Lê Minh Đảo

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Lê Minh Đảo
Xuanloc 18th.jpg

Tiểu sử
Biệt danh Người hùng Xuân Lộc
Sinh

1933

Sài Gòn, Đông Dương thuộc Pháp
Binh nghiệp
Thuộc Flag of the South Vietnamese Army.jpg Quân lực Việt Nam Cộng hòa
Năm tại ngũ 1955-1975
Cấp bậc US-O8 insignia.svg Thiếu tướng
Đơn vị Sư đoàn Bộ binh 18
Tham chiến Trận Xuân Lộc
Trận An Lộc

Lê Minh Đảo (1933), nguyên là một tướng lĩnh của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, ông mang quân hàm Thiếu tướng. Xuất thân từ Trường Võ bị Quốc gia, nên suốt gần 20 năm phục vụ trong quân ngũ ông được giao cho những nhiệm vụ ở nhiều lĩnh vực khác nhau. Thời gian đầu ông được giao công tác làm cán bộ chỉ huy và Huấn luyện viên cho các đơn vị khóa sinh ở các Quân trường, sau chuyển sang lĩnh vực Hành chính (Quận Trưởng, Tỉnh Trưởng...). Cuối cùng trở về với chuyên môn quân sự là Chỉ huy các đơn vị bộ binh.

  • Ông là một trong ba vị Chuẩn tướng được thăng cấp Thiếu tướng vào những ngày cuối cùng của chiến cuộc Việt Nam (thứ hai là Thiếu tướng Bùi Thế Lân Tư lệnh Sư đoàn Thủy quân Lục chiến, thứ ba là Thiếu Tướng Phan Đình Niệm, Tư lệnh Sư đoàn 22 bộ binh)

Tiểu sứ & gia đình[sửa | sửa mã nguồn]

Ông sinh ngày 5-3-1933 tại xã Bình Hòa, Tỉnh Gia Định trong một gia đình bình dân có 10 anh chị em. Cha làm Công Chức, Mẹ buôn bán nhỏ. Tuy nhiên, anh chị em ông là những người con chí hiếu và là những học sinh xuất sắc.

Học sinh Trường Lycėe Pėtrus Ký Sài Gòn. Tốt nghiệp Tú tài toàn phần.

  • Ông còn là một Nhạc công Guitar rất hay, thường chơi cho những tụ điểm ca nhạc, phòng trà ở Sài Gòn vào đầu thập niên 50 (mục đích là để kiếm thêm thu nhập phụ giúp cha mẹ, lo học phí cho bản thân và các em).
  • Song thân: Cụ Lê Hằng Cầm (Công chức Tòa Sơ Thẩm Sài Gòn) & Cụ Ngô Thị Thao (Hai cụ quê ở Cần Đước, Long An).
  • Ngoài 2 người chị là Lê Thị Kỳ, Lê Thị Trình và 3 người em gái: Lê Thị Mộng Huyền, Lê Thị Ánh Và Lê Thị Ánh Tuyết, ông còn 4 người em trai đều tham gia trong Quân lực Việt Nam Cộng hòa:
  1. Lê Hằng Minh (sinh 1935 tại Gia Định, khóa 5 Thủ Đức. Sau là Trung tá Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 2 (còn có danh tính là Tiểu đoàn Trâu Điên Thủy quân Lục chiến). Tử trận ngày 29-6-1966 tại Phong Điền, Thừa Thiên khi đang Chỉ huy Tiểu đoàn Hành quân ra Quảng Trị do Cộng quân dùng chiến thuật phục kích độn thổ. An táng tại Nghĩa trang Quân đội Gò Vấp (mới thăng Trung Tá nhiệm chức cách đó 1 tuần nên không truy thăng, mà chỉ áp dụng quy chế tử tuất và phụ cấp cho song thân hàng tháng theo cấp Trung Tá thực thụ).
  2. Lê Hằng Nghi (sinh 1940 tại Gia Định, khóa 15 Thủ Đức. Cấp bậc sau cùng là Đại úy Thuỷ quân Lục chiến).
  3. Lê Quang Thạch (sinh 1943, Hạ sĩ quan, tử Trận).
  4. Lê Quang Ảnh (sinh 1945, Chánh văn phòng Chủ tịch Tổng liên đoàn Lao công Việt Nam (Ông Trần Quốc Bửu).

Binh nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1953: Ông nhập ngũ vào Quân Đội Quốc Gia mang số quân: 53/125.441. Theo học khóa 10 Trần Bình Trọng Trường Võ Bị Liên Quân Đà Lạt (khai giảng: 1/10/1953, mãn khóa: 1/6/1954). Tốt nghiệp với cấp bậc Thiếu úy. Sau khi mãn khoá ông được chọn ở lại trường để làm cán bộ chỉ huy và hướng dẫn các khóa sinh của những khóa học kế tiếp.

Quân Đội Việt Nam Cộng hòa[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1955: Ông được tuyển chọn du học lớp Huấn luyện viên tại Trường Võ Bị Lục Quân Fort Benning, Columbus, Georgia, Hoa Kỳ, mãn khóa về nước năm 1956.

Năm 1956: Tháng 6, ông được thăng cấp Trung úy tại nhiệm. Tiếp tục làm cán bộ và huấn luyện viên các khoá 13, 14 và 15 tại trường Võ bị Đà Lạt cho đến cuối năm 1959.

Năm 1960: Đầu năm, ông được chuyển công tác làm Sĩ quan Tùy Viên của Thiếu tướng Lê Văn Kim (đương nhiệm Chỉ huy trưởng Trường Võ bị).

