Lê Minh Đảo

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Lê Minh Đảo
Tiểu sử
Sinh

5-3-1933

Sài Gòn, VN
Binh nghiệp
Thuộc Flag of the South Vietnamese Army.jpg Quân lực Việt Nam Cộng hòa
Năm tại ngũ 1955-1975
Cấp bậc US-O8 insignia.svg Thiếu tướng
Đơn vị Sư đoàn 18 bộ binh
Chỉ huy Quân đội Quốc gia
Quân lực Việt Nam Cộng hòa
Tham chiến Trận Xuân Lộc
Trận An Lộc
Công việc khác Tỉnh trưởng kiêm Tiểu khu trưởng

Lê Minh Đảo (1933), nguyên là tướng lĩnh bộ binh của Quân lực Việt Nam Cộng hòa. Ông xuất thân từ trường Võ bị Quốc gia dưới thời kỳ Quốc gia Việt Nam. Ông được đánh giá là một trong những tướng lĩnh chỉ huy cấp Sư đoàn xuất sắc nhất của Việt Nam Cộng hòa, từng được mệnh danh là "Người hùng Xuân Lộc", khi ông là Tư lệnh chiến trường Xuân Lộc, phòng tuyến cuối cùng của chế độ Việt Nam Cộng hòa trước khi sụp đổ.

Tiểu sử & Binh nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Ông sinh ngày 5 tháng 3 năm 1933 tại xã Bình Hòa, tỉnh Gia Định (nay thuộc Tp Hồ Chí Minh) trong một gia đình cha là công chức. Song thân là cụ Lê Hằng cầm và cụ Ngô Thị thao. Từ nhỏ, ông có tiếng học giỏi, ông đã học tại trường Lycėe Pėtrus Ký Sài Gòn. Tốt nghiệp với văn bằng Tú tài toàn phần (Part II)

Cuối tháng 9 năm 1953, ông tình nguyện nhập ngũ vào Quân đội Quốc gia Việt Nam, mang số quân: 53/125.441. Theo học khóa 10 Trần bình Trọng tại trường Võ bị Liên quân Đà Lạt (khai giảng ngày 1/10/1953, mãn khóa ngày 1/6/1954). Tốt nghiệp với cấp bậc Thiếu úy. Do có thành tích học tập tốt (hạng 18/400), ông được giữ lại trường để làm huấn luyện viên và cán bộ Trung đội trưởng, hướng dẫn khóa sinh của khóa 12 kế tiếp.

Quân đội Việt Nam Cộng hòa[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1955, khi chế độ Việt Nam Cộng hòa thành lập, ông được chuyến sang phục vụ và được chọn đi du học lớp Huấn luyện viên tại Trường Võ bị Lục quân Fort Benning, Georgia, Hoa Kỳ. Ông được xem là một học viên toàn diện, có thể tự lái trực thăng và làm hoa tiêu phụ bay đêm[1]. Tháng 6 năm 1956, sau khi mãn khóa học về nước, ông được thăng cấp Trung úy tiếp tục làm cán bộ và huấn luyện viên của trường Võ bị Liên quân các khoá 13, 14 và 15.

Một sĩ quan trẻ triển vọng[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1959, Thiếu tướng Lê Văn Kim nhận chức Chỉ huy trưởng trường Võ bị Liên quân Đà Lạt, đầu năm 1960 ông được chọn làm sĩ quan tùy viên cho Chỉ huy trưởng. Vì vậy, năm 1961 khi tướng Kim được điều về Bộ Tổng tham mưu làm Phụ tá Tư lệnh hành quân, ông cũng được chuyển công tác theo. Năm 1962, ông được thăng cấp Đại úy và được cử đi du học lớp tác chiến chống du kích trong rừng già tại Malaysia. Sau khi về nước, ông phục vụ tại Khối Nghiên cứu của Bộ Tư lệnh Hành quân.

