Kon Rẫy

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Jump to navigation Jump to search
Kon Rẫy
Huyện
Địa lý
Tọa độ: 14°30′B 108°06′Đ / 14,5°B 108,1°Đ / 14.5; 108.1Tọa độ: 14°30′B 108°06′Đ / 14,5°B 108,1°Đ / 14.5; 108.1
Diện tích 886,6 km².
Dân số (2004)  
 Tổng cộng 21.000 người
Dân tộc Kinh, Bana, Xơ đăng...
Hành chính
Quốc gia Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Việt Nam
Vùng Tây Nguyên
Tỉnh Kon Tum
Huyện lỵ thị trấn Đắk Rve
Thành lập 31/1/2002
Phân chia hành chính 1 thị trấn, 6 xã
Website konray.kontum.gov.vn

Kon Rẫy là một huyện thuộc tỉnh Kon Tum.

Địa lý[sửa | sửa mã nguồn]

Kon Rẫy nằm ở phía đông nam của tỉnh Kon Tum. Phía đông nam giáp thành phố Kon Tum, phía tây giáp huyện Đăk Hà, phía đông bắc giáp huyện Kon Plông, phía nam giáp các huyện K'Bang, Đăk Đoa, Chư Păh của tỉnh Gia Lai.

Huyện có diện tích là 886,6 km².

Huyện Kon Rẫy có dân số khoảng 21.000 người (2004) gồm nhiều dân tộc (Kinh, Ba na, Xê đăng...)

Hành chính[sửa | sửa mã nguồn]

Huyện Kon Rẫy có 7 đơn vị hành chính cấp xã gồm thị trấn Đắk Rve và các xã: Đắk Kôi, Đắk Pne, Đắk Ruồng, Đắk Tơ Lung, Đắk Tờ Re, Tân Lập.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Vào những năm đầu của thế kỷ XX (khoảng năm 1910) có một làng được người dân nơi đây gọi là làng Kon Braih (phía bắc giáp suối Tờ Lung; phía nam giáp suối Pne; phía đông giáp suối RơToa (Đăk Toa) ngày nay, và có một con suối Đak Snghé chạy quanh hình thành bãi bồi cát mênh mông ở giữa các suối nguồn thành một làng cát (Kon Braih, theo tiếng địa phương ở nơi đây).

Tại sao người dân nơi đây lại chon một địa hình vừa phức tạp cho việc đi lại, lại dễ dàng cho trồng trọt hoa màu như vậy?

Qua những năm đầu và các năm trước đó đã xảy ra rất nhiều các cuộc thanh trừng loạn lạc giữa các bộ tộc, các làng này, làng kia để chiếm hữu tài sản và bắt người làm nô lệ, buôn bán nô lệ nên đã xảy ra các cuộc chiến ác liệt giữa các làng với nhau. Vì vậy với sự dẫn dắt của một già làng uy tín và một thủ lĩnh anh hùng, làng đã lựa chọn một địa điểm lý tưởng, vừa là để phòng thủ, vừa là nơi sản xuất các mùa màng vừa là địa điểm dễ chuyển hàng để trao đổi hàng hóa, địa điểm đó thuộc huyện Kon Rẫy ngày nay.

Huyện Kon Rẫy được thành lập vào ngày 31/1/2002 trên cơ sở chia tách 6 xã và thị trấn Kon Plông với 20.900 người của huyện Kon Plông cũ. Thị trấn Kon Plông, huyện lỵ của huyện Kon Plông cũ được đổi tên thành thị trấn Đăk Rve và trở thành huyện lỵ của huyện Kon Rẫy. Tên huyện Kon Rẫy được đặt theo tên một làng cổ người Xơđăng Tơdră: Kon Braih có nghĩa là Làng Cát. Những người đề nghị thành lập huyện mới tại tỉnh Kon Tum vào năm 2002 đều là người Việt nên trình Chính phủ phê duyệt với tên gọi sai thành Kon Rẫy, vốn là một từ vô nghĩa trong tiếng địa phương nơi đây.

Khi mới thành lập, huyện Kon Rẫy có 6 đơn vị hành chính gồm thị trấn Đắk Rve và 5 xã: Đắk Kôi, Đắk Pne, Đắk Ruồng, Đắk Tờ Re, Tân Lập.

Ngày 8/1/2004, thành lập xã Đắk Tơ Lung trên cơ sở 12.420 ha diện tích tự nhiên và 3.250 nhân khẩu của xã Đắk Ruồng.

Kinh tế - xã hội[sửa | sửa mã nguồn]

Huyện Kon Rẫy có số đồng bào dân tộc bản địa chiếm tỷ lệ tương đối cao, có nền văn hoá cổ truyền đa dạng, phong phú, đặc trưng cho bản sắc văn hoá các dân tộc Tây Nguyên. Trong thời gian tới huyện Kon Rẫy sẽ tiếp tục phát huy nội lực, nhất là khai thác tiềm năng đất xây dựng, đất nông nghiệp dọc quốc lộ 24, tranh thủ tối đa các chính sách ưu tiên phát triển kinh tế - xã hội miền núi, phát huy các tiềm năng, lợi thế trong hợp tác và thu hút đầu tư, bao gồm:

  • Phát huy mọi lợi thế và tiềm năng để hình thành một số vùng chuyên canh cây công nghiệp, cây ăn quả, chăn nuôi tập trung với quy mô thích hợp, phát triển mạnh dịch vụ hỗ trợ nhằm tạo ra khối nông - lâm sản hàng hoá có giá trị kinh tế cao.
  • Thay đổi cơ cấu đầu tư theo vùng, tạo điều kiện và ưu tiên khuyến khích những tiểu vùng có lợi thế nhất để vừa làm mẫu, động lực thúc đẩy các tiểu vùng khác, vừa phát huy tối đa lợi thế tự nhiên, tạo ra các sản phẩm có giá trị cạnh tranh cao.
  • Đầu tư thâm canh, sử dụng có hiệu quả diện tích đất trồng lúa nước hiện có. Tăng cường đầu tư cho các công trình thuỷ lợi để mở rộng diện tích lúa nước. Tập trung ưu tiên phát triển chăn nuôi lấy thịt theo hướng chuyển đổi từ chăn nuôi tự cung tự cấp sang chăn nuôi hàng hoá; phát triển nghề chăn nuôi bò trong các nông hộ, các thành phần kinh tế, nhằm nhanh chóng phát triển cả về số lượng và chất lượng.
  • Chuyển dịch mạnh mẽ cơ cấu kinh tế nông thôn, bao gồm kinh tế nông - lâm nghiệp, công nghiệp chế biến, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ phục vụ sản xuất và đời sống để giảm dần tỷ trọng nông - lâm nghiệp, tăng tỷ trọng công nghiệp, thương mại - dịch vụ trong cơ cấu kinh tế, tiến tới sự phát triển bền vững trong tương lai.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]