Mạch Văn Trường

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
MẠCH VĂN TRƯỜNG
Tiểu sử
Sinh Tháng 3 năm 1936 (81 tuổi)
Bạc Liêu, Việt Nam
Binh nghiệp
Phục vụ Flag of South Vietnam.svg Việt Nam Cộng hòa
Thuộc Flag of the South Vietnamese Army.jpg Quân lực VNCH
Năm tại ngũ 1955-1975
Cấp bậc US-O7 insignia.svg Chuẩn tướng
Đơn vị ARVN 5th Division SSI.svg Sư đoàn 5 Bộ binh
Sư đoàn 21 Bộ binh[1]
Chỉ huy Flag of South Vietnam.svg Quân đội VNCH
Flag of the South Vietnamese Army.jpg Quân lực VNCH
Tham chiến Chiến tranh Việt Nam
Khen thưởng BQHC đệ III, IV, V[2]
Công việc khác Tỉnh trưởng

Mạch Văn Trường (sinh 1936), nguyên là một tướng lĩnh Bộ binh của Quân lực Việt Nam Cộng hòa, cấp bậc Chuẩn tướng.[3] Ông xuất thân từ trường Võ bị Liên quân vào thời kỳ Quân đội Việt Nam Cộng hòa hình thành (1955). Trong thời gian tại ngũ, ngoài chuyên môn là một sĩ quan chỉ huy đơn vị Bộ binh, ông cũng được giao phó chức vụ chỉ huy về lãnh vực Hành chính Quân sự.

Tiểu sử & Binh nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Ông sinh vào tháng 3 năm 1936 trong một gia đình trung nông gốc người Hoa tại Bạc Liêu, miền tây Nam phần Việt Nam. Ông học Tiểu học ở Bạc Liêu. Khi lên Trung học trên, ông được gia đình cho lên học ở Cần Thơ. Năm 1955, ông tốt nghiệp Trung học phổ thông tại Cần Thơ với văn bằng Tú tài 1 (Part I).

Quân đội Việt Nam Cộng hòa[sửa | sửa mã nguồn]

Cuối năm 1955, sau khi rời học đường, ông tình nguyện nhập ngũ vào Quân đội Việt Nam Cộng hòa, mang số quân: 56/101.520. Được theo học khóa 12 Cộng hòa tại trường Võ bị Liên quân Đà Lạt, khai giảng ngày 24 tháng 10 năm 1955. Ngày 2 tháng 12 năm 1956, mãn khóa tốt nghiệp với cấp bậc Thiếu úy hiện dịch. Ngay sau đó, ông cùng với 130 sĩ quan cùng tốt nghiệp được sang Hoa Kỳ du học khóa Liên hợp các Binh chủng.

Đầu năm 1957, ông được thuyên chuyển đi làm huấn luyện viên khoa vũ khí tại Trung tâm Huấn luyện số 1.[4] Cùng năm, được cử đi du học lớp Bộ binh cao cấp tại trường Võ bị Lục quân Fort Benning, Columbus, Tiểu bang Georgia, Hoa Kỳ. Đầu năm 1958, mãn khóa học về nước, ông được thăng cấp Trung úy, tiếp tục nhiệm vụ làm Huấn luyện viên.

Năm 1962, ông được cử đi du học lớp Tác chiến Rừng rậm tại Mã Lai (The Jungle Warfare course in Malaysia), Philippines. Cùng năm ông được thăng cấp Đại úy và thuyên chuyển về Quân khu 4 làm Biệt đội trưởng Biệt đội Quân báo thuộc Sư đoàn 21 Bộ binh. Năm 1964, ông tiếp tục được cử đi du học lớp Tình báo tác chiến ở trường Tình báo Viễn Đông Hoàng gia Anh tại Singapore.

Quân lực Việt Nam Cộng hòa[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày Quân lực 19 tháng 6 năm 1965, ông được thăng cấp Thiếu tá và được cử giữ chức vụ Trưởng phòng 2 tại Bộ tư lệnh Sư đoàn 21 bộ binh. Qua đầu năm 1967, ông chuyển đi làm Phó Tỉnh trưởng Nội an kiêm Tiểu khu phó Bạc Liêu.

Ngày Quân lực 19 tháng 6 năm 1968, ông được thăng cấp Trung tá tại nhiệm, sau đó chuyển về Thủ đô giữ chức Tham mưu trưởng Tòa Tổng trấn Sài Gòn-Gia Định.

Giữa năm 1969, ông được chỉ định vào chức vụ Đặc khu trưởng Đặc khu Thủ Đức. Năm 1970, được cử đi học và tốt nghiệp khóa Chỉ huy Tham mưu cao cấp ở trường Chỉ huy và Tham mưu tại Đà Lạt.

Đấu năm 1971, ông được cử làm Trung đoàn phó Trung đoàn 8, Sư đoàn 5 Bộ binh do Đại tá Bùi Trạch Dần[5]làm Trung đoàn trưởng. Tháng 7 cùng năm ông được lên giữ chức vụ Trung đoàn trưởng thay thế Đại tá Dần.

Tháng 3 năm 1972, ông được thăng cấp Đại tá tại nhiệm. Tháng 7 cùng năm, ông thuyên chuyển sang Sư đoàn 5 Bộ binh và được chỉ định vào chức vụ Tư lệnh phó Sư đoàn. Tháng 11 cuối năm, Bộ Tổng tham mưu biệt phái ông sang lĩnh vực Hành chính Quân sự và ông được bổ nhiệm làm Tỉnh trưởng kiêm Tiểu khu trưởng Long Khánh.

