Nguyễn Vĩnh Nghi

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
NGUYỄN VĨNH NGHI
Tiểu sử
Sinh Tháng 10 năm 1932 (85 tuổi)
Gia Định, Việt Nam
Binh nghiệp
Phục vụ Flag of South Vietnam.svg Việt Nam Cộng hòa
Thuộc Flag of the South Vietnamese Army.jpg Quân lực VNCH
Năm tại ngũ 1951-1975
Cấp bậc US-O9 insignia.svg Trung tướng
Đơn vị ARVN 7th Division SSI.svg Sư đoàn 31 Bộ binh
ARVN Joint General Staff Insignia.svg Bộ Tổng Tham mưu
VNNMA-Emblem.svg Võ bị Quốc gia
Sư đoàn 21 Bộ binh
QD IV VNCH.jpg Quân đoàn IV và QK 4
Cư an tư nguy.svg Võ khoa Thủ Đức
QD III VNCH.jpg Quân đoàn III và QK 3
Chỉ huy Flag of the Vietnamese National Army.svg Quân đội Quốc gia
Flag of the South Vietnamese Army.jpg Quân lực VNCH
Tham chiến Chiến tranh Việt Nam

Nguyễn Vĩnh Nghi (sinh 1932), nguyên là một tướng lĩnh Bộ binh của Quân lực Việt Nam Cộng hòa, cấp bậc Trung tướng. Ông xuất thân từ những khóa đầu tiên tại trường Võ bị Quốc gia do Chính phủ Quốc gia Việt Nam mở ra ở miền Trung Việt Nam, sau chuyển về Nam Cao nguyên Trung phần. Ông đã tuần tự giữ những chức vụ theo hệ thống quân giai, bắt đầu từ Trung đội trưởng cho đến chỉ huy cấp Quân đoàn. Đầu tháng 4 năm 1975, ông là Tư lệnh phó kiêm Tư lệnh Bộ Tư lệnh Tiền phương Quân đoàn III và Quân khu 3, trách nhiệm phòng tuyến Phan Rang.[1] Tuy nhiên, phòng tuyến nhanh chóng bị thất thủ, ông bị đối phương bắt tại mặt trận và trở thành tướng lĩnh cao cấp nhất của Việt Nam Cộng hòa bị bắt làm tù binh trong Chiến tranh Việt Nam.

Tiểu sử và Binh nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Ông sinh vào tháng 10 năm 1932 tại tỉnh Gia Định, miền Nam Việt Nam trong một gia đình khá giả. Cuối năm 1950, ông tốt nghiệp Trung học phổ thông với văn bằng Tú tài bán phần (Part I).

Quân đội Quốc gia Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 6 năm 1951, ông tình nguyện nhập ngũ vào Quân đội Quốc gia, mang số quân: 52/120.091. Theo học khoá 5 Hoàng Diệu tại trường Võ bị Liên quân Đà Lạt, khai giảng ngày 1 tháng 7 năm 1951.[2] Ngày 24 tháng 4 năm 1952 mãn khóa tốt nghiệp với cấp bậc Thiếu úy hiện dịch. Ra trường. ông được phục vụ đơn vị Bộ binh, giữ chức Trung đội trưởng thuộc Tiểu đoàn Khinh quân Việt Nam. Tháng 8 năm 1953, ông được thăng cấp Trung úy, được cử lên làm Đại đội trưởng. Giữa năm 1954, ông được đặc cách thăng cấp Đại úy và được cử vào chức vụ Tiểu đoàn phó.

Quân đội Việt Nam Cộng hòa[sửa | sửa mã nguồn]

Đầu tháng 1 năm 1955, ông được thăng cấp Thiếu tá và được cử làm Tham mưu trưởng Sư đoàn 31 Bộ binh tân lập[3] do Trung tá Nguyễn Hữu Có làm Tư lệnh. Cuối tháng 5, bàn giao chức vụ Tham mưu trưởng lại cho Trung tá Hoàng Văn Lạc ông được thuyên chuyển về Bộ Tổng Tham mưu giữ chức vụ Trưởng phòng Hành quân.

