Phạm Văn Phú

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Phạm Văn Phú
Tiểu sử
Sinh

1928

Hà Đông, VN
Mất

30-4-1975

Sài Gòn
Binh nghiệp
Phục vụ Flag of South Vietnam.svg Việt Nam Cộng hòa
Thuộc Flag of France.svg Quân đội Pháp
Flag of the South Vietnamese Army.jpg Quân lực Việt Nam Cộng hòa
Năm tại ngũ 1949-1975
Cấp bậc US-O8 insignia.svg Thiếu tướng
Đơn vị Sư đoàn 1 Bộ binh
Lực lượng Đặc biệt
Quân trường Quang Trung
Quân đoàn II
Chỉ huy Quân đội quốc gia
Quân lực Việt Nam Cộng hòa

Phạm Văn Phú (1929-1975), nguyên là tướng lĩnh gốc Nhảy dù của Quân lực Việt Nam Cộng hòa, mang quân hàm Thiếu tướng. Xuất thân từ trường Võ bị Liên quân do Chính phủ Quốc gia mở ra ở nam cao nguyên Trung phần vào thời điểm Quân đội Quốc gia Việt Nam còn trong Liên hiệp Pháp. Ra trường, ông được chọn vào binh chủng Nhảy dù, về sau giữ chức vụ Chỉ huy trưởng Lực lượng Đặc biệt và Tư lệnh Sư đoàn bộ binh. Sau cùng ông là Tư lệnh một trong 4 Quân đoàn chủ lực của Quân lực Cộng hòa.

Ông là một trong năm tướng lĩnh đã tự sát trong sự kiện 30 tháng 4 năm 1975.

Tiểu sử & Binh nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Ông sinh ngày 16 tháng 10 năm 1928 tại Hà Đông, Bắc phần (nay thuộc Tp Hà Nội), trong một gia đình nho giáo. Song thân là cụ Phạm Văn Tích và cụ Nguyễn Thị Nhiễm.

Ông đã tốt nghiệp trung học phổ thông chương trình Pháp tại Hà Nội với văn bằng Tú tài bán phần (Part I). Được tuyển dụng làm công chức tại Hà Đông một thời gian ngắn trước khi nhập ngũ.

Giữa năm 1952, thi hành lệnh động viên, ông nhập ngũ vào Quân đội Quốc gia Việt Nam, mang số quân: 48/300.402. Theo học khóa 8 Hoàng Thụy Đông tại trường Võ bị Liên quân Đà Lạt (khai giảng ngày 1 tháng 7 năm 1952, mãn khóa ngày 28 tháng 6 năm 1953). Tốt nghiệp với cấp bậc Thiếu úy ngạch hiện dịch. Ra trường ông được chọn phục vụ trong đơn vị Nhảy dù của Quân đội Liên hiệp Pháp. Đầu tháng 7 sau đó, ông thuyên chuyển về Tiểu đoàn 5 Nhảy dù đảm trách chức vụ Trung đội trưởng. Đầu tháng 12 cuối năm này, ông được thăng cấp Trung úy giữ chức Đại đội phó.

Ngày 14 tháng 3 năm 1954, ông được cử làm Đại đội trưởng Đại đội 1 của Tiểu đoàn 5. Ngày 25 tháng 4, ông được đặc cách thăng cấp Đại úy tại mặt trận do chiến tích của Đại đội ông chỉ huy đạt được trong nhiệm vụ tái chiếm cứ điểm trọng yếu đồi Elianne trong trận Điện biên phủ. Ngày 7 tháng 5, ông được ghi nhận mất tích tại chiến trường do bị đối phương bắt làm tù binh, sau đó bị đưa về giam giữ ở trại giam Đình Cả, Thái Nguyên.

(Trong chiến dịch Điện Biên Phủ. Ông đã từng bắt nhịp bài La Marseillaise (Quốc ca Pháp) cho lính Quốc gia Việt Nam vừa hát vừa xông lên phản kích ở đồi C1 nên được các sĩ quan Pháp cảm kích. Khi Điện Biên Phủ thất thủ, Việt Minh bắt giam cùng với Bréchignac, Botella, Clédic, Mackowiak và nhiều quân nhân khác).[1]

Quân đội Việt Nam Cộng hòa[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 8 tháng 7 năm 1955, (sau Hiệp định Genève), cùng trong số 20 sĩ quan tù binh được Việt Minh trao trả qua ngã cầu Hiền lương, sông Bến Hải, tỉnh Quảng Trị thuộc vĩ tuyến 17. Sau đó được biên chế vào Quân đội Việt Nam Cộng hòa. Tháng 9 cùng năm, ông được cử theo học lớp Dẫn đạo Chỉ huy tại Trung tâm Huấn luyện số 1 ở Quán Tre (tiền thân của Trung tâm Huấn luyện Quang Trung sau này). Qua đầu tháng 2 năm 1956, được tái phục vụ trong binh chủng Nhảy dù.

