Phạm Duy Tất

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
PHẠM DUY TẤT
Tiểu sử
Sinh Tháng 8 năm 1934 (83 tuổi)
Quảng Bình, Việt Nam
Binh nghiệp
Phục vụ Flag of South Vietnam.svg Việt Nam Cộng hòa
Thuộc Flag of the South Vietnamese Army.jpg Quân lực VNCH
Năm tại ngũ 1954-1975
Cấp bậc US-O7 insignia.svg Chuẩn tướng
Đơn vị 81st Airborne Commando Battalion.svg Lực lượng Đặc biệt
Vietnamese Rangers SSI.svg Biệt động quân
Chỉ huy Flag of the Vietnamese National Army.svg Quân đội Quốc gia
Flag of the South Vietnamese Army.jpg Quân lực VNCH
Tham chiến Chiến tranh Việt Nam

Phạm Duy Tất (sinh 1934), nguyên là một tướng lĩnh Bộ binh, sau chuyển sang Binh chủng Lực lượng Đặc biệt của Quân lực Việt Nam Cộng hòa, cấp bậc Chuẩn tướng.[1] Ông xuất thân từ những khóa học ở giai đoạn đầu tiên ở trường Sĩ quan Trừ bị do Chính phủ Quốc gia Việt Nam mở ra tại miền Nam Việt Nam. Năm 1970, khi Binh chủng Lực lượng Đặc biệt giải tán, ông chuyển sang Binh chủng Biệt động quân.

Tiểu sử & Binh nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Ông sinh vào tháng 8 năm 1934, trong một gia đình Nho học tại Quảng Bình, miền Trung Việt Nam. Thời niên thiếu ông học ở trường Trung học Đồng Hới, Quảng Bình và trường Quốc học Huế, Thừa Thiên. Năm 1952, ông tốt nghiệp Trung học Phổ thông chương trình Pháp với văn bằng Tú tài bán phần (Part I).

Quân đội Quốc gia Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 3 năm 1954, thi hành lệnh động viên, ông nhập ngũ vào Quân đội Quốc gia, mang số quân: 54/200.297. Theo học khóa 4 phụ Cương Quyết[2] tại trường Sĩ quan Trừ bị Thủ Đức, khai giảng ngày 16 tháng 3 năm 1954. Ngày 1 tháng 10 năm 1954 mãn khóa tốt nghiệp với cấp bậc Thiếu úy. Ra trường, ông được điều đi phục vụ tại Liên đoàn Lưu động số 21[3] với chức vụ Trung đội trưởng, rồi Đại đội trưởng.

Quân đội Việt Nam Cộng hòa[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 11 năm 1955, khi Quân đội Quốc gia được Chính thể Đệ Nhất Cộng hòa đổi tên thành Quân đội Việt Nam Cộng hòa, ông được cử theo học khóa Dẫn đạo Chỉ huy tại Trung tâm Huấn luyện số 1.[4] Qua năm 1956, cũng tại Trung tâm này ông được theo học tiếp khóa Huấn luyện viên. Mãn khóa, ông được giữ lại Trung tâm làm Huấn luyện viên.

Cuối năm 1957, ông được chuyển sang Lực lượng Đặc biệt,[5] được cử làm Huấn luyện viên thuộc Liên đội Quan sát số 1 (thành lập ngày 1 tháng 11 năm 1957) do Đại úy Bùi Thế Minh[6] làm Chỉ huy trưởng, đồn trú tại Trường Hạ sĩ quan Quân đội Việt Nam Cộng hòa (đặt tại Đồng Đế, Nha Trang). Đầu năm 1958, ông được thăng cấp Trung úy.

Đầu năm 1961, ông được theo học khóa Chiến tranh Chính trị tại Sài Gòn. Mãn khóa, ông được cử giữ chức vụ Chỉ huy phó Liên đoàn 77 (tiền thân là Liên đội Quan sát số 1) do Thiếu tá Phạm Văn Phú làm Liên đoàn trưởng.

Đầu tháng 2 năm 1963, ông được thăng cấp Đại úy, giữ chức vụ Chỉ huy trưởng Liên đoàn 31 tân lập. Ngày 25 tháng 2, Liên đoàn 31 được lệnh di chuyển từ Sài Gòn ra đồn trú tại Cam Ranh trong doanh trại của đơn vị Bộ binh Hải quân (Thuỷ quân Lục chiến). Hạ tuần tháng 7 năm 1964, Liên đoàn 31 được đổi tên thành Liên đoàn 111.

Tháng 2 năm 1965, ông được lệnh bàn giao Liên đoàn 111 lại cho Thiếu tá Lâm Quang Phòng[7] Sau đó, ông được cử giữ chức vụ Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 91 Biệt cách Dù thay thế Thiếu tá Trần Minh Huy.[8] Ngày 24 tháng 7 cùng năm, ông được thăng cấp Thiếu tá và được giao nhiệm vụ thành lập Trung tâm Huấn luyện Lực lượng Đặc biệt tại Đồng Bà Thìn thuộc tỉnh Khánh Hòa.