Quân đội Việt Nam Cộng hòa[sửa | sửa mã nguồn]

Cuối tháng 10 năm 1955, Thủ tướng Ngô Đình Diệm thực hiện cải danh Quân đội Quốc gia thành Quân đội Việt Nam Cộng hòa, ông chuyển biên chế sang phục vụ cơ cấu quân đội mới, tiếp tục giữ chức vụ cũ tại Bộ Tổng Tham mưu. Năm 1960, ông được đề cử làm Chỉ huy phó trường Võ bị Quốc gia Đà Lạt. Sau đó được cử đi du học lớp Chỉ huy Tham mưu cao cấp tại Học viện Fort Leavenworth, thuộc Tiểu bang Kansas, Hoa Kỳ. Mãn khoá trở về tái nhiệm chức vụ cũ.

Năm 1963, sau cuộc đảo chính Tổng thống Ngô Đình Diệm ngày (1 tháng 11). Ngày 3 tháng 11. ông được thăng cấp Trung tá, Xử lý Thường vụ chức vụ Chỉ huy trưởng trường Võ bị Đà Lạt trong một thời gian ngắn thay cho Chỉ huy trưởng là Đại tá Trần Ngọc Huyến bị gọi về trình diện Hội đồng Quân nhân Cách mạng. Đầu tháng 1 năm 1964, khi Thiếu tướng Trần Tử Oai về nhậm chức Chỉ huy trưởng, ông trở lại chức vụ Chỉ huy phó kiêm Tham mưu trưởng của trường.

Tháng 2 năm 1966, ông được thăng cấp Đại tá tại nhiệm, tiếp tục giữ chức vụ cũ dưới quyền tân Chỉ huy trưởng là Đại tá Vũ Ngọc Nhận. Ngày 16 tháng 3 năm 1968, ông chuyển ra đơn vị tác chiến được bổ nhiệm làm Tư lệnh Sư đoàn 21 Bộ binh thay thế Thiếu tướng Nguyễn Văn Minh.[4] Ngày Quân lực 19 tháng 6 cùng năm, ông được thăng cấp Chuẩn tướng tại nhiệm.

Đường binh nghiệp mở rộng khi tướng Nguyễn Văn Thiệu[5] lên làm Tổng thống. Ngày 19 tháng 6 năm 1970, ông được thăng cấp Thiếu tướng tại nhiệm. Đầu tháng 5 năm 1972, bàn giao Sư đoàn 21 Bộ binh lại cho Chuẩn tướng Hồ Trung Hậu.[6] Sau đó, ông được bổ nhiệm chức vụ Tư lệnh Quân đoàn IV & Quân khu 4 thay thế Trung tướng Ngô Quang Trưởng.[7] Đầu tháng 3 năm 1974, ông được thăng cấp Trung tướng tại nhiệm.

Tuy nhiên, trong thời gian ở Quân đoàn IV, ông vướng nhiều các vụ tai tiếng tham nhũng, vì vậy tháng 11 năm 1974, ông buộc phải phải bàn giao chức vụ Tư lệnh Quân đoàn IV lại cho Thiếu tướng Nguyễn Khoa Nam, đổi đi nhậm chức Chỉ huy trưởng trường Bộ binh Thủ Đức.