Ngày 2 tháng 11 năm 1962, ông được thăng cấp Thiếu tá và được bổ nhiệm làm Tỉnh trưởng Long An thay thế Thiếu tá Nguyễn Văn Xinh. Khi đảo chính 1963 ông được tướng Lê Văn Kim, bấy giờ đã được thăng Trung tướng, Tổng thư ký kiêm Ủy viên Ngoại giao của Hội đồng Quân nhân Cách mạng, triệu hồi về Sài Gòn để chuẩn bị nhân sự. Tuy nhiên, tướng Nguyễn Khánh sau đó không lâu đã thực hiện cuộc chỉnh lý để loại bỏ ảnh hưởng của các tướng Trần Văn Đôn, Tôn Thất Đính, Lê Văn Kim và Mai Hữu Xuân và lên nắm quyền. Bị cho là thuộc cấp thân tín của tướng Kim, nên cuối năm 1964, ông phải bàn giao chức vụ Tỉnh trưởng lại cho Thiếu tá Nguyễn Văn Lộc và chuyển công tác về Phòng 3 (Tác chiến) của Quân đoàn IV.

Tướng tinh chiếu rọi[sửa | sửa mã nguồn]

Mãi đến năm 1965, ông mới được bổ nhiệm vào chức vụ chỉ huy, bắt đầu sự thăng tiến trong binh nghiệp. Ban đầu là Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 1, Trung đoàn 31, Sư đoàn 21 Bộ binh, không lâu sau, ông được thăng làm Trung đoàn phó Trung đoàn 31. Qua năm 1966, ông được điều trở về Bộ Tư lệnh Quân đoàn IV, giữ chức Giám đốc Trung tâm Hành quân.

Năm 1967, ông được tân Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu bổ nhiệm làm Tỉnh trưởng kiêm Tiểu khu trưởng Chương Thiện thay thế Trung tá Chương Dzềnh Quay. Một năm sau, ông được thăng cấp Trung tá tại nhiệm. Tháng 3 năm 1969, chuyển sang làm Tỉnh trưởng kiêm Tiểu khu trưởng Định Tường. Năm 1970, ông được đặc cách thăng cấp Đại tá tại mặt trận. Thời gian này, ông thường xuyên tiếp xúc và có mối quan hệ thân tình với John Paul Vann, cựu Trung tá Lục quân Mỹ, Cố vấn cao cấp của Chương trình Bình định và Phát triển nông thôn (Civil Operations and Rural Development Support - CORDS) tại Quân đoàn IV. Ông đã gây được ấn tượng tốt với John Paul Vann, một yếu tố có ảnh hưởng quan trọng đến sự nghiệp của ông sau này.

Sư đoàn 18: Từ An Lộc đến Xuân Lộc[sửa | sửa mã nguồn]

Trong chiến cuộc Xuân - Hè 1972, John Paul Vann, bấy giờ cố vấn trưởng Hoa Kỳ tại Quân đoàn II, đã đề nghị Trung tướng Ngô Dzu, Tư lệnh Quân đoàn II, bổ nhiệm Đại tá Lý Tòng Bá và Đại tá Lê Minh Đảo vào các vụ Tư lệnh Sư đoàn tại Quân đoàn II, bởi viên cố vấn này cho rằng đấy chính là những sĩ quan trẻ, năng động và có kinh nghiệm chiến trường. Không lâu sau đó, Đại tá Lý Tòng Bá nhận chức vụ Tư lệnh Sư đoàn 23 Bộ binh và đến tháng 4 năm 1972, Đại tá Lê Minh Đảo đã được Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu bổ nhiệm vào chức vụ Tư lệnh Sư đoàn 18 Bộ binh kiêm Tư lệnh Biệt khu 31 Chiến thuật thay thế Thiếu tướng Lâm Quang Thơ, sau khi bàn giao Tiểu khu Định Tường lại cho Đại tá Chung Văn Bông.

Tháng 6 năm 1972, không lâu sau khi nhận chức Tư lệnh Sư đoàn 18, ông được lệnh đưa Sư đoàn vào An Lộc thay thế Sư đoàn 5 Bộ binh vốn đã bị thiệt hại nặng nề qua những đợt tấn công trong Trận An Lộc trước đó. Với sự tăng phái của Liên đoàn 5 Biệt động quân, Sư đoàn 18 trở thành đơn vị phòng thủ chính tại phía Bắc Sài Gòn. Ông nhiều lần chỉ huy Sư đoàn, liên tục hành quân giải tỏa, kết quả đã khai thông trục đường 13, làm giảm áp lực bao vây của đối phương vây quanh An Lộc. Do chiến tích này nên ngày 1 tháng 11 cùng năm, ông được vinh thăng hàm Chuẩn tướng khi mới 39 tuổi.