Đầu năm 1966, ông được giao nhiệm vụ thành lập và làm Chỉ huy trưởng Trung tâm Huấn luyện Hành quân Delta (tiền thân của Liên đoàn 81 Biệt cách Dù). Giữa năm 1968, ông được thăng cấp Trung tá, được cử đi giữ chức vụ Chỉ huy trưởng Lực lượng Đặc biệt Vùng 3 Chiến thuật, sau khi bàn giao Trung tâm Huấn luyện Delta lại cho Trung tá Phan Văn Huấn[9]

Giữa năm 1969, ông được thuyên chuyển về miền Đồng bằng Cửu Long giữ chức vụ Chỉ huy trưởng Lực lượng Đặc biệt Vùng 4 Chiến thuật. Đầu năm 1970, ông được thăng cấp Đại tá. Tháng 8 cùng năm Binh chủng Lực lượng Đặc biệt được lệnh giải tán, ông được chuyển sang Binh chủng Biệt động quân và được cử giữ chức Chỉ huy trưởng Bộ Chỉ huy Biệt động quân Quân khu 4.[10]

Tháng 9 năm 1973, sau khi Bộ chỉ huy Biệt động quân Quân khu 4 hết nhiệm vụ, ông được thuyên chuyển lên Cao nguyên Trung phần để nhận chức vụ Chỉ huy trưởng Biệt động quân Quân khu 2 cạnh Bộ Tư lệnh Quân đoàn II, thay thế Đại tá Nguyễn Văn Đương.[11]

1975[sửa | sửa mã nguồn]

Đầu năm, ông được kiêm chức Tư lệnh Mặt trận Kontum. Ngày 14 tháng 3, ông được thăng cấp Chuẩn tướng tại nhiệm. Đến ngày 16 tháng 3, ông được cử giữ chức Tư lệnh cuộc hành quân triệt thoái Quân đoàn II khỏi Cao nguyên trên tỉnh lộ 7, được đặt dưới quyền giám sát của Chuẩn tướng Trần Văn Cẩm (đương nhiệm chức Phụ tá hành quân Quân đoàn II).

