Phạm Duy Tất

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm
Phạm Duy Tất
Chức vụ
Vietnamese Rangers SSI.svg
Tư lệnh Hành quân Triệt thoái QĐ II
kiêm Chỉ huy trưởng BĐQ Quân khu 2
Nhiệm kỳ16/3/1975 – 29/3/1975
Cấp bậc-Chuẩn tướng
Vị tríQuân khu II
Tư lệnh Quân đoàn-Thiếu tướng Phạm Văn Phú
Chỉ huy trưởng BĐQ Quân khu 2
Tư lệnh chiến trường Kontum
Nhiệm kỳ1/1975 – 16/3/1975
Cấp bậc-Đại tá
-Chuẩn tướng (14/3/1975)
Vị tríQuân khu II
Tư lệnh Quân khu-Trung tướng Nguyễn Văn Toàn
-Thiếu tướng Phạm Văn Phú
Chỉ huy trưởng BĐQ Quân khu 2
Nhiệm kỳ9/1973 – 3/1975
Cấp bậc-Đại tá
Tiền nhiệm-Đại tá Nguyễn Văn Đương
Kế nhiệmCuối cùng
Vị tríQuân khu II
Tham mưu trưởng-Trung tá Lê Chữ
Chỉ huy trưởng BĐQ Quân khu 4
Nhiệm kỳ8/1970 – 9/1973
Cấp bậc-Đại tá
Tiền nhiệm-Trung tá Nhan Văn Thiệt
Kế nhiệmCuối cùng
Vị tríQuân khu IV
Tư lệnh Quân khu-Thiếu tướng Ngô Quang Trưởng
-Thiếu tướng Nguyễn Vĩnh Nghi
81st Airborne Commando Battalion.svg
Chỉ huy trưởng
Lực lượng Đặc biệt Quân khu 4
Nhiệm kỳ6/1969 – 8/1970
Cấp bậc-Trung tá
-Đại tá (1/1970)
Vị tríQuân khu IV
Tư lệnh Quân khu-Thiếu tướng Nguyễn Viết Thanh
-Thiếu tướng Ngô Dzu
QD III VNCH.jpg 81st Airborne Commando Battalion.svg
Chỉ huy trưởng
Lực lượng Đặc biệt Quân khu 3
Nhiệm kỳ6/1968 – 6/1969
Cấp bậc-Trung tá (6/1968)
Vị tríVùng 3 chiến thuật
Tư lệnh Vùng-Trung tướng Lê Nguyên Khang
-Trung tướng Đỗ Cao Trí
81st Airborne Commando Battalion's Insignia.png
Chỉ huy trưởng
Trung tâm Huấn luyện Hành quân Delta
(tiền thân của Liên đoàn 81 Biệt cách dù)
Nhiệm kỳ1/1966 – 6/1968
Cấp bậc-Thiếu tá (7/1965)
Kế nhiệm-Trung tá Phan Văn Huấn
Vị tríVùng 3 chiến thuật
Thông tin chung
Quốc tịch Hoa Kỳ
 Việt Nam Cộng hòa
SinhTháng 8 năm 1934
Quảng Bình, Việt Nam
Mất11 tháng 12 năm 2019
Virginia, Hoa Kỳ
Nguyên nhân mấtTuổi già
Nơi ởVirginia, Hoa Kỳ
Nghề nghiệpQuân nhân
Dân tộcKinh
Tôn giáoCông Giáo
VợPhan Thị Bạch Yến
Gia quyếnAnh: Phạm Vỵ
Con cái5 người con (2 trai, 3 gái)
Phạm Duy Thúy Hồng
Phạm Duy Việt
Phạm Duy Vân Hồng
Phạm Duy Diên Hồng
Phạm Duy Vũ
Học vấnTú tài bán phần
Học sinh trường-Trường Trung học Phổ thông ở Quảng Bình
-Trường Trung học Phổ thông ở Huế
-Trường Bộ binh Thủ Đức
Quê quánTrung Kỳ
Binh nghiệp
Phục vụFlag of South Vietnam.svg Việt Nam Cộng hòa
ThuộcFlag of the Army of the Republic of Vietnam.jpg Quân lực Việt Nam Cộng hòa
Năm tại ngũ1954-1975
Cấp bậcUS-O7 insignia.svg Chuẩn tướng
Đơn vị81st Airborne Commando Battalion.svg Lực lượng Đặc biệt
Vietnamese Rangers SSI.svg Biệt động quân
Chỉ huyFlag of the Vietnamese National Army.svg Quân đội Quốc gia
Flag of the Army of the Republic of Vietnam.jpg Quân lực Việt Nam Cộng hòa
Tham chiếnChiến tranh Việt Nam

