Trang phục Việt Nam

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Trang phục của người Việt Đàng Ngoài, chua là Caupchy cùng chữ Nho "交趾" Giao Chỉ, trích trong sách Boxer Codex soạn năm 1595 của người Tây Ban Nha ghi chép về quần đảo Philíppin và các xứ lân bang
Trang phục của người Việt Đàng Trong, chua là Canglan cùng chữ Nho "廣南" Quảng Nam. So sánh với người Đàng Ngoài thì không khác nhau mấy
Trang phục người Việt theo sách Vạn quốc nhân vật chi đồ của Nhật Bản in năm 1645 đối chiếu với nhà Hậu Lê Việt Nam
Áo dài ngũ thân
Áo dài truyền thống: nam mặc áo thụng và nữ mặc áo choàng mệnh phụ, loại áo trực lĩnh, cài trước ngực

Trang phục Việt Nam, hay Y phục Việt Nam, hay Phục sức Việt Nam là tên gọi chung cho lối mặc quần áo của người Việt Nam.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Quần áo[sửa | sửa mã nguồn]

Trước thời Bắc thuộc thì có sách ghi người Việt mặc áo cài bên trái,[1] nhưng hình dạng thì không rõ. Kể từ thời tự chủ thế kỷ thứ 10 trở đi thì áo người Việt đại thể có ba loại căn cứ theo cách cắt cổ áo:[2]

  1. Áo giao lãnh, phía trước cổ là vạt bên trái buộc chéo sang hông bên phải;
  2. Áo trực lĩnh, phía trước cổ để buông thõng thành hai vạt song song;
  3. Áo viên lĩnh, hay bàn lĩnh, cổ áo cắt tròn ép sát vòng cổ, cài bên phải.

Ba loại áo này cùng có mặt nhưng khác nhau ở mức phổ biến trong dân gian tùy từng thời kỳ.

Đàn bà còn dùng yếm một mảnh vải vuông che phần ngực, một góc cắt lẹm đi rồi đính hai dải vải buộc vào sau gáy. Hai góc trái và phải cũng đính hai dải vải, gọi là dải yếm, dài đủ để quành ra sau lưng rồi buộc lại ở trước ngực. Khi ở nhà làm lụng người đàn bà có khi chỉ mặc yếm.[3] Khi ra ngoài giao tiếp mới mặc thêm áo.

Ở phía dưới bụng thì ngày xưa đàn ông đóng khố, đàn bà mặc váy. Khố là mảnh vải hẹp mà dài. Người mặc quấn quanh bụng vài vòng rồi chèn từ phía trước bẹn ra sau cài chặt lại. Tích Chử Đồng Tử từ thời Hùng Vương đã nhắc tới việc trang phục dùng khố. Quần thì có lẽ sau khi người Việt tiếp xúc với văn hóa Trung Hoa mới có lệ mặc quần.[4]

Thời Lý, Trần[sửa | sửa mã nguồn]

Thời , Trần, người Việt mặc loại áo dài cổ tròn (viên lĩnh) 4 vạt. Từ bụng xuống thì đàn bà mặc váy, đàn ông mặc quần hoặc chỉ đóng khố dưới vạt áo. Áo may dài quá đầu gối, không cài khuy mà buộc vạt bên phải. Sứ giả Triệu Nhữ Thích bình rằng lối ăn mặc người Việt thời bấy giờ (1125) không khác người Tống là mấy.[5].

Thời Lê[sửa | sửa mã nguồn]

Sang thời nhà Lê thì áo giao lãnh phổ biến hơn, dùng làm thường phục trong dân gian. Màu sắc áo cũng đã thành lệ: đàn ông thường dùng áo màu xanh, khi có việc trọng đại thì dùng màu đen, màu thẫm. Người làm ruộng thì dùng màu nâu. Bông vải là hàng chính. Chỉ người sang trọng mới dùng hàng tơ lụa. Quần thì chỉ có hai màu trắng và nâu. Họa hoằn những người giàu có hay già cả mới dùng quần màu đỏ.

Căn cứ theo minh họa trong sách Vạn quốc nhân vật chi đồ của Nhật Bản soạn năm 1645 thì vẽ người đàn bà đội nón rộng, để tóc dài, mặc váy ở dưới, phía trên mặc thứ áo trông như áo giao lĩnh buông thõng hai vạt. Đàn ông thì búi tóc, mặc một loại rộng, cài bên phải.

Thời Trịnh Nguyễn phân tranh thế kỷ 18, chúa Nguyễn Võ VươngĐàng Trong có sắc quy định y phục trong Nam, nhất là lối ăn mặc của phụ nữ, bỏ váy mà mặc quần, còn áo thì cài khuy, bỏ lối thắt vạt.[1] Đàng Ngoài thuộc chúa Trịnh thì vẫn giữ áo tứ thân buộc vạt. Có nhiều nhà nghiên cứu cho rằng là "Áo tứ thân" có thể đã ra đời từ thế kỷ 12. Áo tứ thân hình dạng tương đồng với áo Bối Tử thời Tống[6].