Sau ngày 30 tháng 4, ông ra trình diện và bị chính quyền mới đưa đi tù cải tạo từ Nam ra Bắc cho tới ngày 11 tháng 2 năm 1992 mới được trả tự do.[12] Cũng trong năm 1992, ông cùng với phu nhân và 2 người con xuất cảnh theo diện H.O do Chính phủ Hoa Kỳ bảo lãnh đi định cư tại Amadale, Tiểu bang Virginia, Hoa kỳ.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Tướng Tất là một trong 8 Đại tá được thăng cấp bậc Chuẩn tướng vào thời điểm sau cùng của Chính thể Việt Nam Cộng hòa (tính từ tháng 1 đến tháng 4 năm 1975), trong đó có 3 vị thuộc Quân đội và 5 vị thuộc Cảnh sát Quốc gia. Bảy vị còn lại có tên sau:
    -Quân đội:
    -Chung Tấn Phát (Sinh năm 1929, tốt nghiệp khóa 3 phụ Sĩ quan Trừ bị Thủ Đức (tức là khóa 9B trừ bị, thụ huấn tại Đà Lạt). Chức vụ sau cùng: Chánh Võ phòng cho Tổng thống Dương Văn Minh)
    -Mạch Văn Trường (Sinh năm 1936, tốt nghiệp khóa 12 Võ bị Đà Lạt. Chức vụ sau cùng: Tư lệnh Sư đoàn 21 Bộ binh)
    -Cảnh sát Quốc gia:
    -Trương Bảy (Sinh năm 1930, Tốt nghiệp khóa 1 Sĩ quan Thủ Đức. Chức vụ sau cùng: Phụ tá Điều hành cho Tư lệnh Cảnh sát Quốc gia)
    -Nguyễn Văn Giàu (Sinh năm 1932, tốt nghiệp khóa 1 Sĩ quan Trừ bị Thủ Đức. Chức vụ sau cùng: Phụ tá cho Tư lệnh Cảnh sát Quốc gia, Phụ trách An ninh)
    -Bùi Văn Nhu (Sinh năm 1920, tốt nghiệp Sở Liêm phóng Pháp. Chức vụ sau cùng: Tư lệnh phó Cảnh sát Quốc gia)
    -Trang Sĩ Tấn (Sinh năm 1937, tốt nghiệp khóa 16 Sĩ quan Trừ bị Thủ Đức (Sĩ quan Đồng hóa). Chức vụ sau cùng: Giám đốc Nha Cảnh sát Đô thành Sài Gòn)
    - Huỳnh Thới Tây (SN 1932. Võ bị Đà Lạt K8. Sau cùng: Phụ tá cho Tư lệnh Cảnh sát Quốc gia, Phụ trách ngành Cảnh sát Đặc biệt)
    -Xem bài: Danh sách Chuẩn tướng Việt Nam Cộng hòa
  2. ^ Thời điểm này trường Sĩ quan Trừ bị Thủ Đức đảm nhiệm việc tiếp nhận thí sinh trên toàn quốc để huấn luyện và đào tạo Sĩ quan Trừ bị. Ngoài ra, trường còn nhận huấn luyện thêm cả những thí sinh ở 2 nước bạn là Miên và Ai Lao (Cambodia và Laos), Do phạm vi của trường chưa được mở rộng nên khóa 4 phụ Cương Quyết 2 phải gửi lên thụ huấn ở trường Võ bị Đà Lạt và theo thứ tự của trường Võ bị, khóa 4 phụ được đổi tên thành khóa 10B trừ bị. Trước đó, khóa 3 phụ Đống Đa 2 cũng phải gửi lên Đà Lạt và mang tên theo thứ tự là khóa 9B trừ bị. Tuy nhiên, các khóa này vẫn phải làm lễ khai giảng và mãn khóa tại trường Sĩ quan Trừ bị Thủ Đức.
    - Tốt nghiệp khóa 4 phụ (10B trừ bị), sau này lên tướng còn có:
    -Chuẩn tướng Trần Quốc Lịch (Sinh năm 1935. Chức vụ sau cùng: Chánh Thanh tra Quân đoàn IV và Quân khu 4).
  3. ^ Liên đoàn Lưu động số 21 được thành lập ngày 1 tháng 9 năm 1953. Ngày 15 tháng 12 năm 1954 được lệnh giải tán để làm nòng cốt thành lập Sư đoàn Bộ binh số 21. Ngày 1 tháng 8 năm 1955 đổi tên thành Sư đoàn Dã chiến số 21. Hai tháng sau đổi thành Sư đoàn Dã chiến số 1. Đến ngày 1 tháng 12 năm 1958, đổi tên lần cuối thành Sư đoàn 1 Bộ binh cho đến cuối tháng 3 năm 1975 thì tan hàng.
  4. ^ Trung tâm Huấn luyện số 1, trước đó có tên là Trung tâm Huấn luyện Quán Tre. Sau đổi tên thành Trung tâm Huấn luyện Quốc gia Quang Trung.
  5. ^ Lực lượng Đặc biệt, trước đó mang tên Sở Liên lạc, sau đổi thành Sở Khai thác Địa hình thuộc Sở Nghiên cứu Chính trị, trực thuộc Phủ Tổng thống do Đại tá Lê Quang Tung làm Tư lệnh đầu tiên.
  6. ^ Giải ngũ năm 1965
  7. ^ Sinh năm 1916 tại Rạch Giá, tốt nghiệp trường Hạ sĩ quan Quân đội Pháp. Sau cùng là Đại tá.
  8. ^ Sau cùng là Đại tá Tham mưu trưởng Bộ chỉ huy Binh chủng Biệt động quân
  9. ^ Sinh năm 1933 tại Thừa Thiên, tốt nghiệp khóa 10 Võ bị Đà Lạt. Chỉ huy trưởng đầu tiên của Liên đoàn 81 Biệt cách Nhảy dù. Sau là Đại tá).
  10. ^ Đại tá Tất là Chỉ huy trưởng cuối cùng của Bộ Chỉ huy Biệt động quân Quân khu 4. Cuối năm 1972, Bộ chỉ huy này giải tán, các đơn vị trực thuộc là Liên đoàn 4 tiếp ứng và các Tiểu đoàn Biên phòng được chuyển biên chế về Bộ Chỉ huy Trung ương (đặt tại trại Đào Bá Phước, Sài Gòn). Sau đó Liên đoàn 4 trở thành đơn vị Tổng trừ bị của Bộ Tổng Tham mưu, các Tiểu đoàn Biên phòng được bổ sung về các Quân khu 1, 2 và 3 để thành lập các Liên đoàn tiếp ứng và trở thành các đơn vị Tổng trừ bị cho các Quân khu này.
  11. ^ Sinh năm 1932 tại Bình Dương, tốt nghiệp khóa 4 Sĩ quan Trừ bị Thủ Đức.
  12. ^ Tướng Phạm Duy Tất là một trong tám tướng lĩnh của Việt Nam Cộng hòa bị tù lưu đày với thời gian lâu nhất, từ 1975 đến 1992.
    -Xem bài: Tướng lĩnh Việt Nam Cộng hòa bị tù lưu đày

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Trần Ngọc Thống, Hồ Đắc Huân, Lê Đình Thụy (2011). Lược sử Quân lực Việt Nam Cộng hòa.