Áo cưới

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
 Bộ váy cưới màu trắng năm 1891.

Váy cưới, áo cưới hay áo choàng cưới là lễ phục của cô dâu trong hôn lễ. Màu sắc, phong cách và tầm quan trọng của áo cưới phụ thuộc vào tôn giáovăn hóa của những người tham dự đám cưới. Trong nền văn hóa phương Tây, cô dâu thường chọn một chiếc váy cưới màu trắng, được Nữ hoàng Victoria phổ biến trong thế kỷ XIX. Trong nền văn hóa phương Đông, các cô dâu thường chọn màu đỏ vì nó tượng trưng cho sự thịnh vượng.

Nền văn hóa phương Tây[sửa | sửa mã nguồn]

Vào thời Trung cổ, đám cưới không chỉ đơn thuần là việc kết hôn của hai người. Nó có thể là cuộc hôn nhân gắn kết giữa 2 gia tộc, 2 doanh nghiệp hay thậm chí là 2 nước với nhau. Nhiều đám cưới xem trọng chính trị hơn là tình yêu, nhất là trong giới quý tộc và thượng lưu. Do đó cô dâu phải mặc trang phục để thể hiện lên đẳng cấp và địa vị xã hội của gia đình họ, chứ không được vì bản thân. Những cô dâu quyền quý thường mặc những màu rực rỡ bằng những chất liệu độc quyền. Nó thường là tông màu sẫm bằng lông thú, nhunglụa. Cô dâu thường chọn những mẫu thịnh hành nhất được may bằng chất liệu thượng hạng nhất mà gia đình mình có thể mua. Những cô dâu nghèo nhất thì chọn áo cưới ở nhà thờ trong hôn lễ của họ. Ý nghĩa và giá cả của một chiếc váy cưới nói lên địa vị xã hội của cô dâu cũng như ám chỉ sự giàu có của gia đình với khách mời. 

Nhìn từ bên phải, người phụ nữ đang mặc bộ trang phục cưới điển hình trong thập niên 60. Cho tới cuối những năm 60 của thế kỷ XX, những thiết kế ấy lại được ưa chuộng. Thời kì này, áo cưới thường được thiết kế theo phong cách của nữ hoàng Victoria 

Các tài liệu đầu tiên là của công chúa Philippa người mặc một chiếc váy cưới màu trắng với một chiếc áo choàng bằng lụa trắng được may viền bằng lông chồn xám trong một lễ cưới hoàng gia Anh năm 1406. Năm 1559, Mary Stuart mặc một chiếc váy cưới màu trắng khi cô kết hôn với người chồng đầu tiên, Francis Dauphin người Pháp vì đó là màu yêu thích của cô, mặc dù màu trắng đại diện cho tang tóc. [1][2]

Đây không phải là xu hướng phổ biến, tuy nhiên trước thời đại của Nữ hoàng Victoria, cô dâu được mặc bất kỳ màu sắc nào khi kết hôn. Màu đen là màu đặc biệt phổ biến ở Scandinavia. [3]

Màu trắng trở nên thông dụng vào năm 1840, sau lễ cưới của Nữ hoàng Victoria cùng với Albert của nước Saxe-Coburg; ở đó Victoria mặc một chiếc áo choàng màu trắng kết hợp ren, bộ áo cưới của cô đã được đánh giá cao. Các bức ảnh chân dung đám cưới được chính thức công bố rộng rãi, và rất nhiều cô dâu đã chọn màu trắng như Nữ hoàng. [4]

Thậm chí sau này, váy cưới cũng được dựa theo phong cách này. Ví dụ, trong những năm 20 của thế kỷ 20, chúng thường được cắt ngắn ở phía trước và được may dài ở phía sau và đi kèm với chiếc nón có mạng che mặt hình chuông. Xu hướng này thịnh hành cho đến cuối những năm 60, khi nó trở nên phổ biến trở lại sau một thời gian khá lâu, thiết kế của bộ áo cưới này gợi nhớ đến thời đại của Nữ hoàng Victoria.