Thời Nguyễn[sửa | sửa mã nguồn]

Ba Biêu, nghĩa quân của Đề Thám đầu đội khăn xếp chữ nhân bảy nếp

Thời Nguyễn thì nam giới cả hai miền Nam Bắc đã quen mặc áo dài, một loại áo viên lĩnh cổ đứng may bằng năm khổ vải, thân áo dài quá đầu gối, tay áo hẹp. Đàn bà từ Hoành Sơn vào Nam cũng mặc áo dài nhưng khác áo đàn ông chút ít với thân áo may dài hơn; gấu áo dài quá bắp chân.[2] Phía dưới mặc quần. Đàn bà từ Hà Tĩnh trở ra vẫn mặc áo tứ thân, một loại áo giao lĩnh xẻ trước ngực và mặc váy.

Lễ phục thì còn vẫn dùng áo giao lãnh buộc chéo, nhưng khoác ra bên ngoài cùng khi hành lễ, gọi là áo thụng hay bổ phục.[2]

Áo trực lĩnh (xẻ trước ngực) với tay áo thật rộng thì là lễ phục khoác ra ngoài của nữ giới quyền quý trong chốn cung đình, gọi là áo mệnh phụ.[2]

Ngoài ra áo viên lĩnh không có cổ đứng gọi là áo bào, dùng làm lễ phục của các quan đại thần, vương tôn.[2]

Đến thế kỷ 19 thường phục người Việt đại để mặc một loại áo ngắn, cài giữa ngực. Miền Bắc gọi là áo cánh, miền Nam dùng loại áo tương tự nhưng dài hơn và xẻ ở hai bên hông, gọi là áo bà ba. Áo cánh thì không xẻ ở bên hông. Phía dưới thì đàn ông mặc quần lá tọa. Quần này may sâu đũng để có thể kéo cạp quần lên cao hay xuống thấp để cho ống quần dài hay ngắn tùy ý; cạp quần buông loà xòa, buộc bằng thắt lưng ở bụng. Đàn bà miền Bắc mặc váy, buộc thắt lưng và ruột tượng; miền Nam mặc quần.

Đàn bà ở nhà có khi chỉ mặc yếm. Ra ngoài thêm áo cánh, áo tứ thân, hay áo dài.

Về mắu sắc thì người dân quê làm ruộng, quần áo hay nhuộm màu nâu hay đen, chỉ những khi nhàn nhã mới mặc màu trắng hay màu tươi như yếm màu hồng, màu đào.[4]

Khăn, tóc[sửa | sửa mã nguồn]

Bức họa đám rước thánh ở Bắc Kỳ, thế kỷ 19, cho thấy lối trang phục đàn ông: thân mặc áo dài, dưới bụng mặc quần, đầu đội khăn xếp
Vua Hoằng Tông nhà Nguyễn, đầu đội khăn lượt chữ nhất, bảy nếp

Thời Lý, Trần đàn ông đàn bà đều để tóc ngắn, đầu trần. Đàn bà để tóc dài hơn đàn ông độ 1 tấc [6].

Thời Lê Trung Hưng lại để tóc dài, xõa ra sau lưng. Quấn tóc hoặc búi tóc được coi là kém trang trọng.

Đến thời nhà Nguyễn thì đàn ông thường búi tóc. Người nhiều tóc thì búi tó to được cho là đẹp. Đàn bà phía nam sông Gianh cũng búi tóc còn đàn bà phía bắc cuộn tóc vào trong khăn rồi quấn thành một vòng quanh đầu.[1] Hình dáng búi tó thông tục gọi là "búi tó củ hành" hay "búi tó củ kiệu".[7]

Phục sức trên đầu thì người Việt dùng khăn. Thời Lý đàn ông dùng khăn vấn quấn đỉnh đầu, nhưng khăn vấn nhỏ và che kín đỉnh đầu chứ không để lộ đỉnh như thời Nguyễn. Thời Trần, Lê không còn thấy người ta vấn khăn. Người lớn tuổi, người quyền quý thì dùng 1 khổ vải vuông phủ lên tóc mà thôi.

Vấn khăn như ta thấy ngày nay chỉ xuất hiện vào thời Nguyễn.[6] Khăn là một mảnh vải gồm 12, 13 vuông vải bằng nhiễu hay lượt khâu lại thật dài dùng quấn quanh đầu. Người đội khăn quấn năm hay bảy vòng. Số năm tượng trưng cho ngũ thường và số bảy là bảy vía của người đàn ông. Đột khăn có công dụng giữ búi tóc cho chặt, khỏi tung ra. Sau này sang thế kỷ 20 để thêm tiện, người đàn ông khi mặc áo dài thì dùng khăn đóng sẵn, gọi là khăn đóng không cần quấn.

