Trần Văn Cẩm

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
TRẦN VĂN CẨM
Tiểu sử
Sinh 15 tháng 1 năm 1930 (87 tuổi)
Quảng Trị, Việt Nam
Binh nghiệp
Phục vụ Flag of South Vietnam.svg Việt Nam Cộng hòa
Thuộc Flag of the South Vietnamese Army.jpg Quân lực VNCH
Năm tại ngũ 1950-1975
Cấp bậc US-O7 insignia.svg Chuẩn tướng
Đơn vị Flag of ARVN's Artillery Forces.svg Binh chủng Pháo binh
ARVN 1st Division SSI.svg Sư đoàn 1 Bộ binh
ARVN 2nd Division SSI.svg Sư đoàn 2 Bộ binh
ARVN 23rd Division Insignia.svg Sư đoàn 23 Bộ binh
QD II VNCH.jpg Quân đoàn II và QK 2
Chỉ huy Flag of France.svg QĐ Liên hiệp Pháp
Flag of the Vietnamese National Army.svg Quân đội Quốc gia
Flag of the South Vietnamese Army.jpg Quân lực VNCH
Tham chiến Chiến tranh Việt Nam
Khen thưởng B.quốc H.chương đệ IV[1]

Trần Văn Cẩm (1930), nguyên là một tướng lĩnh gốc Pháo binh của Quân lực Việt Nam Cộng hòa, cấp bậc Chuẩn tướng. Ông xuất thân từ khóa đầu tiên ở trường Võ bị Địa phương Trung Việt, sau đó ông học tiếp tại trường Võ bị Liên quân tại nam Cao nguyên Trung phần. Ra trường ông được chọn về Binh chủng Pháo binh và đã phục vụ ở ngành chuyên môn này một thời gian dài. Năm 1966, ông chuyển nhiệm vụ sang đơn vị Bộ binh.

Tiểu sử & Binh nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Ông sinh ngày 15 tháng 1 năm 1930 trong một gia đình Nho học tại làng Quảng Lượng, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị, miền Trung Việt Nam. Thời niên thiếu, ông học ở trường Quốc học Khải Định, Huế. Tốt nghiệp Trung học chương trình Pháp với văn bằng Thành chung.

Quân đội Liên hiệp Pháp[sửa | sửa mã nguồn]

Cuối tháng 7 năm 1950, thi hành lệnh động viên, ông nhập ngũ vào Quân đội Liên hiệp Pháp, mang số quân: 50/201.745. Theo học khóa 1 tại trường Võ bị Địa phương Trung Việt,[2] khai giảng ngày 1 tháng 8 năm 1950. Ngày 1 tháng 4 năm 1951 mãn khóa tốt nghiệp với cấp bậc Chuẩn úy và được chọn ở lại trường làm Huấn luyện viên.

Quân đội Quốc gia Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Cuối tháng 6 năm 1951, chuyển sang Quân đội Quốc gia, ông xin theo học khóa 5 Hoàng Diệu trường Võ bị Liên quân Đà Lạt, khai giảng ngày 1 tháng 7 năm 1951, Ngày 24 tháng 4 năm 1952 mãn khóa tốt nghiệp với cấp bậc Thiếu úy hiện dịch. Ra trường, ông được chọn về ngành Pháo binh và được cử đi học khóa căn bản binh chủng tại trường Pháo binh Phú Lợi, Thủ Dầu Một. Tháng 11 cùng năm, ông luân phiên đảm nhận chức vụ Tiền sát viên kiêm Trung đội trưởng. Đến đầu tháng 11 năm 1953, ông được cử giữ chức vụ Pháo đội trưởng.

Quân đội Việt Nam Cộng hòa[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 5 năm 1955, ông được cử đi du học khóa sĩ quan Pháo binh cao cấp tại trường Pháo binh Chalon-sur-Marne, Pháp trong thời gian 3 tháng. Mãn khóa về nước, ông được thăng cấp Đại úy giữ chức vụ Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 1 Pháo binh thay thế Thiếu tá Nguyễn Đức Thắng.

Tháng 5 năm 1959, ông được lệnh bàn giao chức vụ Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 1 Pháo binh lại cho Đại úy Lê Văn Thân để đi du học khóa Pháo binh cao cấp tại Trường Pháo binh Fort Still, Tiểu bang Oklahoma, Hoa Kỳ trong thời gian 6 tháng. Tháng 11 cùng năm về nước, ông được bổ nhiệm làm Chỉ huy trưởng Pháo binh Sư đoàn 1 Bộ binh tân lập.