Phạm Duy Tất (sinh 1934-2019), nguyên là một tướng lĩnh Bộ binh, sau chuyển sang Binh chủng Lực lượng Đặc biệt của Quân lực Việt Nam Cộng hòa, cấp bậc Chuẩn tướng.[1] Ông xuất thân từ những khóa học ở giai đoạn đầu tiên ở trường Sĩ quan Trừ bị do Chính phủ Quốc gia Việt Nam mở ra tại miền Nam Việt Nam. Năm 1970, khi Binh chủng Lực lượng Đặc biệt giải tán, ông chuyển sang Binh chủng Biệt động quân.

Tiểu sử & Binh nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Ông sinh vào tháng 8 năm 1934, trong một gia đình Nho học tại Quảng Bình, miền Trung Việt Nam. Thời niên thiếu ông học ở trường Trung học Đồng Hới, Quảng Bình và trường Quốc học Huế, Thừa Thiên. Năm 1952, ông tốt nghiệp Trung học Phổ thông chương trình Pháp với văn bằng Tú tài bán phần (Part I).

Quân đội Quốc gia Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 3 năm 1954, thi hành lệnh động viên, ông nhập ngũ vào Quân đội Quốc gia, mang số quân: 54/200.297. Theo học khóa 4 phụ Cương Quyết[2] tại trường Sĩ quan Trừ bị Thủ Đức, khai giảng ngày 16 tháng 3 năm 1954. Ngày 1 tháng 10 năm 1954 mãn khóa tốt nghiệp với cấp bậc Thiếu úy. Ra trường, ông được điều đi phục vụ tại Liên đoàn Lưu động số 21[3] với chức vụ Trung đội trưởng, rồi Đại đội trưởng.

Quân đội Việt Nam Cộng hòa[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 11 năm 1955, khi Quân đội Quốc gia được Chính thể Đệ nhất Cộng hòa đổi tên thành Quân đội Việt Nam Cộng hòa, ông được cử theo học khóa Dẫn đạo Chỉ huy tại Trung tâm Huấn luyện số 1.[4] Qua năm 1956, cũng tại Trung tâm này ông được theo học tiếp khóa Huấn luyện viên. Mãn khóa, ông được giữ lại Trung tâm làm Huấn luyện viên.

Cuối năm 1957, ông được chuyển sang Lực lượng Đặc biệt,[5] được cử làm Huấn luyện viên thuộc Liên đội Quan sát số 1 (thành lập ngày 1 tháng 11 năm 1957) do Đại úy Bùi Thế Minh[6] làm Chỉ huy trưởng, đồn trú tại Trường Hạ sĩ quan Quân đội Việt Nam Cộng hòa (vị trí tại Đồng Đế (cạnh thôn Ba Làng), Nha Trang). Đầu năm 1958, ông được thăng cấp Trung úy.

Đầu năm 1961, ông được theo học khóa Chiến tranh Chính trị tại Sài Gòn. Mãn khóa, ông được cử giữ chức vụ Chỉ huy phó Liên đoàn 77 (tiền thân là Liên đội Quan sát số 1) do Thiếu tá Phạm Văn Phú làm Liên đoàn trưởng.

Đầu tháng 2 năm 1963, ông được thăng cấp Đại úy, giữ chức vụ Chỉ huy trưởng Liên đoàn 31 tân lập. Ngày 25 tháng 2, Liên đoàn 31 được lệnh di chuyển từ Sài Gòn ra đồn trú tại Cam Ranh trong doanh trại của đơn vị Bộ binh Hải quân (Thuỷ quân Lục chiến). Hạ tuần tháng 7 năm 1964, Liên đoàn 31 được đổi tên thành Liên đoàn 111.

Tháng 2 năm 1965, ông được lệnh bàn giao Liên đoàn 111 lại cho Thiếu tá Lâm Quang Phòng[7] Sau đó, ông được cử giữ chức vụ Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 91 Biệt cách Dù thay thế Thiếu tá Trần Minh Huy.[8]. Ngày 24 tháng 7 cùng năm, ông được thăng cấp Thiếu tá và được giao nhiệm vụ thành lập Trung tâm Huấn luyện Lực lượng Đặc biệt tại Đồng Bà Thìn thuộc tỉnh Khánh Hòa.