Khăn đàn ông thì chỗ chân tóc trên trán có thể xếp thành dạng chữ "nhất" (chữ Nho: 一) hay chữ "nhân" (人)[2] với nếp trái đè lên nếp phải[8] tạo bằng hai vòng quấn đầu tiên. Đàn bà miền Bắc thì dùng khăn bao lấy tóc rồi quấn vòng chung quanh đầu. Trong Nam thì chỉ búi tóc rồi trùm khăn.

Người Việt còn dùng nhiều loại nón như nón lá, nón quai thao.

Giày dép[sửa | sửa mã nguồn]

Người nhà quê thuở trước thường đi chân đất. Khi có việc thì mới xỏ chân đi guốc bằng gỗ hay gộc tre, buộc quai dọc tết bằng dây mây, sau mới dùng quai ngang bằng da. Guốc phụ nữ đẽo thon hơn trong khi guốc đàn ông to bản, tục gọi là guốc xuồng. Gỗ thường để mộc nguyên màu không sơn phết nên gọi là guốc mộc. Người sang hơn thì mới dùng guốc sơn.[9]

Không rõ người Việt dùng guốc từ thời nào nhưng sách Giao Châu ký của Trung Hoa thì kể rằng Bà Triệu (thế kỷ thứ 3) chân đi guốc bằng ngà voi.[9]

Ở thành thị đàn ông lẫn đàn bà còn dùng dép. Dép một đơn giản nhất chỉ là một lớp da trâu, có khi đan bằng sơ dừa hay bằng cói, không có đế. Người đi xỏ ngón chân vào lỗ khuyết ở đằng mũi. Ở mu bàn chân có thêm một quai thẳng ngang như chữ "nhất" nên gọi là dép một.[3]

Sang trọng hơn thì đàn bà đi dép cong đóng bằng bốn năm lớp da trâu. Đầu mũi dép vót nhọn và dùng đanh tre uốn cao vồng lên che hẳn đầu ngón chân. Người đi xỏ ngón chân thứ hai[10] vào vòng bằng da ở đằng mũi. Vì loại dép này nặng nên người đi dép cong không thể đi đứng nhanh nhẹn được.[3]

Đàn ông thì đi dép Gia Định, cũng gọi là giày Gia Định. Một đặc danh nữa là dép Chi Long. Dép làm bằng da, gót cao 2–3 cm. Mũi giày bọc da ôm lấy mu bàn chân và chạy bọc quành ra đến gót. Giày sơn đen hoặc đỏ. Vào thế kỷ 19-20 người đàn ông chân đi giầy Chi Long hay Gia Định thì coi là đã ăn bận sang trọng lắm.[11]

Lễ phục[sửa | sửa mã nguồn]

Lễ phục của vị quan địa phương là áo giao lĩnh rộng tay đính bố tử ở ngực
Đôi hia thêu, một phần trong bộ triều phục của các quan khi vào chầu vua

Khi tế lễ trong dân gian thì dùng loại áo rộng, ống tay dài, gọi là áo tế hay áo thụng.

Khi có tang thì dùng màu trắngvải sô, đầu thắt khăn trắng hoặc mũ mấn hình dạng theo tang chế.

Vua quan thì có lễ phục riêng, có đai mãng, xiêm, ủng, hia, mũ Đinh Tự, Phốc Đầu, mũ cánh chuồn, mũ trụ. Vua thì dùng màu vàng. Phẩm phục các quan thì tùy theo cấp bậc, dùng màu đỏ hay màu tía.

Thế kỷ 20[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: áo dài

Vào thập niên 1930 họa sĩ Cát Tường trong nhóm Tự lực Văn đoàn đưa áo dài đi một bước dài bằng cách tân kiểu áo cho hợp với thời đại.

Áo dài trắng đã trở thành trang phục bắt buộc tại nhiều trường phổ thông cấp III ở Việt Nam. Các giáo viên nữ mặc Áo dài mỗi buổi lên lớp. Một số nữ nhân viên văn phòng như tiếp tân, thư ký, hướng dẫn viên du lịch cũng mặc Áo dài khi làm việc. Ngày nay các Trường Đại học nữ SVHS chỉ mặc vào ngày đầu tuần. Và theo đánh giá của một tờ báo ở Nhật dường như chỉ có dáng của người con gái Việt Nam mặc áo dài đẹp nhất.Ngày nay Hoa hậu trái đất cũng mặc Áo dài khăn đóng[12] Vì sự phổ biến của nó, áo dài đã trở thành biểu tượng quốc gia, đại diện cho các giá trị văn hóa Việt Nam.

Trong đời sống thường nhật ngày nay, trang phục đã theo phong cách phương tây. Những bộ quần áo truyền thống chỉ được mặc trong những dịp đặc biệt. Phụ nữ có thể không mặc váy hoặc tùy thích.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Đào Duy Anh. Việt Nam văn hóa sử cương. Houston, TX: Xuân Thu, ?. trang 172-6.
  • Trần Quang Đức. Ngàn năm áo mũ. Nhã Nam, 2013.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]