Lê Văn Kim

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Lê Văn Kim
Tiểu sử
Quốc tịch Pháp, sau trở về Quốc tịch VN
Sinh

1918

Huỳnh Kim, Bình Định
Mất

1987

Pháp
Binh nghiệp
Thuộc Flag of the South Vietnamese Army.jpg Quân lực Việt Nam Cộng hòa
Cấp bậc US-O9 insignia.svg Trung tướng
Chỉ huy Flag of the South Vietnamese Army.jpg Quân lực Việt Nam Cộng hòa

Lê Văn Kim (1918-1987) nguyên là một tướng lĩnh của Quân lực Việt Nam Cộng hòa, mang quân hàm Trung tướng. Xuất thân từ trường sĩ quan Pháo binh Pháp. Ông là em rể của tướng Trần Văn Đôn và đã cùng với tướng Dương Văn Minh là bộ ba tổ chức cuộc đảo chính năm 1963 lật đổ chính quyền Tổng thống Ngô Đình Diệm và kết thúc trong "Vụ ám sát ông Ngô Đình Diệm và người em trai là ông Ngô Đình Nhu". Khi đảo chính ông đang là Thiếu tướng phụ tá Tổng tham mưu trưởng.

Tiểu sử & gia đình[sửa | sửa mã nguồn]

Ông sinh năm 1918 tại Huỳnh Kim, Bình Định (Tổ tiên quê ở Miền Bắc, đến đời thân phụ mới di chuyển vào Miền Trung và lập nghiệp tại Bình Định).

Thời niên thiếu, theo người chú du học ở Pháp đến năm 1932 tốt nghiệp Tú tài 2 Pháp tại Montpellier.

  • Song thân: Cụ Lê Văn Nhẫn & Cụ Trần Thị Bộ
  • Phu nhân: Bà Trần Thị Thu Hương (sinh 1918 tại Bordeaux Pháp, tên Pháp là Gabrielle Antoinette là em ruột của tướng Trần Văn Đôn). Ông bà có 2 người con trai.

Binh nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1940: Nhập ngũ vào Quân đội Pháp, theo học Trường Pháo binh Poitiers. Tốt nghiệp với cấp bậc Chuẩn úy.

Năm 1945: Tháng 8, ông được thăng cấp Thiếu úy, tùng sự tại văn phòng Tham mưu của Thuỷ sư Đô đốc Georges Thierry De Argenlieu, Cao uỷ Pháp tại Đông Dương (ở Sài Gòn).

Năm 1948: Tháng 9, thăng cấp Trung úy, Bí thư của Thủ tướng Nguyễn Văn Xuân.

Quân đội Quốc gia[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1950: Đầu năm, thăng cấp Đại úy. Tháng 4, được cử đi du học lớp Tham mưu tại Trường Tham mưu Paris Pháp.

Năm 1951: Mãn khoá về nước, ông được thăng cấp Thiếu tá.

Năm 1952: Tháng 3, ông được lên cấp Trung tá, giữ chức Phụ tá Tư lệnh Đệ tứ Quân khu Cao nguyên Nam phần.

Năm 1954: Đầu năm, được thăng cấp Đại tá. Sau Hiệp định Genève (20/7/1954), được cử giữ chức Trưởng phòng Nghiên huấn Bộ Quốc phòng kiêm Chủ tịch Hội đồng chuyển giao.

Quân đội Việt Nam Cộng hòa[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1955: Trung tuần tháng 1, bàn giao Hội đồng Chuyển giao lại cho Trung tá Nguyễn Văn Hải (sau là Đại tá). Chuyển sang Quân đội Việt Nam Cộng hòa, được cử giữ chức Đổng lý Văn phòng cho Kỹ sư Hồ Thông Minh Bộ trưởng Quốc phòng trong Nội các của Thủ tướng Ngô Đình Diệm. Tháng 4, giữ chức Tư lệnh tiếp thu Quân khu 5 của Việt Minh (gồm các tỉnh: Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định và Phú Yên). Tháng 6 cùng năm kết thúc chiến dịch tiếp thu, ông được cử vào chức vụ Đặc trách về Dinh điền.

Năm 1956: Ông được bổ nhiệm chức Chỉ huy trưởng Trường Đại học Quân sự, cuối năm vinh thăng Thiếu tướng tại nhiệm.

Năm 1959: Đầu năm, ông được chuyển qua làm Chỉ huy trưởng Trường Võ bị Liên quân Đà Lạt (sau đổi tên thành Trường Võ bị Quốc gia Việt Nam) thay thế Trung tá Nguyễn Văn Thiệu được cử đi du học lớp Tình báo Tác chiến tại Okinawwa, Nhật Bản.

Năm 1960: Đầu năm, tổ chức lễ mãn khoá 14 nhân Vị (khai giảng ngày 7/2/1957). Tháng 11 cùng năm, bàn giao chức vụ Chỉ huy trưởng Trường Võ bị lại cho Trung tá Trần Ngọc Huyến (nguyên Chỉ huy phó, sau là Đại tá Giám đốc Nha Tâm lý chiến).

Năm 1961: Đầu năm, Phụ tá Tư lệnh Bộ Tư lệnh hành quân Bộ Tổng Tham Mưu.

Năm 1963: Tháng 8, phụ tá Trung tướng Trần Văn Đôn (đương nhiệm quyền Tổng Tham mưu trưởng). Ngày 1-11 tham gia cuộc đảo chính. Ngày 2-11 vinh thăng Trung tướng giữ chức Tổng thư ký kiêm Ngoại giao của Hội đồng Quân nhân Cách mạng do Trung tướng Dương Văn Minh làm Chủ Tịch.

Năm 1964: Đầu năm, ông được bổ nhiệm vào chức vụ Tổng Tham Mưu Trưởng Quân Đội Việt Nam Cộng hòa (qua năm 1965 được cải danh thành Quân lực Việt Nam Cộng hòa). Một tháng sau bị quản thúc bởi tướng Nguyễn Khánh làm Chỉnh lý (vụ quản thúc 5 Trung tướng tại Đà Lạt gồm: Lê Văn Kim, Trần Văn Đôn, Tôn Thất Đính, Mai Hữu Xuân và Nguyễn Văn Vỹ). Tháng 11 cùng năm được trở lại Quân đội và được cử làm Phụ tá Tổng Tư lệnh Quân lực Trung tướng Nguyễn Khánh kiêm đặc trách chỉ huy 2 trường Võ bị Quốc Gia & Đại học Quân sự tại Đà Lạt.

Năm 1965: Tháng 5, ông được giải ngũ. sau đó tùng sự tại Công ty DOXUKI (Công ty này do ông và 2 tướng Trần văn Đôn và Mai Hữu Xuân thành lập sau khi cả 3 đều giải ngũ).

1975[sửa | sửa mã nguồn]

Sau ngày 30/4 bị đi cải tạo tại các trại giam Quang trung ở miền Nam & Yên Bái miền Bắc cho đến năm 1982 mới được trả tự do.

Năm 1983 sang Pháp định cư tại Quận 13 Paris qua chương trình đoàn tụ gia đình do con trai ông bảo lãnh.

Ngày 28/3/1987 từ trần tại nơi định cư, hưởng thọ 70 tuổi, an táng tại nghĩa trang Maisons Alfort.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Trần Ngọc Thống, Hồ Đắc Huân, Lê Đình Thụy (2011). Lược sử quân lực Việt Nam Cộng hòa. Hương Quê. ISBN 978-0-9852-1820-1.  (trang 155-158)