Đầu tháng 11 năm 1963, sau cuộc đảo chính Tổng thống Ngô Đình Diệm (ngày 1 tháng 11). Ngày 2 tháng 11 ông được thăng cấp Thiếu tá tại nhiệm. Đến đầu tháng 5 năm 1964, ông nhận lệnh bàn giao Bộ chỉ huy Pháo binh Sư đoàn 1 lại cho Đại úy Nguyễn Tiến Lộc.[3]Ngay sau đó ông được cử giữ chức vụ Chỉ huy trưởng Pháo binh Quân đoàn I.

Ngày 1 tháng 5 năm 1965, ông được thăng cấp Trung tá tại nhiệm và được lệnh bàn giao Bộ chỉ huy Pháo binh Quân đoàn I lại cho Thiếu tá Phạm Cao Đông.[4] Cuối tháng, ông được cử đi du học khóa Chỉ huy Tham mưu cao cấp tại Học viện Chỉ huy và Tham mưu Fort Leavenworth, Tiểu bang Kansas, Hoa Kỳ với thời gian 6 tháng. Đầu năm 1966, sau khi mãn khóa học Tham mưu cao cấp, ông được tiếp tục theo học thêm 3 tháng lớp chống Chiến tranh Du kích tại Trường Fort Bragg, Tiểu bang North Carolina, Hoa Kỳ. Tháng 6 cùng năm, mãn khóa về nước ông được cử giữ chức vụ Tham mưu trưởng Sư đoàn 1 Bộ binh thay thế Trung tá Tôn Thất Khiên.[5]

Ngày Quân lực 19 tháng 6 năm 1968, ông được thăng cấp Đại tá tại nhiệm. Đến tháng 9 năm 1969, bàn giao chức vụ Tham mưu trưởng Sư đoàn 1 lại cho Đại tá Phạm Cao Đông. Sau đó, ông được cử làm Phụ tá Hành quân cho Trung tướng Hoàng Xuân Lãm Tư lệnh Quân đoàn I và Vùng 1 chiến thuật.

Tháng 5 năm 1970, ông được thuyên chuyển sang Sư đoàn 2 Bộ binh giữ chức vụ Tham mưu trưởng thay thế Trung tá Ngô Văn Lợi[6]được bổ nhiệm làm Tỉnh trưởng kiêm Tiểu khu trưởng Quảng Ngãi.

Tháng 5 năm 1972, ông được lệnh bàn giao chức vụ Tham mưu trưởng Sư đoàn 2 lại cho Trung tá Lê Tấn Phước.[7]Cuối tháng, ông chuyển về Bộ tư lệnh Quân đoàn II để giữ chức vụ Tham mưu trưởng thay thế Đại tá Lê Quang Bình.[8]Tháng 10 cùng năm, bàn giao chức vụ Tham mưu trưởng lại cho Đại tá Lê Trung Tường. Cùng tháng, ông được bổ nhiệm chức vụ Tư lệnh Sư đoàn 23 Bộ binh thay thế Chuẩn tướng Lý Tòng Bá được cử về Trung ương giữ chức vụ Chỉ huy trưởng Bộ chỉ huy Thiết giáp. Ngày Quốc khánh Đệ Nhị Cộng hòa 1 tháng 11 cùng năm, ông được đặc cách thăng cấp Chuẩn tướng tại mặt trận.

Hạ tuần tháng 11 năm 1973, ông tái nhiệm chức vụ Tham mưu trưởng Quân đoàn II sau khi hoán chuyển nhiệm vụ với Đại tá Lê Trung Tường về làm Tư lệnh Sư đoàn 23 Bộ binh. Cuối năm 1974, ông được lệnh bàn giao chức vụ Tham mưu trưởng Quân đoàn II lại cho Đại tá Lê Khắc Lý.[9]

1975[sửa | sửa mã nguồn]

Đầu tháng Giêng, ông nhận chức vụ Phụ tá Hành quân cho Tư lệnh Quân đoàn II do Thiếu tướng Phạm Văn Phú làm Tư lệnh. Ngày 16 tháng 3, giám sát cuộc hành quân di tản triệt thoái của Quân đoàn II rời khỏi Pleiku trên tỉnh lộ 7B.[10]

Ngày 1 tháng 4, ông bị đối phương bắt làm tù binh tại mặt trận Tuy Hòa, Phú Yên và bị đưa đi tù lần lượt qua các trại giam ở miền Bắc: Yên Bái, Hà Tây và Nam Hà cho đến ngày 13 tháng 2 năm 1988 mới được trả tự do.