1975[sửa | sửa mã nguồn]

Phòng tuyến Phan Rang thất thủ[sửa | sửa mã nguồn]

Cuối tháng 3 năm 1975, khi thế trận của Quân lực Việt Nam Cộng hòa ở phía Bắc lãnh thổ đã hoàn toàn tan vỡ, các đại đơn vị của Quân đoàn I và Quân đoàn II bị tan rã, ông được Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu bổ nhiệm làm Tư lệnh phó Quân đoàn III kiêm Tư lệnh Bộ Tư lệnh Tiền phương Quân đoàn đặc trách phòng tuyến Phan Rang nhằm ngăn chặn đà tiến công của các lực lượng Cộng sản. Với lời hứa của Tổng thống Thiệu sẽ tăng cường binh lực và hỏa lực tối đa, ngay khi nhận chức, ông đã đặt Bộ Tư lệnh tại phi trường Thành Sơn, Phan Rang (căn cứ của Sư đoàn 6 Không quân di tản về từ Pleiku), cố gắng tổ chức các đơn vị trên địa bàn để chiến đấu. Ông xác định địa thế của Phan Rang có nhiều thuận lợi cho việc phòng thủ nên chủ trương chống giữ mặt Bắc và mặt Tây thị xã và phải giữ an toàn cho căn cứ Không quân cũng như an ninh cho Thị xã. Theo chủ trương này, ông xây dựng một kế hoạch phòng thủ Phan Rang với một lực lượng cỡ 2 Sư đoàn gồm:

  • -Ở mặt Bắc, trên tuyến Quốc lộ 1, hình thành các cứ điểm trấn giữ các điểm cao tại đèo Du Long với một dải chiến tuyến hùng hậu tại Du Long cùng các tuyến phụ tại Ba Râu và Ba Tháp để ngăn chặn mọi cuộc tấn công hướng vào Thị xã hoặc vào căn cứ.
  • -Ở mặt Tây, trên tuyến quốc lộ 11, án ngữ tại vùng Tân Mỹ, xây dựng một chiến tuyến để bảo vệ mặt tây và nam của sân bay.

Việc bảo đảm an ninh cho Thị xã và sân bay do các đơn vị chính quy phối hợp với quân địa phương phụ trách…

Tuy nhiên, trên thực tế, với lực lượng phòng thủ tại chỗ chỉ còn lại những đơn vị chắp vá và mất tinh thần, lực lượng tăng viện chỉ gồm 1 Lữ đoàn dù (Lữ đoàn 2), phòng tuyến Phan Rang hoàn toàn không đủ sức phòng thủ. Ngay cả nhiệm vụ bảo vệ căn cứ cũng gần như không thể thực hiện như theo lời Chuẩn tướng Phạm Ngọc Sang, Tư lệnh Sư đoàn 6 không quân, thuật lại: "Căn cứ tôi bây giờ rất trống trải, vì một số lớn quân nhân địa phương canh gác ngoài vành đai đã bỏ nhiệm vụ… Ngoài Thị xã, Tỉnh trưởng đã rời nhiệm sở, dân chúng thì ngơ ngác phân vân. Trên quốc lộ 1 hướng về Sài Gòn, từng đoàn xe dân sự và quân sự chật ních người rầm rộ tiếp nối nhau di tản. Tệ hại hơn nữa là Đà Lạt cũng bỏ chạy…". Các đơn vị chủ lực hầu như mất hết sức chiến đấu với "Liên đoàn 31 Biệt động quân vừa rút khỏi Chơn Thành sau nhiều ngày tác chiến gian khổ với nhiều tổn thất, chưa kịp nghỉ dưỡng quân thì được tung ra tuyến đầu với quân số thiếu thốn trầm trọng. Sư đoàn 2 Bộ binh vừa tháo chạy từ Quảng Ngãi vừa tập trung tại Bình Tuy và đang được bổ sung quân số thì cũng được ra lệnh phải ra Phan Rang trong khi cả đơn vị còn hoang mang, dao động vì chưa kịp bổ sung thiết bị".[8]

Chuyện gì đến sẽ phải đến. Sau nhiều đợt tấn công trong đêm, vào lúc 7 giờ sáng ngày 16 tháng 4 năm 1975, các đơn vị đi đầu của Quân đội Nhân dân Việt Nam/Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam bắt đầu tấn công trong Thị xã. Đến 9 giờ sáng, căn cứ phi trường Thành Sơn bị tấn công.