Giữa tháng giêng năm 1960, ông được biệt phái qua Bảo an, giữ chức vụ Tỉnh đoàn trưởng Bảo an tỉnh Kiến Phong. Tháng 5 cùng năm, trở về lại quân đội, ông được cử làm Quận trưởng quận Trà Cú thuộc tỉnh Vĩnh Long. Ngày 26 tháng 10 cuối năm, nhân dịp lễ Quốc khánh lần thứ 5 của nền Đệ nhất Cộng hòa, ông được thăng cấp Thiếu tá tại nhiệm.

Đầu tháng 8 năm 1961, ông được cử làm Liên đội trưởng Liên đội Quan sát số 1 thuộc Lực lượng Đặc biệt. Hạ tuần tháng 10 cùng năm, được cử đi du học lớp Thực tập hành quân và Huấn luyện Lực lượng Đặc biệt tại Okinawa, Nhật Bản trong thời gian 1 tháng.

Hạ tuần tháng 4 năm 1964, sau cuộc chỉnh lý nội bộ Chính quyền của Hội đồng Quân nhân Lãnh đạo của tướng Nguyễn Khánh, ông được cử làm Chỉ huy trưởng Lực lượng Đặc biệt Vùng 3 chiến thuật. Đến ngày 10 tháng 8 cùng năm, kiêm chức vụ Tham mưu trưởng Bộ tư lệnh Lực lượng Đặc biệt thay thế Trung tá Nguyễn Hộ. Đầu tháng 11 cuối năm này, nhân ngày kỷ niệm 1 năm cách mạng (1 tháng 11), ông được thăng cấp Trung tá tại nhiệm.

Tháng 4 năm 1965, ông được thăng cấp Đại tá và thuyên chuyển đến Bộ tư lệnh Quân đoàn I ở miền Trung. Cuối tháng 6, Xử lý thường vụ chức vụ Tư lệnh sư đoàn 2 bộ binh và Biệt khu 12 chiến thuật. Qua thượng tuần tháng 3 năm 1966, bàn giao chức vụ Tham mưu trưởng Lực lượng Đặc biệt lại cho Trung tá Nguyễn Hợp Đoàn, sau đó đi nhận chức phụ tá Tư lệnh Sư đoàn 1 bộ binh do Chuẩn tướng Phan Xuân Nhuận làm Tư lệnh. Hạ tuần tháng 10 cùng năm, ông được cử đi công cán tại Hồng Kông với nhiệm vụ đặc biệt trong thời gian 1 tuần lễ. Qua năm 1967, tiếp tục là phụ tá Tư lệnh Sư đoàn 1 do Đại tá Ngô Quang Trưởng làm Tư lệnh.

Đầu tháng 7 năm 1968, ông thuyên chuyển về Vùng 4 chiến thuật, được cử làm Tư lệnh Biệt khu chiến thuật 44 Đồng Tháp Mười, khu vực biên giới Việt-Miên (thành lập ngày 1-12-1967 gồm 4 tỉnh Kiến Tường, Kiến Phong, Châu Đốc và An Giang). Trung tuần tháng 4 năm 1969, ông được đặc cách vinh thăng hàm Chuẩn tướng tại nhiệm.

Đầu tháng giêng năm 1970, nhận lệnh bàn giao Biệt khu 44 lại cho Đại tá Võ Hữu Hạnh, sau đó ông được bổ nhiệm vào chức vụ Tư lệnh Lực lượng Đặc biệt thay thế Đại tá Phan Đình Thứ (tự Lam Sơn) được cử làm phụ tá Tư lệnh Biệt khu Thủ đô.

Thời điểm ông Tư lệnh Lực lượng đặc biệt, các sĩ quan trong Bộ tư lệnh gồm có:
- Phụ tá Tư lệnh: Đại tá Hồ Tiêu (khóa 2 Võ bị Huế)
- Tham mưu trưởng: Trung tá Đỗ Trong Khôi (Võ bị Đà Lạt)

Tháng 8 năm 1970, nhận lệnh bàn giao chức vụ Tư lệnh lực lượng Đặc biệt lại cho Đai tá Hồ Tiêu. Sau đó ông được bổ nhiệm làm Tư lệnh Sư đoàn 1 bộ binh thay thế Thiếu tướng Ngô Quang Trưởng được bổ nhiệm làm Tư lệnh Quân đoàn IV và Quân khu 4. Giữa tháng 4 năm 1971, ông được đặc cách vinh thăng hàm Thiếu tướng tại nhiệm do Sư đoàn 1 đạt được chiến công trong chiến dịch Lam sơn 719. Thời điểm này, ông được cử làm Trưởng đoàn hướng dẫn phái đoàn gồm 25 quân nhân các cấp có chiến tích ở Hạ Lào đi thăm viếng Trung Hoa Dân Quốc (Đài Loan).

