Phan Đình Niệm

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
PHAN ĐÌNH NIỆM
Tiểu sử
Sinh Tháng 6, 1931 (86 tuổi]]
Thừa Thiên, Việt Nam
Binh nghiệp
Phục vụ Flag of South Vietnam.svg Việt Nam Cộng hòa
Thuộc Flag of the South Vietnamese Army.jpg Quân lực VNCH
Năm tại ngũ 1951-1975
Cấp bậc US-O8 insignia.svg Thiếu tướng
Đơn vị ARVN 23rd Division Insignia.svg Sư đoàn 16 Khinh chiến
Cờ Thẳng tiến.png Sư đoàn 25 Bộ binh
ARVN 18 Division SSI.svg Sư đoàn 18 Bộ binh
Cờ Vì dân quyết chiến.png Huấn khu Dục Mỹ
ARVN 22nd Division Insignia.svg Sư đoàn 22 Bộ binh
Chỉ huy Flag of France.svg QĐ Liên hiệp Pháp
Flag of the Vietnamese National Army.svg Quân lực VNCH
Tham chiến Chiến tranh Việt Nam
Công việc khác Tỉnh trưởng

Phan Đình Niệm (1931), nguyên là một tướng lĩnh Bộ binh của Quân lực Việt Nam Cộng hòa, cấp bậc Thiếu tướng.[1] Ông xuất thân từ những khóa đầu tiên tại trường Võ bị Liên quân được Chính phủ Quốc gia mở ra tại nam Cao nguyên Trung phần dưới sự cố vấn và huấn luyện của Quân đội Pháp. Ra trường ông được chọn về đơn vị Bộ binh. Ông đã tuần tự giữ những chức vụ từ Trung đội trưởng cho đến Chỉ huy cấp Sư đoàn. Trong thời gian tại ngũ, ông còn được bổ nhiệm vào các chức vụ thuộc lĩnh vực Quân huấn[2] và Hành chính Quân sự[3]

Tiểu sử & Binh nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Ông sinh vào tháng 6 năm 1931 trong một gia đình trung lưu tại Thừa Thiên, miền Trung Việt Nam. Thời niên thiếu, ông học Tiểu và Trung học tại Huế. Năm 1950, ông tốt nghiệp Trung học Phổ thông chương trình Pháp tại Huế với văn bằng Tú tài bán phần (Part I).

Quân đội Liên hiệp Pháp[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 3 năm 1951, thi hành lệnh động viên, ông nhập ngũ vào Quân đội Liên hiệp Pháp, mang số quân: 51/201.530. Theo học khóa 4 Lý Thường Kiệt [4] tại trường Võ bị Liên quân Đà Lạt, khai giảng ngày 1 tháng 2 năm 1951. Ngày 1 tháng 12 cùng năm, mãn khóa tốt nghiệp với cấp bậc Thiếu úy hiện dịch. Ra trường, ông được điều động về Tiểu đoàn Bộ binh Việt Nam, giữ chức vụ Trung đội trưởng.

Quân đội Quốc gia Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1952, Quân đội Quốc gia Việt Nam thành lập Bộ Tổng Tham mưu, ông chuyển sang phục vụ Quân đội Quốc gia, được thăng cấp Trung úy giữ chức vụ Đại đội trưởng. Đến tháng 10 năm 1953, ông được thăng cấp Đại úy và được chỉ định làm Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 708 khinh quân.

Quân đội Việt Nam Cộng hòa[sửa | sửa mã nguồn]

Đầu năm 1956, sau 2 tháng chuyển sang phục vụ Quân đội Việt Nam Cộng hòa, ông được thăng cấp Thiếu tá và được cử giữ chức Trung đoàn trưởng Trung đoàn 47 thuộc Sư đoàn khinh chiến số 16[5] do Đại tá Phan Đình Thứ (tự Lam Sơn) làm Tư lệnh.

Tháng 11 năm 1963, sau cuộc đảo chính chế độ Đệ nhất Cộng hòa (ngày 1 tháng 11). Ngày 4 tháng 11, ông được thăng cấp Trung tá, giữ chức vụ Trung đoàn trưởng Trung đoàn 135 Địa phương, đồn trú tại Công trường Cò Mi, Thủ Đức.

Giữa năm 1965, ông thuyên chuyển về Sư đoàn 25 Bộ binh chức vụ Trung đoàn trưởng Trung đoàn 49 đóng tại Bến Lức, Long An. Ngày Quốc khánh Đệ Nhị Cộng hòa 1 tháng 11 cùng năm, ông được thăng cấp Đại tá tại nhiệm. Cuối năm 1966, ông được chuyển về Sư đoàn 10 Bộ binh[6] giữ chức vụ Phú Tư lệnh Sư đoàn do Đại tá Đỗ Kế Giai làm Tư lệnh.

Đầu năm 1971, ông được bổ nhiệm làm Chỉ huy trưởng Trung tâm Huấn luyện Quốc gia Lam Sơn kiêm Chỉ huy trưởng Huấn khu Dục Mỹ. Tháng Giêng năm 1972, ông được lệnh bàn giao Quân trường Lam Sơn và Huấn khu Dục Mỹ lại cho Chuẩn tướng Võ Văn Cảnh.[7] Cuối tháng, ông được bổ nhiệm chức vụ Tỉnh trưởng kiêm Tiểu khu trưởng tỉnh Quảng Đức. Tháng 4 cùng năm, ông được bổ nhiệm chức vụ Tư lệnh Sư đoàn 22 Bộ binh[8] thay cho Đại tá Lê Đức Đạt.[9] Ngày Quốc khánh 1 tháng 11 cùng năm, ông được thăng cấp Chuẩn tướng tại nhiệm.