Đầu năm 1966, ông được giao nhiệm vụ thành lập và làm Chỉ huy trưởng Trung tâm Huấn luyện Hành quân Delta (tiền thân của Liên đoàn 81 Biệt cách Dù). Giữa năm 1968, ông được thăng cấp Trung tá, nhận lệnh bàn giao Trung tâm Huấn luyện Delta lại cho Trung tá Phan Văn Huấn[9] để đi nhận chức Chỉ huy trưởng Lực lượng Đặc biệt Vùng 3 chiến thuật (Thời điểm này Tư lệnh Vùng 3 Chiến thuật là Trung tướng Lê Nguyên Khang (6/1966-8/1968), rồi đến Trung tướng Đỗ Cao Trí (8/1968-2/1971)).

Giữa năm 1969, ông thuyên chuyển về miền Đồng bằng Cửu Long giữ chức vụ Chỉ huy trưởng Lực lượng Đặc biệt Vùng 4 Chiến thuật trải qua 2 vị Tư lệnh Quân khu là Thiếu tướng Nguyễn Viết Thanh (7/1968-5/1970) và Thiếu tướng Ngô Dzu (5/1970-8/1970). Đầu năm 1970, ông được thăng cấp Đại tá. Tháng 8 cùng năm Binh chủng Lực lượng Đặc biệt được lệnh giải tán, ông chuyển sang Binh chủng Biệt động quân và được cử thay thế Trung tá Nhan Văn Thiệt[10] chức vụ Chỉ huy trưởng Biệt động quân Quân khu 4[11], dưới quyền điều động trực tiếp của Tư lệnh Quân khu là Thiếu tướng Ngô Quang Trưởng rồi đến Thiếu tướng Nguyễn Vĩnh Nghi.

Tháng 9 năm 1973, sau khi Bộ chỉ huy Biệt động quân Quân khu 4 hết nhiệm vụ, ông thuyên chuyển lên Cao nguyên Trung phần thay thế Đại tá Nguyễn Văn Đương[12] để nhận chức vụ Chỉ huy trưởng Biệt động quân Quân khu 2. Bộ chỉ huy được đặt cạnh Bộ tư lệnh Quân đoàn II và Quân khu 2, trải qua 2 vị Tư lện Quân khu là Trung tướng Nguyễn Văn Toàn và Thiếu tướng Phạm Văn Phú.

1975 và những năm tháng lưu vong[sửa | sửa mã nguồn]

Đầu năm, kiêm chức vụ Tư lệnh Chiến trường Kontum[20]. Ngày 14 tháng 3, ông được thăng cấp Chuẩn tướng tại nhiệm. Hai ngày sau (16 tháng 3), phụ tá cho Thiếu tướng Tư lệnh Quân đoàn Phạm Văn Phú với nhiệm vụ Tư lệnh cuộc hành quân triệt thoái Quân đoàn II khỏi Cao nguyên trên tỉnh lộ 7, được đặt dưới quyền giám sát của Chuẩn tướng Trần Văn Cẩm (đương nhiệm chức vụ Phụ tá hành quân Quân đoàn II).

Sau ngày 30 tháng 4, Cộng Sản vào miền Nam và Việt Nam Cộng hoà sụp đổ, ông ra trình diện và bị chính quyền mới đưa đi tù cải tạo từ Nam ra Bắc cho tới ngày 11 tháng 2 năm 1992 mới được trả tự do.[21]

Cũng trong năm 1992, ông cùng với phu nhân và 2 người con xuất cảnh theo diện H.O tị nạn chính trị do Chính phủ Hoa Kỳ bảo lãnh đi định cư tại Annandale, Tiểu bang Virginia, Hoa Kỳ.

Ngày 11/12/2019, ông từ trần tại nơi định cư, hưởng thọ 85 tuổi.