Thời điểm ông làm Tư lệnh Sư đoàn 18 Bộ binh, các sĩ quan chỉ huy và tham mưu có tên như sau:
  1. Đại tá Lê Xuân Mai - Tư lệnh phó (sinh 1926 tại Hà Đông, khóa 4 Đà lạt)
  2. Đại tá Huỳnh Thao Lược - Tham mưu trưởng (sinh 1930 tại Bạc Liêu, khóa 3 Đà Lạt)
  3. Đại tá Hứa Yến Lến - Tiếp vận Hành quân (sinh 1932 tại Cần Thơ, khóa 6 Đà Lạt)
  4. Đại tá Lê Xuân Hiếu - Chỉ huy Trung đoàn 43 (sinh 1934 tại Thái Bình, khóa 10 Đà Lạt)
  5. Đại tá Trần Minh Công - Chỉ huy Trung đoàn 48 (sinh 1933 tại Thừa Thiên)
  6. Đại tá Ngô Kỳ Dũng - Chỉ huy Trung đoàn 52 (sinh 1935 tại Hải ngoại, khóa 14 Đà Lạt)
  7. Đại tá Dương Phún Sáng - Chánh thanh tra Sư đoàn (sinh 1926 tại Hải Ninh, khóa 3 Đà Lạt)

Đầu tháng 6 năm 1974, ông được lệnh của Trung tướng Phạm Quốc Thuần, Tư lệnh Quân đoàn III, đưa Sư đoàn 18 tiến vào Bến Cát trong Chiến dịch Tam Giác Sắt với mục tiêu đánh bật các đơn vị Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam đang soát các cứ điểm tại đây như một bàn đạp tấn công hỏa lực chỉ cách Sài Gòn 30 km. Dù nhanh chóng chiếm lại được cứ điểm An Điền, trong các đợt giao tranh tại cứ điểm Rinet (đồi 82) và Rạch Bắp, trước sự chống trả quyết liệt của đối phương, Sư đoàn đã bị thiệt hại nặng nề sau 20 ngày giao chiến, vì thế được Sư đoàn 5 Bộ binh tiến vào thay thế. Và mãi đến cuối tháng 11 năm 1974, phía Việt Nam Cộng hòa mới chiếm lại được các cứ điểm còn lại.

Với thành tích chiến trận, Sư đoàn 18 trở thành một trong những Sư đoàn ưu tú nhất của Quân lực Việt Nam Cộng hòa. Vì vậy, đến đầu tháng 4 năm 1975, sau khi đã để mất phân nửa diện tích lãnh thổ vào tay đối phương cùng với thiệt hại 40% binh lực chỉ sau gần 1 tháng, với kế hoạch "Nỗ lực tối đa", cố gắng thiết lập 3 phòng tuyến Tây Ninh, Phan Rang, và quan trọng nhất là Xuân Lộc, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu hy vọng sẽ chặn đứng được đà tiến công của đối phương, giữ vững những phần đất còn lại của Việt Nam Cộng hòa để đạt được chút lợi thế còn lại trong đàm phán. Và tướng Lê Minh Đảo được chính Tổng thống Thiệu chỉ định làm Chỉ huy trưởng của phòng tuyến. Để thể hiện rõ quyết tâm, tướng Đảo tuyên bố ông sẽ tử thủ tại Xuân Lộc.

Tuy nhiên, trước sự áp đảo toàn diện của đối phương, phòng tuyến Xuân Lộc dù được bố phòng kỹ lưỡng, với binh lực tại chỗ hơn 12.000 quân (gồm Sư đoàn 18 và 3 chiến đoàn hỗn hợp), cùng với lực lượng tăng cường là Liên đoàn 81 Biệt cách dù, Lữ đoàn 1 Nhảy dù, đồng thời với sự hỗ trợ tối đa của Không quân. Nhưng sau khi các phòng tuyến Tây Ninh và Phan Rang lần lượt thất thủ, phòng tuyến Xuân Lộc trở nên mất tác dụng. Ông cùng với các đơn vị còn lại được lệnh rút về Biên Hòa. "Cánh cửa thép" Xuân Lộc bị mở tung sau 11 ngày kịch chiến.