1975[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 31 tháng 3, cùng với các quân nhân thuộc đơn vị di chuyển ra khơi và được Bệnh viện hạm Hát Giang HQ-400 cứu vớt, được điều trị bệnh trên tàu khi đang trên hải trình về Sài Gòn.

Ngày 24 tháng 4, ông được Tổng thống Trần Văn Hương thăng cấp Thiếu tướng đặc cách tại mặt trận.

Ngày 30 tháng 4, ông di tản ra khỏi Việt Nam. Sau đó, định cư tại Tiểu bang Virginia, Hoa Kỳ.

Gia đình[sửa | sửa mã nguồn]

  • Bào đệ: Ông Phan Đình Tùng (sinh năm 1933 tại Thừa Thiên. Tốt nghiệp Võ bị Đà Lạt K5. Nguyên là Đại tá Phụ tá Chỉ huy trưởng Bộ chỉ huy Binh chủng Pháo binh của Quân lực VNCH).

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Trong những ngày cuối cùng của Việt Nam Cộng hòa, ngoài tướng Phan Đình Niệm, còn 2 Chuẩn tướng nữa được thăng cấp Thiếu tướng:
    - Bùi Thế Lân (SN 1932, Võ khoa Thủ Đức K4, sau cùng: Tư lệnh Sư đoàn Thủy quân Lục chiến)
    - Lê Minh Đảo (SN 1933, Võ bị Đà Lạt K10, sau cùng: Tư lệnh Sư đoàn 18 Bộ binh)
  2. ^ Các trường Quân sự và các Trung tâm Huấn luyện, đào tạo sĩ quan, hạ sĩ quan và binh sĩ cho Quân đội
  3. ^ Tiểu khu chiến thuật cấp Tỉnh, hậu thân của Cơ quan Quân sự Tỉnh và Chi khu chiến thuật cấp Quận
  4. ^ Tốt nghiệp khóa 4 Lý Thường Kiệt Võ bị Đà Lạt, sau này lên tướng còn có:
    - Cấp Trung tướng:
    - Nguyễn Văn Minh (SN 1926, sau cùng: Tư lệnh Biệt khu Thủ đô)
    - Nguyễn Viết Thanh (SN 1931, sau cùng: Thiếu tướng Tư lệnh Quân đoàn IV, năm 1970 tử nạn trực thăng tại Kiến Tường, được truy thăng Trung tướng)
    - Cấp Thiếu tướng:
    - Đào Duy Ân (SN 1932, sau cùng: Tư lệnh phó Quân đoàn III)
    - Nguyễn Cao (SN 1925, sau cùng: Chánh Văn phòng Thủ tướng Nguyễn Khánh)
    - Cấp Chuẩn tướng:
    - Đỗ Kiến Nhiễu (SN 1931, sau cùng: Đô trưởng Sài Gòn)
  5. ^ Tiền thân của Sư đoàn 23 Bộ binh sau này
  6. ^ Sau cải danh thành Sư đoàn 18 Bộ binh
  7. ^ Nguyên Tư lệnh Sư đoàn 23 Bộ binh
  8. ^ Thời điểm tướng Niệm Tư lệnh Sư đoàn 22 Bộ binh, các sĩ quan cao cấp Chỉ huy và Tham mưu của Sư đoàn:
    - Tư lệnh phó: Đại tá Lều Thọ Cường (sinh năm 1930 tại Hà Nội. Tốt nghiệp Võ khoa Thủ Đức K1)
    - Tham mưu trưởng: Đại tá Vũ Đình Chung (sinh năm 1929 tại Hà Nội. Tốt nghiệp Võ bị Đà lạt K8)
    - Trung đoàn 40: Đại tá Phan Đình Hùng (sinh năm 1929. Tốt nghiệp Võ bị Đà Lạt)
    - Trung đoàn 41: Đại tá Nguyễn Thiều (sinh năm 1940 tại Tuy Hòa. Tốt nghiệp Võ bị Đà Lạt K16)
    - Trung đoàn 42: Đại tá Nguyễn Hữu Thông (sinh năm 1939 tại Quảng Trị. Tốt nghiệp Võ bị Đà Lạt K16)
    - Trung đoàn 47: Đại tá Lê Cầu (sinh năm 1944 tại Thừa Thiên. Tốt nghiệp Võ bị Đà lạt K18)
    - Pháo binh: Trung tá Lê Đình Ninh (sinh năm 1932. Tốt nghiệp Võ khoa Thủ Đức K4)
  9. ^ Tử trận tại Bộ Tư lệnh Sư đoàn ngày 24 tháng 4 năm 1972 ("Mùa hè đỏ lửa") tại phòng tuyến mặt trận Tân Cảnh, Dakto, Kontum. Được truy thăng Chuẩn tướng

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Trần Ngọc Thống, Hồ Đắc Huân, Lê Đình Thụy (2011). Lược sử Quân lực Việt Nam Cộng hòa.