Nguyễn Xuân Thịnh

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
NGUYỄN XUÂN THỊNH
Tiểu sử
Sinh Tháng 1, 1929
Hưng Yên, Việt Nam
Mất 8 tháng 4, 1998 (69 tuổi)
California, Hoa Kỳ
Binh nghiệp
Phục vụ Flag of South Vietnam.svg Việt Nam Cộng hòa
Thuộc Flag of the South Vietnamese Army.jpg Quân lực VNCH
Năm tại ngũ 1950-1975
Cấp bậc US-O9 insignia.svg Trung tướng
Đơn vị Flag of ARVN's Artillery Forces.svg Binh chủng Pháo binh
Cư an tư nguy.svg Võ khoa Thủ Đức
ARVN 23rd Division Insignia.svg Sư đoàn 23 Bộ binh
ARVN 22nd Division Insignia.svg Sư đoàn 22 Bộ binh
Cờ Thẳng tiến.png Sư đoàn 25 Bộ binh
QD III VNCH.jpg Quân đoàn III và QK 3
Chỉ huy Flag of the Vietnamese National Army.svg Quân đội Quốc gia
Flag of the South Vietnamese Army.jpg Quân lực VNCH
Tham chiến Chiến tranh Việt Nam
Khen thưởng B.Quốc H.Chương đệ II[1]

Nguyễn Xuân Thịnh (1929-1998) nguyên là một tướng lĩnh Bộ binh của Quân lực Việt Nam Cộng hòa cấp bậc Trung tướng. Ông xuất thân từ trường Võ bị Liên quân do Chính phủ Quốc gia Việt Nam mở ra ở Cao nguyên Trung phần Việt Nam. Chuyên môn quân sự của ông là ngành Pháo Binh. Trong suốt chiều dài 25 năm phục vụ trong Quân đội, có 9 năm ông chuyển ngành đi giứ chức vụ chỉ huy các đơn vị Bộ binh. Thời gian còn lại ông hoàn toàn phục vụ cho chuyên ngành của mình. Ông là một sĩ quan rất có ý thức về trách nhiệm, luôn làm tròn trọng trách của mình ở bất cứ một chức vụ nào khi đã được giao phó.

Tiểu sử & Binh nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Ông sinh vào tháng 1 năm 1929 trong một gia đình gia giáo khá giả tại Hưng Yên, miền Bắc Việt Nam. Lúc nhỏ, ông học Tiểu học ở Hưng Yên, khi lên Trung học, ông được gia đình cho đi học ở Hà Nội. Năm 1949, ông tốt nghiệp Trung học Phổ thông chương trình Pháp tại Hà Nội với văn bằng Tú tài bán phần (Part I).

Quân đội quốc gia Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Cuối tháng 9 năm 1950, thi hành lệnh động viên của Quốc trưởng Bảo Đại, ông nhập ngũ vào Quân đội Quốc gia, mang số quân: 49/300.365. Theo học khóa 3 Trần Hưng Đạo tại trường Võ Bị Liên Quân Đà Lạt, khai giảng ngày 1 tháng 10 năm 1950. Ngày 25 tháng 6 năm 1951 mãn khóa tốt nghiệp với cấp bậc Thiếu úy hiện dịch.[2] Ra trường ông được chọn về ngành Pháo binh. Tiếp tục theo học lớp căn bản Pháo binh tại Trung tâm Huấn luyện Pháo binh ở Phú Lợi, Thủ Dầu Một, tháng 1 năm 1952 mãn khóa. Sau đó ông được chuyển đi làm Trung đội trưởng thuộc Pháo đội 3 đồn trú tại Bắc Ninh.

Tháng 2 năm 1953, ông được thăng cấp Trung úy, được cử giữ chức Pháo đội trưởng Pháo đội 1, đồn trú ở Vân Trì. Tháng 5 cùng năm, Pháo đội 1 di chuyển từ Vân Trì về Bắc Não. Ông chuyến sang làm Pháo đội trưởng Pháo đội 2, hoán chuyển nhiệm vụ với Trung úy Lâm Quang Thi về làm Pháo đội trưởng Pháo đội 1. Tháng 10 năm 1954, ông được thăng cấp Đại úy, được cử làm Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 3 Pháo binh.

Quân đội Việt Nam Cộng hòa[sửa | sửa mã nguồn]

Cuối năm 1955, sau khi chuyển qua quy chế Quân đội Việt Nam Cộng hòa, ông được thăng cấp Thiếu tá và chuyển đi phục vụ tại Liên trường Võ Khoa Thủ Đức. Thượng tuần tháng 2 năm 1959, ông được cử đi du học khóa 2 lớp Sĩ quan Tiền sát Pháo binh tại trường Pháo binh và Vũ khí (Artillery and Missile School), Fort Still, Oklahoma, Hoa Kỳ. Hai tháng sau mãn khóa về nước tiếp tục phục vụ ở Liên trường Võ khoa. Tháng 10 cùng năm, ông được thăng cấp Trung tá tại nhiệm. Năm 1960, ông được cử làm Chỉ huy trưởng Pháo binh trong Bộ tư lệnh Hành quân do Trung tướng Dương Văn Minh làm Tư lệnh. Cuối năm 1962, ông được cử đi du học khóa Chỉ huy Tham mưu cao cấp (The Command and Generreral Staff College) tại Học viện Fort Leavnworth, Kansas, Hoa Kỳ. Thượng tuần tháng 5 năm 1963, mãn khóa về nước ông được cử làm Tư lệnh phó Sư đoàn 23 Bộ binh. Sau cuộc đảo chính Tổng thống Ngô Đình Diệm (ngày 1 tháng 11 năm 1963). Ngày 3 tháng 11, ông được thăng cấp Đại tá tại nhiệm.

