Trò Xuân Phả

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Trò Xuân Phả (TXP), là các trò diễn dân gian mô tả cảnh năm phương đến chầu, đem những tiết mục múa hát đặc sắc của quốc gia họ để chúc mừng Hoàng đế nước Việt xưa. Trò Xuân Phả được hình thành và phát triển qua hàng nghìn năm để trở thành một tổ hợp múa dân gian đặc sắc, độc nhất vô nhị chỉ tồn tại ở làng Xuân Phả nay thuộc xã Xuân Trường, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa. TXP gồm có 5 điệu múa rất đặc biệt với tên gọi Hoa Lang, Tú Huần (Lục Hồn Nhung), Ai Lao, Ngô QuốcXiêm Thành (Chiêm Thành). Trò Xuân Phả thường diễn ra vào các ngày 10 từ đến 12 tháng 2 âm lịch hàng năm.[1]

Nguồn gốc múa TXP[sửa | sửa mã nguồn]

Nhiều nhà nghiên cứu khẳng định trò Xuân Phả tồn tại từ đời nhà Đinh, sau khi Đinh Bộ Lĩnh dẹp loạn 12 sứ quân và lên ngôi vua.[2]

Truyền thuyết địa phương kể lại rằng, vào thời Vua Đinh, đất nước có nạn giặc ngoại xâm, nhà Vua sai sứ giả đi khắp nơi cầu bách linh, bách tính và hiền tài cùng nhau đứng lên đánh giặc cứu nước. Khi sứ giả đi đến bờ sông Chu thì gặp giông tố phải trú lại trong Nghè Xuân Phả. Đến đêm, thần Thành hoàng làng Xuân Phả báo mộng về cách phá giặc, sứ giả vội về bẩm cáo lại với nhà Vua. Vua thấy kế hay nên làm theo và quả nhiên thắng trận. Để tỏ lòng biết ơn Thành hoàng làng Xuân Phả, nhà Vua đã phong tặng tước vương gọi là Đại Hải Long Vương. Nhà vua còn ban thưởng cho dân Xuân Phả năm điệu múa trò để hàng năm dâng lên Thành hoàng trong ngày hội làng. Có thể khẳng định rằng TXP là vũ điệu dân gian giành riêng cho Đại Hải Long Vương thành hoàng làng Xuân Phả.

Ngày nay, ở xã Thọ Tân, Triệu Sơn, Thanh Hóa còn đền thờ Vua Đinh Tiên Hoàng và những ghi chép về nguồn gốc hình thành Trò Xuân Phả [3] như sau:

Khi Đinh Bộ Lĩnh tiến hành dẹp loạn 12 sứ quân thống nhất đất nước Đại Cồ Việt có dẫn nghĩa quân đi dẹp sứ quân Ngô Xương Xí ở Bình Kiều - Ái Châu (Thanh Hóa ngày nay). Vua kéo quân đến đất Quan Thành thì dựng trại, đóng quân tại đây. Đinh Bộ Lĩnh cử sứ giả đi cầu Bách linh mong âm phù giúp ba quân đánh thắng trận. Sứ giả nhận mệnh đi đường thủy ngược dòng sông Sử (tức Sông Chu) lên đến đất Vụng Tậu thì trời vừa tối, sứ giả neo thuyền tại Vụng Tậu phía sau đền thờ vị thần: Đại Hải Long Vương, một vị thần linh thiêng nổi tiếng của huyện Lôi Dương (Thọ Xuân), là Thần Hoàng làng của làng Xuân Phả. Khi giang sơn thống nhất, các bộ tộc và các nước lân bang mang lễ vật triều cúng và ca vũ mừng nhà vua lên ngôi... Tưởng nhớ đến công lao người đã âm phù thắng trận, Vua Đinh đã cho đem toàn bộ cống phẩm và trò diễn đến đền thờ Đại Hải Long Vương mà không lưu lại ở kinh đô Hoa Lư. Vua lại giao cho bà hoàng hậu quê ở Hà Nam chủ trì việc này. Bà xuất thân vốn là một ca vũ cung đình, đã tiếp thu các điệu múa của các nước lân bang và huấn luyện thành đội múa hàng, hàng năm cứ đến ngày 10-2 âm lịch, bà trực tiếp hướng dẫn đội múa đến biểu diễn tại đền thờ thần Đại Hải Long Vương. Về sau dân làng Xuân Phả xin bà truyền bá điệu múa ấy cho dân làng tự tập, tự diễn, từ đấy trở đi điệu múa cũng có tên là múa Xuân Phả (hay còn gọi là Ngũ quốc lân bang đồ cống tiến) và được các thế hệ người dân lưu truyền đến ngày nay, trở thành một sinh hoạt văn hóa độc đáo ở Xứ Thanh.

