon Tum từ tỉnh Gia Lai - Kon Tum, thị xã Kon Tum trở lại là tỉnh lỵ tỉnh Kon Tum[16].

Ngày 24 tháng 3 năm 1994, tách 4 xã: Đắk La, Hà Mòn, Đắk Uy, Ngọk Réo để thành lập huyện Đắk Hà[17]. Ngày 22 tháng 11 năm 1996, chia xã Chư H'reng thành 2 xã: Chư H'reng và Đắk Rơ Wa[18].

Ngày 3 tháng 9 năm 1998, thành lập phường Lê Lợi từ một phần các xã Chư Hreng, Đoàn Kết, Hòa Bình; chia phường Quang Trung thành 2 phường: Quang Trung và Duy Tân[19].

Ngày 8 tháng 1 năm 2004, chia xã Hòa Bình thành xã Hòa Bình và phường Trần Hưng Đạo; chia xã Vinh Quang thành xã Vinh Quang và phường Ngô Mây; chia xã Đoàn Kết thành xã Đoàn Kết và phường Nguyễn Trãi; thành lập phường Trường Chinh từ một phần phường Thắng Lợi và xã Đắk Blà[20].

Ngày 7 tháng 10 năm 2005, thị xã Kon Tum được công nhận là đô thị loại 3[21].

Ngày 9 tháng 6 năm 2008, chia xã Ia Chim thành 2 xã: Ia Chim và Đắk Năng[22].

Ngày 10 tháng 12 năm 2008, Hội đồng Nhân dân Tỉnh đã thông qua đề án thành lập thành phố Kon Tum trên cơ sở diện tích và dân số hiện tại của thị xã Kon Tum.[23] Ngày 13 tháng 9 năm 2009, thị xã Kon Tum chính thức trở thành thành phố Kon Tum.[1].

Năm 2013, điều chỉnh mở rộng địa giới hành chính phường Ngô Mây trên cơ sở 1.098,43 ha diện tích tự nhiên và 1.628 nhân khẩu của xã Vinh Quang [24].

Dự kiến năm 2020, các xã Vinh Quang và Đắk Cấm sẽ được nâng cấp lên thành các phường có tên tương ứng; phấn đấu thành phố Kon Tum trở thành đô thị loại II vào năm 2020.

Địa lý[sửa | sửa mã nguồn]

Vị trí địa lý[sửa | sửa mã nguồn]

Thành phố Kon Tum nằm ở địa hình lòng chảo phía nam tỉnh Kon Tum, trên độ cao khoảng 525m, và được uốn quanh bởi thung lũng sông Đăk Bla.[25] Phía tây thành phố giáp huyện Sa Thầy, phía bắc giáp huyện Đắk Hà, phía đông giáp huyện Kon Rẫy và phía nam giáp tỉnh Gia Lai. Thành phố có diện tích tự nhiên 43.298,15ha.

Khí hậu[sửa | sửa mã nguồn]

Thành phố Kon Tum có đặc điểm khí hậu vùng núi Tây Nguyên, nhưng do nằm ở địa hình thung lũng chịu tác động của hiện tượng foehn, khí hậu thành phố có nhiều khác biệt so với Thành phố Pleiku gần kề là lượng mưa hàng năm thấp hơn và có phần nóng, oi ả hơn. Sau đây là một số đặc trưng của khí hậu thành phố Kon Tum:

