Võ Chuẩn

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Võ Chuẩn
Bút danh Thạch Xuyên
Công việc Thượng thư
Quốc gia Standard of the Nguyen Dynasty (1890 - 1920).svg An Nam
Dân tộc Việt
Học vấn Hán học
Thể loại Thơ
Trào lưu Cổ điển
Tác phẩm nổi bật Thạch Xuyên thi tập
Vợ/chồng Công Tằng Tôn Nữ Khẩn Đàn
Con cái 1 nam
3 nữ
Thân nhân Võ Khoa (nội tổ phụ)

Võ Chuẩn (chữ Hán: 武準, 1895 - 1956), tự Thạch Xuyên (石川), là một quan đại thần triều Nguyễn.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Võ Chuẩn sinh năm 1895 tại làng Thần Phù, huyện Hương Thủy, phủ Thừa Thiên (nay là phường Thủy Châu, thị xã Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên). Ông là trưởng nam của quan Lễ bộ Thượng thư Đông các Đại học sĩ Xuân Hòa hầu Võ Liêm và thuộc đời thứ 12 của vọng tộc Võ Tá. Thân mẫu của ông là cụ bà Tôn Nữ Thị Tiếp.

Lúc trẻ, Võ Chuẩn từng theo học các trường Hậu bổHuế và Thuộc địa ở Paris. Ban đầu, ông làm việc ở tòa hành chính Khâm sứ Trung Kỳ, rất mau chóng được thăng Tham tá của Tòa Khâm sứ (1923 - 1930).

Năm 1930, Võ Chuẩn được chuyển ngạch sang làm quan chức Nam triều. Đến năm 1933 thì ông được bổ chức Quản đạo Kontum, 1938 thì làm Tuần vũ Quảng Bình, 1939 lại làm Tuần vũ Quảng Ngãi. Năm 1940, ông được thăng Tổng đốc Quảng Nam, hàm Thượng thư, trật chánh nhị phẩm. Không bao lâu sau thì về trí sĩ.

Võ Chuẩn mất tại Sài Gòn vào năm 1956.

Tác phẩm[sửa | sửa mã nguồn]

Theo hồi tưởng của con gái Linh Bảo[1], lúc sinh tiền ông Võ Chuẩn rất chăm làm thơ, văn, phú, tế, đối... Thông lệ sau mỗi bữa tối, ông thường ngâm thơ cho các con nghe. Hễ ai thuộc trước, đọc lại đúng, dù chưa kịp hiểu nghĩa thì cũng được thưởng một cái kẹo dừa. Sau này con cháu gom các di cảo của ông thành Thạch Xuyên thi tập (石川詩集) để lưu trữ.

Ngoài ra, trong thời gian làm quan ở Kontum, Võ Chuẩn có soạn tác phẩm Văn tế âm hồn ở Kontum[2] để tuyên đọc vào ngày 27 tháng 10 năm 1933, trong lễ chẩn tế tại Linh Sơn tự.

Gia thế[sửa | sửa mã nguồn]

Võ Chuẩn kết hôn với Công Tằng Tôn Nữ Khẩn Đàn, thuộc dòng dõi Tuy Lý vương, sinh 2 nam và 2 nữ. Ngoài ra, ông còn có một người vợ nữa, sinh cho ông thêm 2 nam và 3 nữ. Bên cạnh đó, rất nhiều phụ nữ khác vì mến tài của ông mà theo. Một người đã sinh cho ông thêm một con trai.

  • Trưởng nam: Võ Quyền
  • Thứ nam: Võ Hoành
  • Trưởng nữ: Võ Thị Linh Bảo (tên khác: Diệu Viên) (? - ?), tức Nữ Sĩ Linh Bảo
  • Thứ nữ: Võ Thị Cam (1916 - 2014), kết hôn với Hồ Văn Tập.
  • Út nữ: Võ Thị Hoài Trinh (1930 - 2017), tức nhà thơ Minh Đức Hoài Trinh[4].
  • Ngoài ra, ông có những người con sau đây:
    • Võ Sum
    • Võ Tuyết Phiến
    • Võ Thị Băng Thanh (dịch giả, có đóng góp cho bản dịch Nỗi Buồn Chiến tranh. Mất ngày 2/4/2017)
    • Võ Tá Bá
    • Võ Tá Ngô, Con gái tức cháu nội: *** Võ Thị Quỳnh Hương.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]