Ngày nay, váy cưới phương Tây thường có màu trắng, mặc dù là "áo cưới trắng" nhưng cũng có các màu sậm hơn như màu vỏ trứng, màu mộc và màu ngà.

Sau này, nhiều người cho rằng màu trắng tượng trưng cho sự trong trắng, mặc dù đây không phải là ý nghĩa ban đầu: nó là màu xanh được hòa với sự tinh khiết, đạo đức, lòng trung thành, và Đức Mẹ Maria.

Thời trang hiện tại[sửa | sửa mã nguồn]

Váy cúp ngực hoặc không tay chiếm đến 75% thị trường áo cưới, một phần vì các nhà thiết kế không cần quá nhiều kĩ năng cũng như dễ thay đổi kích cỡ nó để vừa vặn hơn. Tuy nhiên, trong những năm gần đây, áo cưới có tay cũng như có dây đều trở nên phổ biến rộng rãi hơn.

Nền văn hóa phương Đông[sửa | sửa mã nguồn]

Một cô dâu tại Bengal, Ấn Độ

Nhiều váy cưới ở Trung Quốc, Ấn Độ (sari cưới), Pakistan (salwar kameezlehengas) và Việt Nam (áo dài truyền thống) sẽ có màu đỏ, màu truyền thống của may mắn và an lành. Ngày nay, phụ nữ lựa chọn nhiều màu sắc khác ngoài màu đỏ. Trong đám cưới hiện đại ở Trung Quốc, cô dâu có thể lựa chọn trang phục của phương Tây với bất kỳ màu sắc nào, và sau đó mặc một bộ trang phục truyền thống cho lễ trà chính.

Trang phục cưới truyền thống thời nhà Thanh với mũ phượng, ở Trung Quốc vẫn được sử dụng trong đám cưới của người Đài Loan ngày nay.

Đám cưới ngày nay ở Đài Loan các cô dâu thường chọn lụa màu đỏ (theo truyền thống Trung Quốc) hoặc màu trắng (theo phương Tây) làm chất liệu may áo cưới, nhưng hầu hết sẽ mặc quần áo màu đỏ truyền thống vào tiệc cưới chính. Theo truyền thống, cha của cô dâu phụ trách tổ chức tiệc cưới sang trọng bên nhà gái và rượu (đặc biệt là "xi-jiu") dùng trong tiệc của hai bên gia đình. Trong khi hôn lễ chính dành cho đôi vợ chồng, thì những tiệc cưới tượng trưng cho "lời cảm ơn", sự cảm kích tới những người đã nuôi nấng, dìu dắt cô dâu và chú rể (như ông bà và chú bác) cùng những người vẫn sẽ giúp đỡ họ trong tương lai. Vì vậy, với sự tôn trọng dành cho những người lớn tuổi, tiệc cưới thường được thực hiện theo nghi thức trang trọng và mang đậm nét truyền thống.

Trong văn hóa Ấn Độ, các cô dâu sẽ chọn Sari cưới màu đỏ. Vải Sari cũng là lụa theo truyền thống. Theo thời gian, màu sắc và vải dành cho cô dâu Ấn Độ đã được đa dạng hóa. Ngày nay, các loại vải như crepe, georgette, charmeuse, và sa-tin được sử dụng, và màu sắc đã được mở rộng bao gồm vàng, hồng, cam, nâu sẫm… Cô dâu Ấn Độ ở các nước phương Tây thường mặc Sari tại lễ cưới và thay đổi thành lễ phục truyền thống của Ấn Độ sau đó (như là Lehnga, Choli, vv).

Lễ phục cưới của người Nhật vẫn không thay đổi

Đám cưới Nhật Bản thường cần một bộ Kimono trắng truyền thống cho buổi lễ chính, tượng trưng cho sự tinh khiết và trong trắng. Các cô dâu có thể đổi thành bộ Kimono màu đỏ cho những buổi tiệc sau lễ cầu may.

Những Người Ja-va ở Indonesia mặc Kebaya - một loại áo truyền thống, kèm với Batik.