Nét đặc trưng[sửa | sửa mã nguồn]

Trong 5 trò múa thì chỉ ba điệu Hoa Lang, Tú Huần và Xiêm Thành có mặt nạ. Đặc biệt trò Hoa Lang, Xiêm Thành người ta không đeo mà ngậm mặt nạ nửa mặt dưới bởi một nút gỗ vào miệng.[4]

Trò Hoa Lang Trò Hoa Lang với các nhân vật ông, cháu, mế nàng và mười quân. Trang phục gồm áo dài, đầu đội mũ cao da bò, tay trái cầm quạt tay phải mái chèo, đeo mặt nạ cũng làm bằng da bò phết sơn trắng, mắt có lông công. Mũ Chúa được chạm rồng, chạm mặt nguyệt ở mũ Quân.

Trò Tú Huần Trò Tú Huần đầu đội mũ loóng làm từ tre, đeo mặt nạ gỗ miêu tả bà cố, mẹ và mười người con. Mũ tre đan như rế nồi úp ngược có lạt tre làm tóc bạc, đội trên miếng khăn vuông vải đỏ bịt đầu tóc. Mặt nạ gỗ sơn trắng vẽ mắt mồm màu đen rất "kinh dị". Mặt bà cố nhăn nheo, mặt người mẹ thì già nua còn mười người con được chia thành năm cặp, mặt vẽ theo độ tuổi từ trẻ đến già với 1, 2,…5 cái răng tương xứng.

Ai Lao Trò Ai Lao gồm có Chúa Lào, người hầu, lính bảo vệ (mười quân), voi và hổ nhảy múa theo tiếng xênh tre được gõ nhịp liên hồi, biểu trưng cho sức mạnh săn bắt nhưng cũng rất mềm mại, uyển chuyển. Chúa đầu đội mũ cánh chuồn mặc áo chàm xanh. Quân lính đội mũ rễ si, quấn phá ngang vai, chân mang xà cạp và tay cầm xênh tre.

Ngô Quốc Trò Ngô Quốc có hai nàng tiên, ông chúa và mười quân đầu đội nón lính, áo màu lam, tay cầm mái chèo. Đầu màn có xuất hiện nhân vật người bán thuốc, người bán kẹo và thầy địa lý múa một đoạn ngẫu hứng rồi nhường chỗ cho các nàng tiên cùng chúa và đoàn quân đi ra. Màn diễn gồm các điệu múa quạt, múa khăn rồi múa mái chèo.

Trò Xiêm Thành Trò Chiêm Thành ngoài chúa, quân còn có thêm nhân vật phỗng. Áo chúa bằng đậu, áo quân bằng lụa, đều nhuộn màu đỏ hồng và không thêu thùa hoa văn. Chúa và quân đều vấn khăn vuông đỏ thành hai sừng thẳng đứng trên đầu. Áo phỗng là cổ sòi, cổ xiêm quấn xung quanh mình.

Giá trị nghệ thuật[sửa | sửa mã nguồn]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Hoàng Anh Nhân, Phạm Minh Khang, Hoàng Hải - Khảo sát Trò Xuân Phả- NXB Âm Nhạc.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]