"Đến khoảng 10g, khi tiếng súng càng lúc càng dồn dập, tướng Nghi liền họp cùng Chuẩn tướng Nhựt, Đại tá Lương và tôi để duyệt xét tình hình. Khoảng đến 10g30 sáng, khi các toán Cộng quân sắp tiến vào Bộ Tư lệnh tiền phương thì Trung tướng Nghi mới ra lệnh rời căn cứ bằng đường bộ… Lúc 9g tối, dưới sự hướng dẫn của Đại tá Lương, đoàn người bắt đầu rời thôn Mỹ Đức. Chưa đi được bao xa thì bị phục kích. Trung tướng Nghi, ông Lewis[9] và tôi cùng một số quân nhân bị Cộng quân bắt".

Đoạn cuối con đường[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi ông và tướng Sang bị bắt, cả hai ông nhanh chóng được đưa ra Hà Nội để khai thác. Ông được cho là đã cung cấp nhiều thông tin có giá trị về hệ thống phòng thủ Sài Gòn.[10][11][12]. Sau đó, ông bị chính quyền mới đưa đi giam giữ ở Suối Dầu, Khánh Hòa, rồi đưa ra giam ở Đà Nẵng, cuối cùng bị đưa ra cải tạo khổ sai ở Sơn Tây cho tới năm 1988 mới được trả tự do.

Năm 1992, ông xuất cảnh theo diện H.O do Chính phủ Mỹ bảo lãnh sang định cư tại Hoa Kỳ.[13]

Gia đình[sửa | sửa mã nguồn]

  • Phu nhân: Bà Kim Châu (còn có tên là Tuyết, con gái của cụ Tô Thị Thân, nguyên Hội trưởng Hội phụ nữ VNCH, nguyên Chủ nhiệm kiêm chủ bút báo Sài Gòn mới, Tòa soạn ở số 39 đường Phạm Ngũ Lão, Sài Gòn)

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Hai tỉnh (Tiểu khu) cuối cùng còn lại của Quân khu 2 thuộc khu vực Nam Duyên hải miền Trung, được sát nhập vào Quân khu 3 để lập phòng tuyến ngăn chận đà tiến công của đối phương.
  2. ^ Thuộc Trung đội 12 khóa sinh do Trung úy Nguyễn Văn Thiệu làm Trung đội trưởng. Mối quan hệ này về sau có ảnh hưởng rất lớn đến sự nghiệp của ông.
  3. ^ Tiền thân là Liên đoàn Lưu động số 31, sau đổi tên vài lần nữa, sau cùng trở thành Sư đoàn 7 bộ binh.
  4. ^ Thiếu tướng Minh được chuyển về Trung ương để giữ chức vụ Tư lệnh Biệt khu Thủ đô thay thế Đại tá Nguyễn Văn Giám
  5. ^ Tướng Nghi ngày học ở Võ bị Đà Lạt đã kết thân với Trung úy Thiệu Trung đội trưởng Trung đội khóa sinh
    (Đã đề cập tới ở phần trên)
  6. ^ Tướng Hậu nguyên là Tư lệnh phó Sư đoàn Nhảy đù
  7. ^ Tướng Trưởng chuyển ra miền Trung và được bổ nhiệm chức vụ Tư lệnh Quân đoàn I và Quân khu 1
  8. ^ Dẫn theo Lê Đại Anh Kiệt, Tướng lĩnh Sài Gòn tự thuật, Nhà xuất bản CAND
  9. ^ James Lewis thuộc cơ quan DAO, Hoa Kỳ
  10. ^ Hai viên bại tướng tại phòng tuyến Phan Rang
  11. ^ Vị tướng làm thơ 'ghi công' vợ
  12. ^ Kỳ 3: Liên tục “giải mật” tài liệu địch
  13. ^ Không rõ nơi ông và gia đình định cư.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Trần Ngọc Thống, Hồ Đắc Huân, Lê Đình Thụy (2011). Lược sử quân lực Việt Nam Cộng hòa. Trang 182-183

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]