Trung tuần tháng 9 năm 1972, ông xin từ nhiệm để dưỡng bệnh sau khi bàn giao Sư đoàn 1 lại cho Đại tá Nguyễn Văn Điềm (nguyên Tư lệnh phó Sư đoàn). Qua đầu năm 1973, ông được chỉ định làm Chỉ huy trưởng Trung tâm Huấn luyện Quang Trung thay thế Thiếu tướng Đoàn Văn Quảng

Đầu tháng 11 năm 1974, được lệnh bàn giao Trung tâm Huấn luyện Quang Trung lại cho Thiếu tướng Trần Bá Di (nguyên Tư lệnh phó Quân đoàn IV). Ngay sau đó, ông được bổ nhiệm làm Tư lệnh Quân đoàn II và Quân khu 2 thay thế Trung tướng Nguyễn Văn Toàn trở về Trung ương giữ chức Chỉ huy trưởng Thiết giáp.

1975[sửa | sửa mã nguồn]

Chiến dịch Tây Nguyên của Quân đội Nhân dân Việt Nam đã làm suy sụp tinh thần và đánh tan gần như hoàn toàn lực lượng của Quân lực Việt Nam Cộng hòa ở Cao nguyên Trung phần. Ngày 16 tháng 3, theo chỉ thị của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu trong cuộc họp khẩn cấp ngày 14 tháng 3 (gồm Tổng thống, Tổng tham mưu trưởng và các tướng Tư lệnh 4 Quân đoàn và Quân khu) tại Thị xã Cam Ranh. Ông chỉ huy cuộc triệt thoái toàn bộ Quân đoàn II và Quân khu 2 về Tuy Hòa để tái phối trí (Bộ tư lệnh Quân đoàn đặt ở Nha Trang). Cuộc triệt thoái này đã thất bại và làm rối loạn và thiệt hại lớn cho Quân đoàn II và Quân khu 2. Sau đó ông bị triệu tập về Sài Gòn nhưng vì lâm bệnh nên không thể trình diện Tổng thống Thiệu được. Đầu tháng 4, ông phải vào điều trị tại Tổng y viện Cộng hòa.

Đến sáng ngày 29 tháng 4 tại tư dinh số 19 đường Gia Long, Sài Gòn. Sau khi nhờ Đại úy Đỗ Đức Sáng (sĩ quan tùy viên) đưa phu nhân và các con ông lên phi trường Tân Sơn Nhứt để di tản ra ngoại quốc, ông đã tự sát bằng một liều Choloroquine cực mạnh. Trung úy Mạnh (sĩ quan an ninh) biết được sự việc liền báo ngay cho phu nhân chưa kịp lên đường, quay trở lại đưa ông vào bệnh viện Grall cấp cứu nhưng vô vọng vì đã uống quá nhiều thuốc. Ông bị hôn mê đến 11 giờ 15 trưa ngày 30 tháng 4, tỉnh lại thều thào hỏi phu nhân về hiện tình chiến cuộc ra sao. Sau khi được biết Tổng thống Dương Văn Minh đã ra lệnh cho toàn thể Quân lực Việt Nam Cộng hòa buông súng đầu hàng và quân giải phóng đã vào tới Sài Gòn. Nghe xong, ông từ trần, hưởng dương 47 tuổi.

Gia đình[sửa | sửa mã nguồn]

Phu nhân: Bà Đỗ Thị Lâm Đệ (con gái của ông Đỗ Văn Lưu, cựu Trung tá Chỉ huy phó Ngự lâm quân ở Đà Lạt và cụ Vương Chúc Anh, người Trung Hoa gốc Thượng Hải).

Ông bà có 8 người con gồm: 5 trai, 3 gái (hiện nay phu nhân và các con định cư tại Hoa Kỳ).

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Trần Ngọc Thống, Hồ Đắc Huân, Lê Đình Thụy (2011), Lược sử Quân lực Việt Nam Cộng hòa

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Theo "Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ: 24 giờ cuối cùng" - Bernard B. Fall, Vũ Trấn Thủ dịch