Gia đình[sửa | sửa mã nguồn]

  • Bào huynh: Phạm Vỵ[22].
  • Phu nhân: Phan Thị Bạch Yến
  • Các con: Phạm Duy Thúy Hồng, Phạm Duy Việt, Phạm Duy Vân Hồng, Phạm Duy Diên Hồng và Phạm Duy Vũ

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Tướng Phạm Duy Tất là một trong 8 Đại tá được thăng cấp bậc Chuẩn tướng vào thời điểm sau cùng của Chính thể Việt Nam Cộng hòa (tính từ tháng 1 đến tháng 4 năm 1975), trong đó có 3 vị thuộc Quân đội và 5 vị thuộc Cảnh sát Quốc gia.
    -Quân đội:
    -Phạm Duy Tất, Chung Tấn PhátMạch Văn Trường
    -Cảnh sát Quốc gia:
    -Trương Bảy, Nguyễn Văn Giàu, Bùi Văn Nhu, Trang Sĩ TấnHuỳnh Thới Tây.
    -Xem bài: Danh sách Chuẩn tướng Việt Nam Cộng hòa
  2. ^ Thời điểm này trường Sĩ quan Trừ bị Thủ Đức đảm nhiệm việc tiếp nhận thí sinh trên toàn quốc để huấn luyện và đào tạo Sĩ quan Trừ bị. Ngoài ra, trường còn nhận huấn luyện thêm cả những thí sinh ở 2 nước bạn là Miên và Ai Lao (Cambodia và Laos), Do phạm vi của trường chưa được mở rộng nên khóa 4 phụ Cương Quyết 2 phải gửi đi thụ huấn ở trường Võ bị Đà Lạt và theo thứ tự của trường Võ bị, khóa 4 phụ được đổi tên thành khóa 10B Trừ bị. Trước đó, khóa 3 phụ Đống Đa 2 cũng phải gửi lên Đà Lạt và mang tên theo thứ tự là khóa 9B trừ bị, sau khóa 4 phụ là khóa 5 phụ Vương Xuân Sĩ cũng được gửi đi thụ huấn ở trường Võ bị và đổi tên thành khóa 11B Trừ bị. Tuy nhiên, các khóa này vẫn phải làm lễ khai giảng và lễ mãn khóa tại trường Sĩ quan Trừ bị Thủ Đức.
    - Tốt nghiệp khóa 4 phụ (10B Trừ bị), sau này lên tướng còn có Chuẩn tướng Trần Quốc Lịch.
  3. ^ Liên đoàn Lưu động số 21 được thành lập ngày 1 tháng 9 năm 1953. Ngày 15 tháng 12 năm 1954 được lệnh giải tán để làm nòng cốt thành lập Sư đoàn Bộ binh số 21. Ngày 1 tháng 8 năm 1955 đổi tên thành Sư đoàn Dã chiến số 21. Hai tháng sau đổi thành Sư đoàn Dã chiến số 1. Đến ngày 1 tháng 12 năm 1958, đổi tên lần cuối thành Sư đoàn 1 Bộ binh cho đến cuối tháng 3 năm 1975 thì tan hàng.
  4. ^ Trung tâm Huấn luyện số 1, trước đó có tên là Trung tâm Huấn luyện Quán Tre. Sau đổi tên thành Trung tâm Huấn luyện Quốc gia Quang Trung.
  5. ^ Lực lượng Đặc biệt, trước đó mang tên Sở Liên lạc, sau đổi thành Sở Khai thác Địa hình thuộc Sở Nghiên cứu Chính trị, trực thuộc Phủ Tổng thống do Đại tá Lê Quang Tung làm Tư lệnh đầu tiên.
  6. ^ Đại uý Bùi Thế Minh về sau lên đến Trung tá. Năm 1965 giải ngũ cùng cấp.
  7. ^ Thiếu tá Lâm Quang Phòng sinh năm 1916 tại Rạch Giá, tốt nghiệp trường Hạ sĩ quan Quân đội Pháp. Sau cùng mang cấp Đại tá.
  8. ^ Thiếu tá Trần Minh Huy sau cùng là Đại tá Tham mưu trưởng Bộ chỉ huy Binh chủng Biệt động quân (1972).
  9. ^ Trung tá Phan Văn Huấn sinh năm 1933 tại Thừa Thiên, tốt nghiệp khóa 10 Võ bị Đà Lạt. Chỉ huy trưởng đầu tiên Liên đoàn 81 Biệt Cách dù, về sau mang cấp Đại tá.
