Yếm

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Bức Đoan Dương hô anh đồ (端陽戲嬰圖) do tác giả Tô Hán Thần vẽ khoảng thế kỷ XII, mô tả ba đứa trẻ mặc yếm đang chơi đùa.
Một chiếc yếm thêu cho bé trai Trung Hoa, thập niên 1950.
Họa hình người đàn bà Đàng Ngoài mặc yếm ngũ sắc trong Boxer Codex, 1595.
Người đàn bà và đứa trẻ mặc yếm, Hà Nội, 1900 - 1915.
Hai người mẫu mặc yếm giả cổ, 2008.

Yếm (chữ Hán: 兜子 / Đâu-tử, chữ Nôm: 𧞣) là cách gọi vuông vải che ngực của phụ nữtrẻ con ở cộng đồng Hán quyển.

Lược sử[sửa | sửa mã nguồn]

Trung Hoa[sửa | sửa mã nguồn]

Theo sử ký, yếm phát sinh từ thói quen ăn mặc của Dương quý phi nhà Đường[1], được gọi là Đỗ-đâu (肚兜, Belly wrap), Đâu-đỗ (兜肚, Wraps the belly), Đâu-đâu (兜兜, Wrappy, Little wrap). Tuy nhiên, các chứng tích khảo cổ đã xác thực thứ áo che ngực xưa hơn của phụ nữ thời Tần, gọi là Tiết-y (褻衣).

Vào thời Minh, các bé gái bắt đầu mặc yếm từ khi lên ba tuổi. Quanh áo thường buộc những túi nhỏ đựng gừng, xạ hương và các loại thảo mộc khác để điều hòa khí trong cơ thể. Thời này, yếm luôn được nhuộm đỏ với quan niệm xua đuổi tà ma của tín ngưỡng dân gian Trung Hoa. Nhưng sang thời Thanh, yếm lại thêm tác dụng ép cho phẳng ngực, vì thế luôn được may bó chặt lấy thân. Mãi đến năm 1927, mới có luật cấm lối cắt may đó sau nhiều thập kỷ tranh cãi gay gắt, một sắc lệnh được ban hành trước tiên tại Quảng Đông và từ đó nhân rộng ra toàn Hoa lục.

Hiện nay, yếm trở thành đối tượng đáng khai thác của ngành thời trang Tây phương, gồm các nhãn hiệu trứ danh như Versace[2], Versus[3], Miu Miu[4]. Xu hướng này thậm chí đã dội ngược vào xã hội Hoa lục, nhiều nhà thiết kế thời trang, gồm cả nữ minh tinh Chương Tử Di, đã kết hợp mặc yếm với quần áo thể thao[5][6]. Nhiều người Trung Hoa lão thành (đôi khi còn nghiêm khắc) đã kịch liệt phủ nhận sự cách tân đó[7][8].

Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Khoảng thời Lê trung hưng trở đi, yếm có cổ khoét tròn được gọi là yếm cổ xây, cổ nhọn đầu như chữ V gọi yếm cỗ xe, đáy chữ V khoét sâu là yếm cổ nhạn. Phụ nữ Việt Nam thường kết hợp yếm với váy đụp.

Đặc điểm[sửa | sửa mã nguồn]

Yếm là một miếng vải mỏng manh có khổ vuông, hai đầu nhọn đính dây để nẹp vào cổeo cốt che kín từ ngực đến rốn. Trẻ con khi mới sinh thường được cho mặc yếm đỏ để chúc phúc và tránh tà, khi đến tuổi trưởng thành thì chỉ nữ lưu còn dùng yếm.

Ngoại trừ màu vàng là đặc quyền của hoàng đế, các màu khác tùy theo. Hầu hết phụ nữ ưa dùng các màu trắng, mỡ gà, điều, bã trầu, hoa cà, nâu, cũng có các màu nõn chuối, cánh trả, gốm nhưng hiếm hơn. Cứ theo thi phẩm Thập giới cô hồn quốc ngữ văn (十戒孤魂國語文) của tác giả Lê Thánh Tông, các hoa nương thường chuộng mặc "yếm chéo cánh, cạnh thêu", có màu "lục cổ vẹt, đỏ tiết dê, xống dang chân thắt đáy".

Người phong lưu dùng yếm dệt từ lụa hoặc thổ cẩm, dân hạ lưu chọn các loại vải kém bền hơn như bông, tơ chuối. Mặt yếm có thể thêu hoa, bướm hoặc uyên ương, trường hợp đặc biệt hơn là con dơi (phúc), quả ổi (lộc), quả đào (thọ) hoặc các biểu hiện đạo đức.

Suốt thời Minh Thanh, yếm là dụng cụ ép cho phẳng ngực phụ nữ, cho nên các nhà quyền quý thường dùng chất liệu vải dày hoặc đồng, bạc, vàng.

Nghệ thuật hóa[sửa | sửa mã nguồn]

Nhất Nhị Tam Tứ
Chưa chồng nón thúng quai thao,
Chồng rồi nón rách quai nào thì quai.
Chưa chồng yếm thắm đeo hoa,
Chồng rồi hai vú bỏ ra tày giành.

Hỡi cô yếm thắm lòa lòa,
Sao cô không bảo mẹ già nhuộm thâm.
Ước gì anh được ở gần,
Để anh nhuộm hộ thấm nhuần công anh.

Cái cốc mày lặn ao chà,
Bay lên rủ cánh làm nhà chị nương.
Yếm thắm mà nhuộm hoa nương,
Cái răng hạt đỗ làm tương anh đồ.
Yếm thắm mà vã nước hồ,
Vã đi vã lại anh đồ yêu đương.

Đi đâu đào liễu một mình,
Hai vai gánh nặng nhật trình đường xa.
Áo sồng em để trong nhà,
Ba vuông nhiễu tím phất phơ đội đầu.
Yếm điều em hãy còn màu,
Răng đen da trắng, mái đầu còn xanh.
Ở vậy làm sao cho đành,
Sao không kiếm chốn, thế tình mỉa mai.
Chữ rằng: Xuân bất tái lai,
Sách có chữ rằng: Xuân bất tái lai.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Lịch sử Đỗ Đâu”, Thời trang Trung Hoa .
  2. ^ “Spring 2000 Ready-to-Wear: Versace”, Vogue, 2000 
  3. ^ “Spring 2000 Ready-to-Wear: Versus Versace”, Vogue, 2000 
  4. ^ “Spring 2000 Ready-to-Wear: Miu Miu”, Vogue, 2000 
  5. ^ Farrer, James và đồng nghiệp (2015), Shanghai Nightscapes, Chicago: University of Chicago Press, tr. 198 
  6. ^ Farrer, James (2002), Opening Up: Youth Sex Culture and Market Reform in Shanghai, Chicago: University of Chicago Press, tr. 311 
  7. ^ Zhao Jianhua, The Chinese Fashion Industry: An Ethnographic Approach, London: Bloomsbury Academic, tr. 1 .
  8. ^ Qiu Xiaolong (2009), The Mao Case, New York: Minotaur Books, tr. 2