  • Nhiệt độ:
    • Nhiệt độ trung bình hàng năm: 23,5 °C.
Dữ liệu khí hậu của Kon Tum
Tháng 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 Năm
Cao kỉ lục °C (°F) 33.9 36.2 37.1 37.9 39.0 35.6 33.7 33.3 32.6 33.5 33.0 32.8 39,0
Trung bình cao °C (°F) 28.0 30.2 32.5 33.1 31.5 29.5 28.9 28.7 28.9 28.8 27.7 26.8 29,6
Trung bình ngày, °C (°F) 20.6 22.4 24.5 25.7 25.3 24.8 24.3 24.1 23.9 23.4 22.2 20.7 23,5
Trung bình thấp, °C (°F) 14.5 16.3 18.6 20.9 21.8 21.9 21.6 21.5 21.0 19.6 17.7 15.5 19,2
Thấp kỉ lục, °C (°F) 5.5 7.9 8.7 15.5 18.0 18.8 18.1 18.0 16.3 11.9 8.9 5.9 5,5
Giáng thủy mm (inch) 1
(0.04)
10
(0.39)
28
(1.1)
93
(3.66)
220
(8.66)
259
(10.2)
293
(11.54)
325
(12.8)
295
(11.61)
177
(6.97)
62
(2.44)
9
(0.35)
1.771
(69,72)
độ ẩm 71.6 68.0 68.0 72.9 80.0 85.2 86.2 87.8 86.9 82.6 77.7 73.8 78,4
Số ngày giáng thủy TB 0.4 1.2 4.0 9.8 18.5 21.2 23.8 25.8 22.7 14.1 6.0 1.2 148,2
Số giờ nắng trung bình hàng tháng 267 248 271 231 197 148 134 129 122 179 208 241 2.374
Nguồn: Vietnam Institute for Building Science and Technology[26]
  • Mưa: Nằm trong vùng khí hậu Tây dãy Trường Sơn, được chia làm hai mùa rõ rệt.
    • Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10, lượng mưa chiếm 90% lượng mưa của cả năm.
    • Mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 của năm sau, lượng mưa chỉ chiếm 10% lượng mưa của cả năm.
    • Lượng mưa trung bình năm: 1.771mm, thấp hơn Pleiku (2.206mm) và các vùng khác có cùng cao độ.
    • Số ngày mưa trung bình năm: 148 ngày.
  • Lượng nước bốc hơi:
    • Lượng bốc hơi trung bình ngày: 2,2mm.
    • Lượng bốc hơi trung bình tháng cao nhất: 105mm
    • Tháng thấp nhất: 53mm.
  • Độ ẩm:
    • Độ ẩm tương đối trung bình năm: 78,4%.
    • Độ ẩm tương đối trung bình tháng cao nhất: 87,8%.
  • Gió: Hướng gió chính Đông và Đông Bắc về mùa khô; Tây và Tây Nam về mùa mưa.
    • Tốc độ gió trung bình 5,2 m/s.
    • Tốc độ gió cao nhất 27 m/s.
  • Bão: Khu vực ít chịu ảnh hưởng của gió bão.

Thủy văn[sửa | sửa mã nguồn]

Thành phố Kon Tum có sông Đăk Bla chảy qua theo hướng từ Đông sang Tây, là một nhánh của hệ thống sông Sê San. Sông Đăk Bla có chiều dài 143 km, lưu lượng lớn nhất 2.040 m3/s, lưu lượng nhỏ nhất 14,1 m3/s, lưu lượng trung bình 106 m3/s.

Do địa hình đầu nguồn sông Đăk Bla dốc, đoạn sông qua thành phố lại uốn khúc, ngoằn ngoèo làm hạn chế dòng chảy nên thường xảy ra ngập lũ vùng trũng hai bờ sông vào mùa mưa. Một nguyên nhân nữa là tình trạng chặt phá rừng đầu nguồn bừa bãi, độ che phủ địa hình giảm dần, gây bất lợi cho vùng hạ du bao gồm thành phố.

Dân cư[sửa | sửa mã nguồn]

Thành phố có 155.214 người (năm 2013) gồm 20 dân tộc cùng sinh sống.

Giao thông[sửa | sửa mã nguồn]

Đường Trần Hưng Đạo

Đường bộ[sửa | sửa mã nguồn]

Thành phố có hai trục huyết mạch kết nối vùng miền là Quốc lộ 14 (đường Phan Đình Phùng) đi các tỉnh Bắc - Nam, và quốc lộ 24 (đường Duy Tân) đi tỉnh Quảng Ngãi cũng như duyên hải Nam Trung Bộ. Ngoài ra, thành phố còn có tỉnh lộ đường 675 (đường Nguyễn Hữu Thọ) kết nối huyện Sa Thầy, đường 671 đi xã Đăk Cấm và huyện Đắk Hà. Các tuyến đường chính nội thị là Phan Đình Phùng, Duy Tân, Nguyễn Huệ, Trần Hưng Đạo, Trần Phú, Lê Hồng Phong, Bà Triệu, Trường Chinh, Đào Duy Từ và Trần Văn Hai.

Đường phố của thành phố Kon Tum sau năm 1975[sửa | sửa mã nguồn]

Đường Võ Tánh nay là đường Hai Bà Trưng.

Đường Cường Để nay là đường Trần Bình Trọng.

Đường Trình Minh Thế nay là đường Lê Hồng Phong.

Đường Lê Văn Duyệt nay là đường Hoàng Văn Thụ.