  10. ^ Trung tá Nhan Văn Thiệt tốt nghiệp trường Võ khoa Thủ Đức, về sau là Đại tá Trưởng ban Cận vệ Phủ Tổng thống
  11. ^ Đại tá Phạm Duy Tất là Chỉ huy trưởng cuối cùng của Bộ Chỉ huy Biệt động quân Quân khu 4. Cuối năm 1972, Bộ chỉ huy này giải tán, các đơn vị trực thuộc là Liên đoàn 4 tiếp ứng và các Tiểu đoàn Biên phòng được chuyển biên chế về Bộ Chỉ huy Trung ương (đặt tại trại Đào Bá Phước, Sài Gòn). Sau đó Liên đoàn 4 trở thành đơn vị Tổng trừ bị của Bộ Tổng Tham mưu, các Tiểu đoàn Biên phòng được bổ sung về các Quân khu 1, 2 và 3 để thành lập các Liên đoàn tiếp ứng và trở thành các đơn vị Tổng trừ bị cho các Quân khu này.
  12. ^ Đại tá Nguyễn Văn Đương sinh năm 1932 tại Bình Dương, tốt nghiệp khóa 4 Võ khoa Thủ Đức
  13. ^ Liên đoàn 21 BĐQ có 3 Tiểu đoàn trực thuộc:
    -Tiểu đoàn 72 (Thiếu tá Lê Đình Diên)
    -Tiểu đoàn 89 (Thiếu tá Trần Thiện Khuê)
    -Tiểu đoàn 96 (Thiếu tá Huỳnh Công Hiển, sinh năm 1943 tại Tây Ninh, tốt nghiệp khóa 15 Võ khoa Thủ Đức)
  14. ^ Đại tá Lê Quý Dậu sinh năm 1933, tốt nghiệp khóa 3 sĩ quan Hiện dịch Đặc biệt Đồng Đế (1961-1962). Trung tuần tháng 4/1975 có quyết định thăng cấp Đại tá
  15. ^ Liên đoàn 22 BĐQ có 3 Tiểu đoàn trực thuộc:
    -Tiểu đoàn 62 (Thiếu tá Lê Thanh Phong, tốt nghiệp khóa 20 Võ bị Đà Lạt)
    -Tiểu đoàn 88 (Thiếu tá Vũ Ngọc Di)
    -Tiểu đoàn 95 (Thiếu tá Nguyễn Thanh Vân)
  16. ^ Liên đoàn 23 BĐQ có 3 Tiểu đoàn trực thuộc:
    -Tiểu đoàn 11 (Thiếu tá Hồ Khắc Đàm, tốt nghiệp khóa 16 Võ bị Đà Lạt)
    -Tiểu đoàn 22 (Thiếu tá Nguyễn Đình Ngọ)
    -Tiểu đoàn 23 (Thiếu tá Phạm Duy Ánh)
  17. ^ Đại tá Lê Tất Biên, tốt nghiệp khóa 10 Võ bị Đà Lạt. Trung tuần tháng 4/1975 có quyết định thăng cấp Đại tá
  18. ^ Liên đoàn 24 có 3 Tiểu đoàn trực thuộc:
    -Tiểu đoàn 63 (Thiếu tá Trần Đình Đàng, tốt nghiệp khóa 15 Võ bị Đà Lạt)
    -Tiểu đoàn 81 (Thiếu tá Nguyễn Hữu Tài)
    -Tiểu đoàn 82 (Thiếu tá Vương Mộng Long, tốt nghiệp khóa 20 Võ bị Đà Lạt)
  19. ^ Liên đoàn 25 BĐQ có 3 Tiểu đoàn trực thuộc:
    -Tiểu đoàn 67 (Thiếu tá Ngô Văn Niên)
    -Tiểu đoàn 76 (Thiếu tá Phạm Công Toại)
    -Tiểu đoàn 90 (Thiếu tá Phan Bát Giác)
  20. ^ Bộ Tư lệnh Mặt trận Kontum được đặt tại thành Dakpha (căn cứ B.13), Thị xã Kontum.
  21. ^ Tướng Phạm Duy Tất là một trong tám tướng lĩnh của Việt Nam Cộng hòa bị tù lưu đày với thời gian lâu nhất, từ 1975 đến 1992.
    -Xem bài: Tướng lĩnh Việt Nam Cộng hòa bị tù lưu đày
  22. ^ Ông Phạm Vỵ nguyên là Thiếu tá Trưởng phòng 4 tại Bộ Tư lệnh Quân đoàn IV. Năm 1971 tử trận, được truy thăng Trung tá

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Trần Ngọc Thống, Hồ Đắc Huân, Lê Đình Thụy (2011). Lược sử Quân lực Việt Nam Cộng hòa.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]