Đầu tháng 10 năm 1964, ông Xử lý Thường vụ chức Tư lệnh Sư đoàn 23 Bộ binh[3] cho tới khi Đại tá Lữ Lan về nhận chức Tư lệnh Sư đoàn vào ngày 14 tháng 10. Sau đó 10 ngày (24 tháng 10), ông được bổ nhiệm chức vụ Tư lệnh Sư đoàn 22 Bộ binh thay thế Trung tá Nguyễn Văn Hiếu đi làm Tham mưu trưởng Quân đoàn II & Vùng 2 Chiến thuật. Ngày 1 tháng 11 cùng năm ông được thăng cấp Chuẩn tướng tại nhiệm.

Ngày 1 tháng 3 năm 1965, ông nhận lệnh bàn giao Sư đoàn 22 lại cho Đại tá Nguyễn Thanh Sằng[4] để về miền Đông Nam phần giữ chức vụ Tư lệnh phó Lãnh thổ Quân đoàn III và Vùng 3 Chiến thuật do Thiếu tướng Cao Văn Viên làm Tư lệnh. Tháng 1 năm 1968, ông được bổ nhiệm chức vụ Tư lệnh Sư đoàn 25 Bộ binh, hoán chuyển nhiệm vụ với Thiếu tướng Phan Trọng Chinh.[5] Ngày Quân lực 19 tháng 6 đầu tiên (năm 1965) ông được thăng cấp Thiếu tướng tại nhiệm. Đến ngày 1 tháng 7 năm 1971, ông được thăng cấp Trung tướng tại nhiệm.

Tháng giêng năm 1972, ông chính thức bàn giao Sư đoàn 25 lại cho Đại tá Lê Văn Tư.[6] Một tháng sau, ông được bổ nhiệm làm Chỉ huy trưởng Bộ chỉ huy Pháo binh Trung ương[7] thay thế Chuẩn tướng Phan Đình Soạn đi làm Tư lệnh phó Hành quân Quân đoàn I.

1975[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 30 tháng 4, ông cùng với gia đình di tản khỏi Việt Nam. Sau đó sang Mỹ định cư tại Hawthorn, California.

Ngày 8 tháng 4 năm 1998, ông từ trần tại nơi định cư. Hưởng thọ 69 tuổi.

Huy chương[sửa | sửa mã nguồn]

- Nhiều Huy chương Quân sự, Dân sự và Đồng minh.

Gia đình[sửa | sửa mã nguồn]

  • Phu nhân: Bà Âu Kim Ngọc - Ông bà có 6 người con gồm 2 trai, 4 gái.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Bảo quốc Huân chương đệ nhị đẳng.
  2. ^ Tốt nghiệp khóa 3 Trần Hưng Đạo, sau này lên tướng còn có:
    -Cấp Trung tướng:
    -Hoàng Xuân Lãm (SN 1928, sau cùng: Phụ tá Tổng trưởng Quốc phòng)
    -Lữ Lan (SN 1927, sau cùng: Chỉ huy trưởng trường Cao đẳng Quốc phòng)
    -Lâm Quang Thi (SN 1932, sau cùng: Tư lệnh phó Quân đoàn I và Quân khu 1)
    -Cấp Thiếu tướng:
    -Lâm Quang Thơ (SN 1931, sau cùng: Chỉ huy trưởng trường Võ bị Quốc gia Đà Lạt, là bào huynh của Trung tướng Lâm Quang Thi)
    -Cấp Chuẩn tướng:
    -Võ Dinh (SN 1929, sau cùng: Tham mưu trưởng Quân chủng Không quân)
    -Lý Bá Hỷ (SN 1923, sau cùng: Tư lệnh phó Biệt khu Thủ đô)
    -Nguyễn Ngọc Oánh (SN 1925, sau cùng: Chỉ huy trưởng Trung tâm Huấn luyện Không quân)
    -Nguyễn Văn Phước (SN 1926, sau cùng: Đại tá Phụ tá Tư lệnh Quân đoàn IV, năm 1971 tử nạn khi đang làm nhiệm vụ, được truy thăng Chuẩn tướng)
  3. ^ Nguyên Tư lệnh Sư đoàn 23 là Chuẩn tướng Hoàng Xuân Lãm được chuyển ra miền Trung đảm nhiệm Tư lệnh Sư đoàn 2 Bộ binh
  4. ^ Đại tá Sằng nguyên Tư lệnh Sư đoàn 25 Bộ binh, thuyên chuyển ra miền Trung thay tướng Thịnh
  5. ^ Tướng Chinh đang là Tư lệnh Sư đoàn 25 Bộ binh, được chỉ định làm Tư lệnh phó Quân đoàn III thay thế tướng Thịnh.
  6. ^ Đại tá nguyên Tỉnh trưởng kiêm Tiểu khu trưởng Tiểu khu Gia Định.
  7. ^ Thời điểm tướng Thịnh nhậm chức Chỉ huy trưởng Pháo binh, các sĩ quan Tham mưu của Bộ chỉ huy gồm có:
    -Chỉ huy phó: Đại tá Dương Thái Đồng (SN 1930 tại Lạng Sơn, Võ bị Đà Lạt K5)
    -Phụ tá Chỉ huy trưởng: Đại tá Phan Đình Tùng (SN 1933 tại Thừa Thiên, Võ bị Đà Lạt K5, là bào đệ của Thiếu tướng Phan Đình Niệm, Tư lệnh Sư đoàn 22 Bộ binh)

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Trần Ngọc Thống, Hồ Đắc Huân, Lê Đình Thụy (2011). Lược sử Quân lực Việt Nam Cộng hòa.