Lê Văn Thân

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
LÊ VĂN THÂN
Tiểu sử
Sinh 15 tháng 5, 1932
Hà Đông, Việt Nam
Mất 26 tháng 9, 2005 (73 tuổi)
California, Hoa Kỳ
Binh nghiệp
Phục vụ Flag of South Vietnam.svg Việt Nam Cộng hòa
Thuộc Flag of the South Vietnamese Army.jpg Quân lực VNCH
Năm tại ngũ 1952-1975
Cấp bậc US-O7 insignia.svg Chuẩn tướng
Đơn vị Flag of ARVN's Artillery Forces.svg Binh chủng Pháo binh
ARVN 1st Division SSI.svg Sư đoàn 1 Bộ binh
ARVN 7th Division SSI.svg Sư đoàn 7 Bộ binh
VNNMA-Emblem.svg Trường Võ bị Đà Lạt
QD I VNCH.jpg Quân đoàn I và QK 1
QD II VNCH.jpg Quân đoàn II và QK 2
ARVN Joint General Staff Insignia.svg Bộ Tổng Tham mưu
Chỉ huy Flag of the Vietnamese National Army.svg Quân đội Quốc gia
Flag of the South Vietnamese Army.jpg Quân lực VNCH
Tham chiến Chiến tranh Việt Nam
Công việc khác Tỉnh trưởng

Lê Văn Thân (1932-2005), nguyên là một tướng lĩnh gốc Pháo binh của Quân lực Việt Nam Cộng hòa, cấp bậc Chuẩn tướng. Ông xuất thân từ những khóa đầu tiên tại trường Võ bị Quốc gia sau khi chuyển từ Huế về Nam Cao nguyên Trung phần. Ông đã phục vụ ở ngành chuyên môn của mình một thời gian dài, sau ông được chuyển sang lĩnh vực Chỉ huy và Tham mưu và đã từng giữ chức vụ Chỉ huy một đơn vị Bộ binh cấp Sư đoàn. Sau cùng là Tư lệnh phó của một Quân đoàn.

Tiểu sử & Binh nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Ông sinh ngày 15 tháng 5 năm 1932 trong một gia đình trung nông khá giả tại làng Quế Dương, Đan Phượng, Hà Đông, miền Bắc Việt Nam.[1] Năm 1951, ông tốt nghiệp Trung học chương trình Pháp tại Hà Nội với văn bằng Tú tài bán phần (Part I).

Quân đội Quốc gia Việt Nam Cộng hòa[sửa | sửa mã nguồn]

Cuối tháng 4 năm 1952, thi hành lệnh động viên ông nhập ngũ vào Quân đội Quốc gia, mang số quân: 52/301.333. Theo học khóa 7 Ngô Quyền tại trường Võ bị Liên quân Đà Lạt, khai giảng ngày 1 tháng 5 năm 1952. Ngày 25 tháng 2 năm 1953 mãn khóa tốt nghiệp với cấp bậc Thiếu úy hiện dịch. Ra trường, ông được chọn vào ngành Pháo binh. Sau đó, ông tiếp tục theo học khóa căn bản Binh chủng tại Trung tâm Huấn luyện Pháo binh Phú Lợi, Bình Dương. Tháng 9 cùng năm, mãn khóa về làm Trung đội trưởng trong Pháo đội 2 thuộc Tiểu đoàn 3 Pháo binh, đồn trú tại Hưng Yên, Bắc Việt.

Hạ tuần tháng 7 năm 1954, sau Hiệp định Genève ông được thăng cấp Trung úy giữ chức vụ Pháo đội trưởng Pháo đội 2. Sau đó cùng đơn vị di chuyển vào Nam đồn trú tại Phú Yên.

Quân đội Việt Nam Cộng hòa[sửa | sửa mã nguồn]

Giữa năm 1956, sau hơn nửa năm phục vụ Quân đội Việt Nam Cộng hòa (cơ cấu mới được cải danh từ Quân đội Quốc gia), ông được thăng cấp Đại úy và được cử làm Tiểu đoàn phó Tiểu đoàn 34 Pháo binh 155 ly tại Đà Nẵng. Đến năm 1958, ông được chuyển sang làm Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 1 Pháo binh, đồn trú tại Huế.

Đầu năm 1960, ông được thăng cấp Thiếu tá và được cử làm Chỉ huy trưởng Pháo binh Sư đoàn 1 Bộ binh. Đầu tháng 2 năm 1964, sau cuộc Chỉnh lý nội bộ ngày 30 tháng 1 của tướng Nguyễn Khánh, ông được cử đi du học lớp Chỉ huy Tham mưu cao cấp tại trường Chỉ huy và Tham mưu Fort Leavenworth, thuộc Tiểu bang Kansas, Hoa Kỳ. Tháng 8 cùng năm mãn khóa học về nước, ông được thăng cấp Trung tá. Sau đó ông được chuyển về Bộ Tổng tham mưu giữ chức vụ Giám đốc Trung tâm Hành quân.