Cuối tháng 8 năm 1991, ông cùng gia đình được xuất cảnh theo diện H.O do Chính phủ Hoa Kỳ bảo lãnh và định cư tại San-Antonio, Tiểu bang Texas, Hoa Kỳ.

Huy chương[sửa | sửa mã nguồn]

-Lục quân Huân chương đệ nhất hạng.
- Một số Anh dũng Bội tinh (gồm nhành Dương liễu, ngôi sao Vàng, Bạc và Đồng).
- Một số huy chương Quân sự, Dân sự và Đồng minh.

Gia đình[sửa | sửa mã nguồn]

  • Thân phụ: Cụ Trần Văn Tường
  • Thân mẫu: Cụ Phạm Thị Dẩm
  • Phu nhân: Bà Trần Thị Bạch Yến - (Ông bà có chín người con gồm 5 trai, 4 gái).
  • Bào đệ: Hải quân Trung tá Trần Văn Hãn (Sinh năm 1936 tại Quảng Trị, tốt nghiệp khóa 8 Sĩ quan Hải Quân Nha Trang).

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Bảo quốc Huân chương đệ tứ đẳng (ân thưởng).
  2. ^ Năm 1950, Quốc gia Việt Nam thành lập Quân đội là thành phần trong Liên hiệp Pháp. Được Chính phủ và Quân đội Pháp hỗ trợ mở ra ở mỗi miền một trường huấn luyện được gọi là trường Võ bị Địa phương nhằm đào tạo sĩ quan để phục vụ trong Quân đội Liên hiệp Pháp và Quân đội Quốc gia sau này. Ở miền Trung có trường Võ bị Địa phương Trung Việt, cơ sở tại địa danh Đập Đá ngay bờ sông Hương, Huế (địa điểm trước đó là trường Võ bị Liên quân thường được gọi là trường "Võ bị Huế", từ năm 1948 đã huấn luyện và đào tạo được 2 khóa: khoá 1 Phan Bội Châu và khóa 2 Quang Trung, đến năm 1950 chuyển về Đà Lạt tiếp tục huấn luyện khóa 3 Trần hưng Đạo).
    Ở miền Nam có trường Võ bị Địa phương Nam Việt, cơ sở đặt tại Vũng Tàu.
  3. ^ Sinh năm 1928 tại Hà Nội, tốt ngiệp khóa 5 Võ bị Đà Lạt. Chức vụ sau cùng: Đại tá Tham mưu trưởng Sư đoàn 21 Bộ binh.
  4. ^ Sinh năm 1931 tại Cao Bằng, tốt nghiệp khóa 7 Võ bị Đà Lạt. Chức vụ sau cùng: Đại tá Pháo binh.
  5. ^ Sinh năm 1930 tại Thừa Thiên, tốt nghiệp khoa 1 Sĩ quan Trừ bị Thủ Đức. Chức vụ sau cùng: Đại tá nguyên Tỉnh trưởng Thừa thiên.
  6. ^ Sinh năm 1928 tại Hà Nội, tốt nghiệp khóa 4 Võ bị Đà Lạt. Chức vụ sau cùng: Đại tá Tư lệnh phó Sư đoàn 3 Bộ binh.
  7. ^ Chức vụ sau cùng: Đại tá Tham mưu trưởng Sư đoàn 2 Bộ binh.
  8. ^ Sinh năm 1927, tốt nghiệp khóa 9 Võ bị Đà Lạt
  9. ^ Sinh năm 1933 tại Hà Nội, tốt nghiệp khóa 4 phụ Sĩ quan Trừ bị Thủ Đức
  10. ^ Tỉnh lộ 7B (nay là Quốc lộ 25) có chiều dài là 181 km, khởi đầu từ ngã ba Quốc lộ 1 tại Thị xã Tuy Hòa (nay là Tp Tuy Hòa) theo hướng đông cắt ngang sông Ba và kết thúc ở ngã ba Mỹ Thạch (nay là ngã ba Chư Sê) khi gặp Quốc lộ 14 (đường HCM).

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Trần Ngọc Thống, Hồ Đắc Huân, Lê Đình Thụy (2011). Lược sử Quân lực Việt Nam Cộng hòa.