Năm 1962: Ông được thăng cấp Đại úy du học lớp Tác Chiến Rừng Rậm tại Mã Lai. Về nước phục vụ tại Khối Nghiên Cứu của Bộ Tư Lệnh Hành quân. Tháng 11 cùng năm, thăng cấp Thiếu tá và được bổ nhiệm chức Tỉnh Trưởng Long An thay thế Thiếu tá Nguyễn Văn Xinh (Sinh 1923 tại Long An, khóa 4 Đà Lạt, sau cùng là Trung Tá).

Năm 1964: Bàn giao chức Tỉnh trưởng Long An lại cho Thiếu tá Nguyễn Văn Lộc (Sinh 1932 tại Ba Xuyên, khóa 5 Đà Lạt, sau cùng là Đại Tá Tư Lệnh Sư đoàn 106 Biệt động quân tân lập).

Năm 1965: Giữ chức Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 1 Trung đoàn 31, Sư đoàn 21 bộ binh. Cùng năm lên làm Trung đoàn phó Trung đoàn 31.

Năm 1966: Ông được chuyển về Bộ tư lệnh Quân đoàn IV, giữ chức Giám đốc Trung tâm Hành quân của Quân đoàn.

Năm 1967: Ông được bổ nhiệm chức Tỉnh trưởng tỉnh Chương Thiện thay thế Trung tá Chương Dềnh Quay (sau là Chuẩn Tướng).

Năm 1968: Ông được thăng cấp Trung tá tại nhiệm.

Năm 1969: Đầu năm bàn giao chức Tỉnh trưởng Chương Thiện lại cho Trung tá Nguyễn Văn Ngưu (sinh 1920 tại Mỹ Tho, cựu Thiếu sinh quân, cấp bậc sau cùng là Đại Tá). Tháng 3, chuyển sang làm Tỉnh trưởng kiêm Tiểu khu trưởng Định Tường thay thế Trung tá Huỳnh Ngọc Diệp (sinh 1928 tại Long An, khóa 3 Thủ Đức, sau cùng là Đại Tá).

Năm 1970: Ông được đặc cách thăng cấp Đại Tá tại nhiệm.

Năm 1972: Tháng 3, bàn giao chức Tỉnh trưởng Định Tường lại cho Đại tá Chung Văn Bông (tốt nghiệp Trường Võ bị Đà Lạt). Tháng 4, ông được bổ nhiệm làm Tư lệnh Sư đoàn 18 bộ binh thay thế Thiếu tướng Lâm Quang Thơ tái nhiệm Chỉ huy trưởng Trường Võ bị Quốc gia (tên cải danh từ Võ Bị Liên Quân Đà Lạt).

Năm 1972: Đầu tháng 11, ông được vinh thăng Chuẩn Tướng tại nhiệm. Cùng thời gian này, các sĩ quan Tham mưu và Chỉ huy trong Bộ Tư lệnh Sư đoàn gồm có:

  1. Tư Lệnh Phó: Đại tá Lê Xuân Mai (sinh 1926 tại Hà Đông, khóa 4 Đà Lạt)
  2. Tham Mưu Trưởng: Đại tá Huỳnh Thao Lược (khóa 3 Đà Lạt)
  3. Tham Mưu Trưởng Tiếp Vận: Đại tá Hứa Yến Lến (khóa 6 Đà Lạt).
  4. Trung đoàn 43 : Đại tá Lê Xuân Hiếu (sinh 1934 tại Thái Bình, khóa 10 Đà Lạt)
  5. Trung đoàn 48 : Đại tá Trần Minh Công (sinh 1933 tại Thừa Thiên. Thăng cấp Đại tá tháng 4/1975)
  6. Trung đoàn 52 : Đại tá Ngô Kỳ Dũng (sinh 1935, khóa 14 Đà lạt)
  7. Chánh Thanh Tra: Đại tá Dương Phún Sáng (sinh 1926 tại Hải Ninh, khóa 3 Đà Lạt)

1975[sửa | sửa mã nguồn]

Trong Trận Xuân Lộc nơi Sư Đoàn 18 chống trả dữ dội và chận đứng các cuộc tấn công của 3 sư đoàn chính qui Bắc Việt. Tuy nhiên ông và SĐ chỉ cầm cự được ba tuần lễ, đến ngày 21 tháng 4 thì phải bỏ Xuân Lộc. Ngày 24-4 ông được vinh thăng Thiếu Tướng đặc cách tại mặt trận. Do đó ông có biệt danh "Người Hùng Xuân Lộc". Ông từng tuyên bố tử thủ tại Xuân Lộc nhưng đã không thực hiện được vì lệnh đầu hàng của " Big Minh"

Sau ngày 30-4, ông bị đưa ra miền Bắc học tập và tù cải tạo 17 năm. Đến năm 1992 ông mới được trả tự do. Trong thời gian bị cầm tù, ông đã sáng tác nhạc phẩm "Nhớ Mẹ" thể hiện sự nhớ thương người mẹ của mình.

Năm 1993, tháng 4 ông xuất cảnh sang Hoa Kỳ (theo chương trình định cư nhân đạo H.O dành cho quân nhân Việt Nam Cộng hòa bị Chính quyền Cộng sản cầm tù từ 3 năm trở lên). Ông cùng gia đình định cư tại Virginia, Hoa Kỳ

Tham Khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Bổ sung theo:
  • Nguồn: "Lược Sử Quân lực Việt Nam Cộng hòa" - Trần Ngọc Thống & Hồ Đắc Huân 2011.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]