Đường Phan Thanh Giản nay là đường Trần Phú.

Đường Cầu Tài nay là đường Nguyễn Trãi.

Đường Phủ Mohn nay là đường Kơ Pa Kơ Lơng.

Đường Duy Tân nay là đường Lý Thái Tổ.

Đường Tăng Bạt Hổ nay là đường Triệu Việt Vương.

Đường Cha Do nay là đường Nguyễn Văn Trỗi.

Đường Tự Do nay là đường Lý Tự Trọng.

Đường Cô Giang nay là đường Trần Cao Vân.

Đường Cô Bắc nay là đường Nguyễn Công Trứ.

Đường Chính Ân nay là đường Yết Kiêu.

Đường Đội Sơn nay là đường Võ Thị Sáu.

Đường Trần Quốc Toản nay là hai đường Trần Nhân Tông và Kim Đồng.

Đường Triệu Ẩu nay là đường Bà Triệu.

Đường Bùi Chu nay là đường Thi Sách.

Đường Phát Diệm nay là đường Hồ Tùng Mậu.

Đường Lê Thánh Tôn nay là đường Trần Hưng Đạo.

Đường Đề Thám nay là đường Hoàng Hoa Thám.

Đường Ngô Tùng Châu nay là đường Nguyễn Bỉnh Khiêm.

Đường Hai Bà Trưng nay là đường Trương Quang Trọng.

Đường Bốk Kiêm nay là đường Bạch Đằng.

Đường Hùng Vương và Phan Đình Phùng nay là Phan Đình Phùng.

Đường hàng không[sửa | sửa mã nguồn]

Thành phố từng có sân bay quân sự nằm ở trung tâm, đã chính thức dừng hoạt động vào năm 1975. Theo quy hoạch được ban hành năm 2011 của Bộ Giao thông vận tải, một sân bay mới dùng chung quân sự - dân sự sẽ sớm được xây dựng ở xã Ngọc Bay, phía tây thành phố.[27] Hiện tại, sân bay Pleiku cách trung tâm thành phố khoảng 43 km là sân bay gần nhất, đáp ứng được nhu cầu di chuyển tới các thành phố lớn trong nước.

Hành chính[sửa | sửa mã nguồn]

Thành phố có 21 đơn vị hành chính gồm 10 phường: Duy Tân, Lê Lợi, Ngô Mây, Nguyễn Trãi, Quang Trung, Quyết Thắng, Thắng Lợi, Thống Nhất, Trần Hưng Đạo, Trường Chinh và 11 xã: Chư Hreng, Đắk Blà, Đắk Cấm, Đắk Năng, Đắk Rơ Wa, Đoàn Kết, Hòa Bình, Ia Chim, Kroong, Ngọk Bay, Vinh Quang.

Di tích, thắng cảnh[sửa | sửa mã nguồn]

  • Nhà thờ chính tòa Kon Tum (Nhà thờ gỗ) với lối kiến trúc Roman kết hợp với kiến trúc nhà sàn của người Ba Na. Nhà thờ do các cố linh mục người Pháp cho xây dựng vào năm 1913.
  • Tòa Giám mục Kon Tum (Tiểu Chủng viện Thừa sai) có lối kiến trúc pha trộn giữa bản địa và phương Tây một cách hài hòa, được xây dựng trong giai đoạn 1935-1938.
  • Chùa Bác Ái được xây dựng vào năm 1932, được vua Bảo Đại ban tấm biển “Sắc tứ Bác Ái Tự” vào năm 1933.
  • Khu di tích lịch sử cách mạng Ngục Kon Tum. Nơi này từng là quần thể khu nhà lao giam giữ những người Cộng sản thời thực dân Pháp. Khu di tích nằm bên bờ sông Đăk Bla, bao gồm nhà truyền thống trưng bày hiện vật, nhà đón tiếp, cụm tượng đài và ngôi mộ tập thể của các liệt sĩ. Nhà lao được xây dựng trong khoảng từ 1915-1917, tuy quy mô không lớn nhưng lại khét tiếng tàn bạo trong thời kỳ 1930-1931. Tại nhà tù này, ngày 25-9-1930, Ngô Đức Đệ đã triệu tập một cuộc họp bí mật tại phòng biệt giam của mình, tuyên bố thành lập Chi bộ Đảng Cộng sản đầu tiên ở Kon Tum.[28]
  • Một số nhà rông của người Ba Na nằm rải rác ở vùng ven thành phố.
  • Cầu treo Konklor bắc qua sông Đăk Bla.
  • Cầu Đắk Bla bắc qua sông Đắk Bla.
  • Hồ thủy điện Yali.