1975[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 21 tháng 4, Tổng thống Thiệu tuyên bố từ chức. Phó tổng thống Trần Văn Hương kế vị và để khích lệ tinh thần, đã thăng ông lên hàm Thiếu tướng (ngày 24 tháng 4). Nhưng điều đó vẫn không giảm được đà tiến vũ bão của đối phương. Tối ngày 29 tháng 4, ông nhận lệnh tiếp tục lui quân và sau đó là lệnh đầu hàng trưa 30 tháng 4 năm 1975.

Bị lưu đày và cuộc sống xứ người[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi nhận được lệnh đầu hàng, ông ra lệnh giải tán đơn vị và tìm cách về Cần Thơ rồi lại quay về Sài Gòn. Đến ngày 9 tháng 5 năm 1975, ông ra trình diện chính quyền mới. Những năm sau đó, ông bị đưa đi cải tạo lưu đày trong 17 năm mãi đến năm 1992 mới được trả tự do.

  • Ông là một trong 8 tướng lãnh VNCH được trả tự do sau cùng.

Tháng 4 năm 1993, ông được xuất cảnh sang Hoa Kỳ theo diện H.O và định cư cùng gia đình tại Virginia, Hoa Kỳ. Khi được hỏi về việc học tập cải tạo, ông Đảo cho biết: "Nói cải tạo để dùng cái mỹ từ cho nó đẹp chứ đi đày tụi tôi chứ cải tạo cái gì? Sự thật là ai cải tạo ai? Bây giờ phải nói rằng trình độ tụi tôi với tất cả cuộc sống của tụi tôi có cần những người cải tạo để đưa tụi tôi từ một [mức] con người biết đầy đủ tất cả nhân phẩm xuống thành con thú vật đâu?"[2]

Sau khi ổn định cuộc sống tại Hoa Kỳ, ông tham gia và tích cực tổ chức các hoạt động ái hữu trong giới cựu sĩ quan và binh sĩ Việt Nam Cộng hòa. Tháng 9 năm 2003, ông là một trong những đồng sáng lập tổ chức Tập thể Chiến sĩ Việt Nam Cộng hòa và giữ chức Chủ tịch Trung tâm Điều hợp Trung ương.

Gia đình[sửa | sửa mã nguồn]

  • Phu nhân: Trần Thị Bích Liên. Ông bà có 9 người con, 2 trai và 7 gái.

Cha mẹ ông sinh hạ tất cả 10 người con. Ngoài ông còn có 5 người chị em gái và 4 người em trai. Những người em trai này đều phục vụ như ông trong Quân lực Việt Nam Cộng hòa:

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Thời trẻ, tướng Lê Minh Đảo từng là một nhạc công guitar giỏi, thường chơi cho những tụ điểm ca nhạc, phòng trà ở Sài Gòn vào đầu thập niên 1950, nhằm kiếm thêm thu nhập phụ giúp cha mẹ, lo học phí cho bản thân và các em, thậm chí còn sáng tác vài nhạc phẩm được khá đông người biết đến. Ông từng là thành viên của ban nhạc Lê Thương với vai trò nhạc công banjo. Một thành viên khác của ban Lê Thương là nhạc công guitar Nguyễn Văn Minh, về sau trở thành Trung tướng Nguyễn Văn Minh, Tư lệnh Biệt khu Thủ đô.[3]

Trong thời gian ông bị giam cải tạo ông đã sáng tác bài "Nhớ Mẹ".[4] Bài này đã được một số ca sĩ ở hải ngoại trình diễn thâu thanh.

Ngoài khả năng âm nhạc, ông còn được xem là vận động viên quần vợt hạng khá.

Ông trở lại đạo Công giáo trong đầu thập niên 1990, được một linh mục trong cùng trại giam rửa tội khi còn bị giam ở Sài Gòn.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Trần Ngọc Thống, Hồ Đắc Huân, Lê Đình Thụy (2011), Lược sử Quân lực Việt Nam Cộng hòa, tr 274-276

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]