Tại Philippines, các biến thể của Baro't Saya phù hợp với hôn lễ trắng truyền thống được coi như là trang phục cưới cho phụ nữ, còn nam giới là Tagalog Barong. Các bộ lạc và người Hồi giáo ở Philippines mặc những kiểu trang phục truyền thống khác trong những buổi lễ của mình.

Nền văn hóa bản địa châu Mỹ[sửa | sửa mã nguồn]

Cô dâu ở Apache

Các dân tộc bản địa châu Mỹ có truyền thống đám cưới khác nhau do đó lễ phục cưới cũng khác nhau. Một cô dâu Hopi theo truyền thống sẽ có sẵn trang phục được dệt bởi chú rể và bất kỳ người đàn ông trong làng nào muốn tham gia may lễ phục. Những bộ lễ phục đó bao gồm một đai lưng lớn, hai áo cưới màu trắng, một chiếc áo cưới trắng với sọc đỏ ở trên và dưới, một cái quần làm bằng da hoẵng và giày da đanh, một xâu chuỗi để buộc tóc và một thảm sậy để bọc các bộ lễ phục lại. Lễ phục này cũng được xem như là một tấm vải liệm, vì nó được dùng trong chuyến đi về thế giới bên kia. 

Tại Pueblo, cô dâu sẽ khoác lên mình bộ lễ phục là áo có miếng bông gắn trên vai phải cùng một vòng đai quanh eo.  

Trong truyền thống của Delaware, cô dâu mặc một chiếc váy dài đến đầu gối làm bằng da hoẵng và đeo một dây chuỗi làm bằng vỏ sò quanh trán. Ngoại trừ các hạt đá quý hoặc dây chuyền vỏ sò, cô dâu không cần mặc gì từ thắt lưng trở lên. Nếu đám cưới được tổ chức vào mùa đông, cô dâu sẽ mặc quần da hoẵng, mang giày da đanh và khoác chiếc áo choàng lông gà tây. Khuôn mặt sẽ được vẽ bằng đất sét màu trắng, đỏ và vàng.

Đối với các bộ tộc thuộc phía Bắc California (bao gồm cả Klamath, ModocYurok) trang phục truyền thống của cô dâu được phân biệt qua màu sắc, nhằm làm biểu tượng đặc trưng cho từng vùng: màu trắng cho phía Đông, màu xanh cho phía Nam, vàng (màu cam) cho phía Tây và màu đen cho phía Bắc. Ngọc lam và đồ trang sức làm bằng bạc được cả cô dâu và chú rể đeo trên người, thêm vào đó là một thắt lưng bằng bạc concho. Trang sức được coi là một lá chắn chống lại các tệ nạn bao gồm cả đói, nghèo và bất hạnh.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Lịch sử của trang phục cưới [sửa | sửa mã nguồn]

Trang phục cưới truyền thống của các quốc gia trên thế giới[sửa | sửa mã nguồn]

Váy cưới của các nước Trung Đông[sửa | sửa mã nguồn]

Lễ phục cưới truyền thống của châu Á[sửa | sửa mã nguồn]

Trang phục cưới của các quốc gia Nam Á[sửa | sửa mã nguồn]

Váy cưới hiện đại ở các nước phương Tây[sửa | sửa mã nguồn]

Ghi chú[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Mary, Queen of Scots’ first wedding day”. Truy cập ngày 21 tháng 11 năm 2014. Mary’s choice of a white wedding dress was an unusual one, particularly as white was more traditionally worn by royal ladies when they were in dieul blanc mourning but in this as in other things the strong willed Mary may well have been an innovator, keen to not just impress her own taste on her wedding day (after all, she hadn’t been allowed the privilege of choosing her groom) but also emphasise her virginity and show off her famously pale redheaded beauty, which would have been accentuated by a pure white dress. 
  2. ^ “Elizabeth I Facts”. Truy cập ngày 21 tháng 11 năm 2014. Her favourite dress colours were white and black which symbolised purity. 
  3. ^ "Old Marriage Customs in Finland" Old Marriage Customs in Finland
  4. ^ "Royal Weddings 1840 - 1947: From Queen Victoria to Queen Elizabeth II" History of the Wedding Dress

Nguồn tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]