Hình ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă “Thành lập thành phố Kon Tum”. 
  2. ^ Kon Tum qua các thời kỳ lịch sử
  3. ^ P. Ban, S. Thiệt (1933), Mở đạo Kontum, Qui Nhơn, tr.188. 
  4. ^ Võ Chuẩn, Kontum tỉnh chí, in trong tạp chí Nam Phong, số 195, tháng 5-1934, tr.304. 
  5. ^ Võ Chuẩn, Kontum tỉnh chí, in trong tạp chí Nam Phong, số 192, tháng 1-1934, tr.32-33. 
  6. ^ Nguyễn Kinh Chi, Nguyễn Đổng Chi, Người Bahnar ở Kon Tum, nxb Tri thức, tr.148-149. 
  7. ^ Nguyễn Kinh Chi, Nguyễn Đổng Chi, sđd, tr.153. 
  8. ^ Xem bản đồ do Ngô Đức Đệ vẽ năm 1985, in trong Ngô Đức Đệ (2007), Từ Hà Tĩnh đến nhà đày Kon Tum, Bảo tàng tỉnh Kon Tum xuất bản, tr.62. 
  9. ^ Henri Maitre (1912), Les Jungles Moi, Paris: Larouse, pp.211-215. 
  10. ^ [1]
  11. ^ Lê Văn Hiến (2001), Ngục Kon Tum, Bảo tàng tỉnh Kon Tum xuất bản. 
  12. ^ Võ Chuẩn, sđd, tr.544. 
  13. ^ Quyết định 254-CP năm 1978 về việc chia huyện Đak Tô thuộc tỉnh Gia Lai – Kon Tum thành hai huyện
  14. ^ Quyết định 30-HĐBT năm 1981 điều chỉnh địa giới một số xã và thị trấn thuộc tỉnh Gia Lai - Kon Tum
  15. ^ Quyết định 26-HĐBT năm 1985 về việc phân vạch địa giới một số xã, thị trấn của một số huyện, thị xã thuộc tỉnh Gia Lai-Kon Tum
  16. ^ Nghị quyết về việc điều chỉnh địa giới hành chính một số tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương do Quốc hội ban hành
  17. ^ Nghị định 26-CP năm 1994 về việc thành lập huyện Đắk Hà thuộc tỉnh Kon Tum
  18. ^ Nghị định 73-CP năm 1996 về việc thành lập các xã và thị trấn thuộc các huyện Kon Plông, Đắk Glei, Ngọc Hồi, Đắk Hà và thị xã Kon Tum, tỉnh Kon Tum
  19. ^ Nghị định 69/1998/NĐ-CP về việc thành lập các phường và xã thuộc thị xã Kon Tum và huyện Đắk Hà, tỉnh Kon Tum
  20. ^ Nghị định 13/2004/NĐ-CP về việc thành lập phường, xã thuộc thị xã Kon Tum và các huyện Kon Rẫy, Ngọc Hồi, Kon Plông, tỉnh Kon Tum
  21. ^ Quyết định 1900/2005/QĐ-BXD công nhận thị xã Kon Tum, tỉnh Kon Tum là đô thị loại III do Bộ trưởng Bộ Xây dựng ban hành
  22. ^ Nghị định 74/2008/NĐ-CP điều chỉnh địa giới hành chính xã, thành lập xã thuộc huyện Sa Thầy, huyện Đắk Tô, thị xã Kon Tum, tỉnh Kon Tum
  23. ^ “Thông qua đề án thành lập TP Kontum”. Tuổi Trẻ. 
  24. ^ Nghi-quyet-126-NQ-CP-2013
  25. ^ “Sách Kon Tum - 100 năm lịch sử và phát triển”. 
  26. ^ “Vietnam Building Code Natural Physical & Climatic Data for Construction” (PDF). Vietnam Institute for Building Science and Technology. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 22 tháng 7 năm 2018. Truy cập ngày 20 tháng 7 năm 2018. 
  27. ^ “Công bố quy hoạch sân bay Kon Tum gia đoạn đến năm 2020 và định hướng sau năm 2020”. 
  28. ^ “Ngục Kon Tum”. Trang thông tin điện tử Kon Tum. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]