Tháng 3 năm 1968, ông được bổ nhiệm làm Tỉnh trưởng và Tiểu khu trưởng tỉnh Thừa Thiên kiêm Thị trưởng thị xã Huế thay thế Đại tá Phan Văn Khoa. Ngày Quốc khánh Đệ nhị Cộng hòa 1 tháng 11 cùng năm ông được thăng cấp Đại tá tại nhiệm.

Đầu năm 1972, ông nhận lệnh bàn giao tỉnh Thừa Thiên và thị xã Huế lại cho Đại tá Nguyễn Hữu Duệ. Ngay sau đó, ông được bổ nhiệm làm Tư lệnh phó Sư đoàn 7 Bộ binh do Chuẩn tướng Nguyễn Khoa Nam làm Tư lệnh. Đầu tháng 5, trở lại Quân khu 1 ông được cử làm Phụ tá cho Tư lệnh Quân đoàn I, Đặc trách hành quân kiêm Trưởng ban kế hoạch tái chiếm Quảng Trị. Ngày Quốc khánh 1 tháng 11 cùng năm, ông được thăng cấp Chuẩn tướng và được bổ nhiệm chức vụ Tư lệnh Sư đoàn 1 Bộ binh, thay thế Thiếu tướng Phạm Văn Phú.

Ngày Quốc khánh 1 tháng 11 năm 1973, ông nhận lệnh bàn giao Sư đoàn 1 Bộ binh lại cho Đại tá Nguyễn Văn Điềm (nguyên Tư lệnh phó Sư đoàn). Cùng ngày ông được chuyển về Quân khu 2 giữ chức vụ Chỉ huy phó trường Võ bị Quốc gia Việt Nam, thay thế Đại tá Phạm Tất Thông đi làm Tham mưu trưởng Tổng cục Quân huấn. Cuối năm 1974, ông được chuyển về Bộ tư lệnh Quân đoàn II giữ chức vụ Tư lệnh phó lãnh thổ Quân khu 2 do Thiếu tướng Phạm Văn Phú làm Tư lệnh.

1975[sửa | sửa mã nguồn]

Sau ngày 30 tháng 4, ông ra trình diện Ủy ban Quân quản Thành phố Sài Gòn, bị bắt đi tù lưu đày cho tới ngày 5 tháng 5 năm 1992 mới được trả tự do.[2]

Năm 1993, ông cùng gia đình xuất cảnh theo chương trình "Ra đi có trật tự" diện H.O, do Chính phủ Hoa Kỳ bảo lãnh, sau đó định cư tại Westminster, Tiểu bang California, Hoa kỳ.

Ngày 26 tháng 9 năm 2005, ông từ trần tại nơi định cư. Hưởng thọ 73 tuổi.

Gia đình[sửa | sửa mã nguồn]

  • Thân phụ: Cụ Lê Văn Kính
  • Thân mẫu: Cụ Nguyễn Thị Vỹ.
  • Phu nhân: Bà Nguyễn Thị Bông - Ông bà có 10 người con gồm 6 trai, 4 gái.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Nay thuộc xã Cát Quế, huyện Hoài Đức, Thành phố Hà Nội.
  2. ^ Tám tướng lĩnh Việt Nam Cộng hòa bị tù lưu đày lâu nhất với thời gian 17 năm:
    - Cấp Thiếu tướng:
    - Đỗ Kế Giai (SN 1929, Võ bị Đà Lạt K5. Nguyên Chỉ huy trưởng Bộ Chỉ huy Biệt động quân Trung ương)
    - Trần Bá Di (SN 1931, Võ bị Đà Lạt K5. Nguyên Chỉ huy trưởng Trung tâm Huấn luyện Quốc gia Quang Trung)
    - Lê Minh Đảo (SN 1933, Võ bị Đà Lạt K10. Nguyên Tư lệnh Sư đoàn 18 Bộ binh)
    - Cấp Chuẩn tướng:
    - Lê Văn Thân
    - Trần Quang Khôi (SN 1930, Võ bị Đà Lạt K6. Nguyên Tư lệnh Lữ đoàn 3 Kỵ binh)
    - Phạm Ngọc Sang (SN 1931, Võ khoa Thủ Đức K1. Nguyên Tư lệnh Sư đoàn 6 Không quân)
    - Phạm Duy Tất (SN 1934. Võ khoa Thủ Đức K4p. Nguyên Chỉ huy trưởng Bộ Chỉ huy Biệt động quân Quân khu 2)
    - Mạch Văn Trường (SN 1936, Võ bị Đà Lạt K12. Nguyên Tư lệnh Sư đoàn 21 Bộ binh).

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

-Tướng lĩnh Việt Nam Cộng hòa bị tù lưu đày

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Trần Ngọc Thống, Hồ Đắc Huân, Lê Đình Thụy (2011). Lược sử Quân lực Việt Nam Cộng hòa.