Đầu năm 1974, rời chức vụ Tỉnh trưởng, ông được cử theo học và tốt nghiệp Thủ khoa khóa Tổng thanh tra Quân lực. Tháng 4 cùng năm, ông được chuyển trở về Quân khu 4, phục vụ tại Sư đoàn 21 Bộ binh giữ chức vụ Chánh tranh tra Sư đoàn. Tháng 11 cuối năm, ông được bổ nhiệm chức vụ Tư lệnh Sư đoàn 21 Bộ binh[6]thay thế Chuẩn tướng Lê Văn Hưng được cử đi làm Tư lệnh phó Quân đoàn IV & Quân khu 4.

1975[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 26 tháng 4, ông được Tổng thống Trần Văn Hương ký quyết định thăng cấp Chuẩn tướng tại nhiệm. Ngày 30 tháng 4, ông chỉ huy Sư đoàn chiến đấu đến giờ chót.

Ngày 17 tháng 5, ông bị bắt tại Cần Thơ và bị đưa đi giam cầm và tù đày từ Nam ra Bắc suốt 17 năm.[7]Ngày 11 tháng 2 năm 1992 mới được trả tự do. Cùng năm ông được Chính phủ Hoa Kỳ bảo lãnh theo diện H.O sang Mỹ tỵ nạn và định cư tại Houston, Tiểu bang Texas, Hoa Kỳ.

Huy chương[sửa | sửa mã nguồn]

  • Huy chương Việt nam Cộng hòa:
    - Lục quân Huân chương đệ nhát hạng.
    - Chương mỹ Bội tinh đệ nhị hàng.
    - 32 Anh dũng Bội tinh đủ loại (9 nhành Dương liễu, 8 Ngôi sao vàng, 13 Ngôi sao bạc, 2 Ngôi sao đồng).
    - 3 Chiến thương Bội tinh và nhiều huy chương Quân sự, Dân sự khác.
  • Huy chương Hoa Kỳ:
    - 1 Commendation Medal (1969).
    - 2 Bronze Star with V Device (1969, 1971).
    - 1 Silver Star Anloc Battle (1972).
  • Giây biểu chương:
    - Màu Anh dũng Bội tinh (1963).
    - Màu Quân công Bội tinh (1966).
    - Màu Bảo quốc Huân chương (1971).

Gia đình[sửa | sửa mã nguồn]

  • Thân phụ: Cụ Mạch Hữu Khương
  • Thân mẫu: Cụ Tô Thị Lến
  • Nhạc phụ: Cụ Lê Văn Trương
  • Nhạc mẫu: Cụ Nguyễn Thị Bê
  • Phu nhân: Bà Lê Thị Bạch Loan - (Ông bà có năm người con gồm 4 trai, 1 gái).

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Ba lần phục vụ ở Sư đoàn 21 Bộ binh:
    -Lần thứ nhất: Đại úy Biệt đội trưởng Biệt đội Quân báo (1962-1964).
    -Lần thứ hai: Thiếu tá Trưởng phòng 2 (1965-1967).
    -Lần thứ 3: Chánh Thanh tra. Sau đó Tư lệnh Sư đoàn (1974-1975).
  2. ^ Bảo quốc Huân chương đệ tam, đệ tứ và đệ ngũ đẳng (ân thưởng).
  3. ^ Là một trong 8 Đại tá được thăng cấp Chuẩn tướng vào những ngày cuối cùng của Việt Nam Cộng hòa, thời điểm từ tháng 1 đến tháng 4 năm 1975 (trong đó có 3 tướng thuộc Quân đội và 5 tướng thuộc Cảnh sát Quốc gia)
    -Xem bài: Danh sách Chuẩn tướng Việt Nam Cộng hòa
  4. ^ Tiền thân của Trung tâm Huấn luyện Quốc gia Quang Trung.
  5. ^ Sinh năm 1922 tại Hải Dương. Tốt nghiệp khóa 2 Võ bị Quốc gia Huế. Chức vụ sau cùng: Liên đoàn trưởng Liên đoàn SVSQ tại trường Võ bị Đà Lạt. Giải ngũ năm 1973.
  6. ^ Thời điểm tướng Trường nhậm chức Tư lệnh Sư đoàn 21 Bộ binh, các sĩ quan cao cấp Chỉ huy và Tham mưu trong Sư đoàn gồm có:
    -Tư lệnh phó: Đại tá Nguyễn Hữu Kiểm (Tốt nghiệp trường Sĩ quan Trừ bị Thủ Đức)
    -Tham mưu trưởng: Đại tá Lâm Chánh Ngôn (Sinh năm 1929 tại Vĩnh Long, Tốt nghiệp khóa 5 Võ bị Đà Lạt)
    -Trung đoàn 31: Đại tá Nguyễn Văn Biết (Sinh năm 1930 tại Chợ Lớn, tốt nghiệp khóa 1 trường Sĩ quan Trừ bị Nam Định)
    -Chỉ huy trưởng Pháo binh: Trung tá Nguyễn Bá Nhẫn (Tốt nghiệp trường Sĩ quan Trừ bị Thủ Đức)
  7. ^ Là một trong 8 tướng lãnh Việt Nam Cộng hòa bị tù lưu đày với thời gian lâu nhất từ 1975 đến 1992.
    -Xem bài: Tướng lĩnh Việt Nam Cộng hòa bị tù lưu đày

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Trần Ngọc Thống, Hồ Đắc Huân, Lê Đình Thụy (2011). Lược sử Quân lực Việt Nam Cộng hòa.